Khóa luận tốt nghiệp kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích việt nam

  • Số trang: 53 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 89 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài 1. Văn học dân gian giữa một vai trò quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Đó là một trong những kho tàng lưu giữ những điều tinh túy nhất mà ông cha ta để lại. Trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc, truyện cổ tích là một trong những thể loại quan trọng trong các thể loại tự sự dân gian. Thể loại này nảy sinh và phát triển trên cơ sở cuộc sống muôn hình muôn vẻ của các dân tộc và là một trong những tấm gương trung thành nhất phản ánh cuộc sống đó. Bên cạnh đó nó còn là một thể loại hấp dẫn, mở ra trước mắt người đọc một “thế giới cổ tích với chất thơ bay bổng, với ước mơ lãng mạn, với sức cuốn hút kì diệu” [19, 30]. Truyện cổ tích có sức hấp dẫn mạnh mẽ và được lưu truyền rộng rãi từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, nó thu hút tất cả các đối tượng trong xã hội từ trẻ con đến người lớn, từ người mù chữ đến các học giả. Truyện cổ tích được xem là “Công trình đan dệt bằng nghệ thuật ngôn từ (…) những sợi tơ muôn màu của nó lan tỏa khắp bốn phương trời, phủ lên trí đất một tấm thảm ngôn ngữ đẹp lạ lùng”. [ 30, 170] Xuất phát từ lòng yêu thích, từ sự say mê khám phá, tiếp cận thế giới truyện cổ tích. Chúng tôi đã lựa chọn thể loại truyện này để nghiên cứu, tìm hiểu những nét đặc sắc của thể loại. Có thể nói, đến với truyện cổ tích con người tìm thấy ở đó tình yêu và khao khát vươn tới cuộc sống hạnh phúc với bao điều kì lạ mà thực tại không có. Không một bộ phận truyện dân gian nào có số lượng và thành phần nhân vật đông đảo, đa dạng và phức tạp như truyện cổ tích. Nếu như những vấn đề của hiện thực đời sống, những xung đột mâu thuẫn trong gia đình và xã hội được phản ánh tập trung trong các hình tượng nhân vật chính diện hay phản diện, thì những khao khát và lí tưởng xã hội, thẩm mĩ của nhân dân lại được thực hiện qua hình tượng nhân vật trung tâm của truyện cổ tích. Nói tới truyện cổ tích ta không thể không nói tới các kiểu nhân vật đặc trưng của thể loại này, trong đó phải kể đến kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kiểu truyện người mang lốt trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. 2. Kiểu truyện người mang lốt là một kiểu truyện đặc trong kho tàng truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam. Bên cạnh những kiểu truyện tiêu biểu như người dũng sĩ, người mồ côi, người em, người con riêng, những chàng trai khỏe… thì kiểu truyện người mang lốt, chiếm một số không nhỏ và nó còn góp 1 phần tạo nên vẻ độc đáo riêng trong toàn bộ nền văn học các dân tộc Việt Nam. Đây là một trong những lí do mà chúng tôi đi sâu tìm hiểu hình tượng nhân vật trung tâm của kiểu truyện này. 3. Kiểu nhân vật người mang lốt vật là một kiểu nhân vật đặc sắc trong truyện dân gian các dân tộc Việt Nam. Đây là hình tượng nhân vật trung tâm của kiểu truyện người mang lốt. Kiểu nhân vật này xuất hiện trong tác phẩm không phải dưới hình dạng một người bình thường mà ẩn thân dưới hình thức “lốt” của một con vật hay lốt của một vật kì dị nào đó (có thể là một cục thịt, một quả bí, bụng một con lợn…). Nhân vật chỉ mang hình dạng người sau khi đã vượt qua những thử thách khó khăn trong cuộc đời. Nhờ sự xuất hiện kì dị, sự biến đổi kỳ diệu từ lốt vật sang hình dạng con người bình thường của nhân vật mà mỗi câu chuyện cổ tích đã trở thành một bí ẩn đầy sáng tạo của tác giả dân gian, thể hiện một kiểu tư duy nghệ thuật mang đặc trưng cổ tích mà không phải ở kiểu nhân vật nào ta cũng có thể thấy rõ như ở kiểu nhân vật này. Đây chính là lý do cơ bản khiến chúng tôi lựa chọn kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam để nghiên cứu. 4. Xuất phát từ thực tiễn học tập học phần văn học dân gian trong chương trình đào tạo Đại học, chúng tôi nhận thấy phần truyện cổ tích chiếm một khối lượng không nhỏ so với các thể loại khác. Nó được đánh giá là thể loại phong phú nhất, có nhiều sáng tạo nhất của tác giả dân gian. Bản thân nó chứa đựng những tri thức dân gian và sự sáng tạo nghệ thuật của người lao động. Nhưng do thời lượng trên lớp bị giới hạn về thời gian nên chúng tôi không được tiếp cận sâu các kiểu truyện, kiểu nhân vật độc đáo trong thể loại. Đây chính là một trong những lý do khác nữa để chúng tôi quyết định lựa chọn một hình tượng nhân vật độc đáo trong thể loại truyện cổ tích để nghiên cứu thêm, tìm hiểu sâu hơn về giá trị của thể loại văn học dân gian này. II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Cho đến nay truyện cổ tích vẫn là một vương quốc rộng lớn, mênh mông và ẩn chứa nhiều điều bí ẩn cần được khám phá, chinh phục. Trong giới nghiên cứu văn học dân gian đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về truyện cổ tích. Trong đó có một số ý kiến quan tâm đến nhân vật người mang lốt vật, ở nhiều góc độ, nhiều phương diện khác nhau. Tác giả Chu Xuân Diên trong một công trình nghiên cứu về truyện cổ tích đưa ra ý kiến bàn về nguồn gốc của kiểu nhân vật người mang lốt vật. Ông viết: 2 “Loại truyện cổ tích thần kì cũng có những yếu tố cổ xưa có liên quan đến những quan niệm thần thoại và tín ngưỡng của con người thị tộc, bộ lạc. Thí dụ như mẫu đề: người bỏ lốt vật (trong các truyện Lấy chồng Dê, Lấy vợ Cóc)… có liên quan với quan niệm vạn vật hữu linh và tín ngưỡng vật tổ”. [12, 205] Đồng thời ông cũng đề cập đến nghệ thuật khắc họa nhân vật này một cách cụ thể: “Truyện cổ tích thần kì đã miêu tả những nhân vật bất hạnh ấy theo khuynh hướng lí tưởng hóa. Đó là những con người tuy ở vào những địa vị rẻ rúm trong gia đình và xã hội nhưng lại có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có tài năng, đôi khi có những tài năng phi thường. Đó là những con người vừa đẹp nết, lại vừa đẹp người, ở một số truyện (như truyện Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc...) tuy lúc đầu xấu xí, dị dạng, nhưng cuối cùng bao giờ cũng trở thành người đẹp tương xứng với tài năng và phẩm chất của mình”. [12, 205] Tác giả Lê Chí Quế trong tiểu luận “Truyện cổ tích” cũng đề cập tới nguồn gốc và sự xuất hiện đặc biệt của các nhân vật mang lốt trong truyện cổ tích: “Trong kho tàng truyện cổ tích thần kì Việt Nam, cũng như truyện cổ tích thế giới, loại truyện người đội lốt thú rất phổ biến… Các nhân vật này ra đời thường là do kết quả hôn phối giữa người mẹ trần thế với một lực lượng siêu hình”. [14, 126] Trong một bài viết khác, tác giả Lê Chí Quế lại đưa ra ý kiến về số phận, cuộc đời của nhân vật người mang lốt như sau: “Các nhân vật của truyện cổ tích thần kì. Sau khi thoát khỏi lốt thú các nhân vật trở thành con người trần thế có cái đẹp hài hòa cân đối giữa phẩm chất, tài năng với ngoại hình… Phải chăng đó là sự dự báo sớm của quá trình chuyển đổi từ kẻ quét lá đa với con Vua mà sau này nhân dân đã đối thoại trực tiếp với bọn thống trị” [14, 126]. Khi viết về kiểu nhân vật này trong truyện Chàng Cóc (Ka Dong), tác giả Lê Chí Quế đồng thời nhấn mạnh nguồn gốc thần thoại của nhân vật: “Các nhân vật này ra đời thường là do kết quả hôn phối giữa mẹ trần thế với lực lượng siêu hình. Chẳng hạn: “Chàng Cóc của người Ka Dong là con của Di Dật, con gái thứ ba uống nước trong tảng đá nên có chửa”. [14, 125] Tác giả Nguyễn Thị Huế trong “Nhân vật xấu xí mà có tài trong truyện cổ tích Việt Nam”. Đây là một công trình nghiên cứu theo khuynh hướng và với cấp độ khác về nhân vật mang lốt trong truyện cổ tích, tác giả đã khẳng định vẻ đẹp cũng như tính chất lý tưởng của kiểu nhân vật xấu xí. Trong đó có nói tới nhân vật người mang lốt vật như sau: “Nhân vật này thường mang một vẻ ngoài xấu xí, dị dạng như: con cóc, con rắn, con dê… nhưng bên trong lại có những tài năng đặc biệt hoặc có một tâm hồn đẹp, trong sáng, cao thượng. Quan niệm 3 thẩm mĩ và chủ đề nhân đạo được thể hiện rõ trong đề tài và nội dung của loại truyện này” [10, 218]. Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh: “Hệ thống đề tài truyện kể về nhân vật xấu xí, dị dạng này nói chung có nội dung thường là kể về nhân vật chính xấu xí (con cóc, con nhái, con trăn) ước mơ lấy được một cô gái con nhà giàu có, thuộc tầng lớp trên… Kết thúc truyện có hậu, vợ chồng đoàn tụ hạnh phúc, có khi nhân vật xấu xí được làm Vua, làm quan và giàu có (ngoại lệ cũng có trường hợp tình yêu tan vỡ)” [10, 218]. Cũng trong bài viết này tác giả đã nhấn mạnh đến tài năng, vật phù phép của nhân vật xấu xí, dị dạng: “Tài năng của nhân vật xấu xí, dị dạng thường là: hóa phép thành chàng trai có sức khỏe, trẻ, đẹp hoàn mĩ, nên đủ sính lễ cưới cũng như làm được những công việc thử thách khó khăn”. Như nhân vật: “Sọ Dừa đã hóa thành chàng trai đẹp, biết thổi sáo hay để chăn được đàn trâu lớn, lại chặt được củi, kiếm được nhiều dây mây, chặt tre… Lệnh Trừ (con cóc xấu xí) đã hóa phép lạ đánh thắng giặc, lại có tiên ông giúp, nên tìm được kiệu Công chúa trong 120 kiệu khác (truyện Lệnh Trừ). Chàng Ếch biết kéo nhị giỏi và đánh giặc giỏi như trong truyện Ếch lấy con Vua. Chàng Gù có bàn tay đổ đầy ba vựa thóc (truyện Chàng Gù). Chàng Chồn có áo lông khi rũ áo thì hóa phép rất nhiều quân lính để đánh giặc (truyện Chàng Chồn). Chàng Nhọ Nồi đã có chén cơm và con cá ăn mãi không hết trong (truyện Em bé Nhọ Nồi). Chàng Cóc đã hóa ra nhà cao cửa đẹp trong (truyện Chàng Cóc)… Các tài năng cùng những vật phù phép đã giúp cho nhân vật vượt qua thử thách khó khăn nhất của ông bố cũng như thử thách cao nhất lo đủ sính lễ để cưới cho được cô con gái xinh đẹp con phú ông hoặc con quan, con tướng, con Vua…”. [10, 211] Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan khi tìm hiểu về “Kiểu truyện người mang lốt vật trong truyện cổ tích truyện dân gian các dân tộc Việt Nam”, đã có kết luận về kiểu nhân vật này như sau: “Nhân vật mang lốt thể hiện quan niệm đạo đức… quan niệm thẩm mĩ của người Việt Nam” [9, 48-52]. Đồng thời tác giả cũng đưa ra ý kiến về cuộc đời, số phận của nhân vật này: “Tuy hoàn cảnh xuất thân khác nhau, nhưng các nhân vật này đều trải qua giai đoạn là con vật, nhân vật thường phải chịu sự đối xử bất công, ghẻ lạnh của cộng đồng, thậm chí của cả những người ruột thịt. Song cuộc đời đã đem lại cho số phận không may của họ một sự đền bù xứng đáng, đó là việc nhân vật mang lốt kết hôn với cô gái xinh đẹp, chàng trai nhân hậu”. [9, 78] Trên cơ sở khảo cứu những bài viết, những công trình nghiên cứu văn học dân gian có liên quan tới kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích, chúng tôi nhận thấy. Các ý kiến trên mới chỉ dừng ở mức độ khái lược khi giới thiệu, lúc phân tích về các kiểu nhân vật hay chỉ là khảo cứu thể loại cổ tích chứ 4 chưa đi sâu nghiên cứu về kiểu nhân vật này một cách cụ thể, hệ thống. Tác giả Nguyễn Thị Huế là người duy nhất đặt ra một cách có hệ thống về kiểu truyện người mang lốt, nhưng chúng tôi đang tìm hiểu và nghiên cứu theo một định hướng khác và ở một điểm nhìn khác. Tuy nhiên những kết quả nghiên cứu nói trên thực sự đã là nền tảng và là những kinh nghiệm quý báu giúp chúng tôi có định hướng chính xác hơn khi triển khai đề tài nghiên cứu của mình. III. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Trong đề tài khóa luận này, chúng tôi hướng tới đối tượng nghiên cứu là: kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tìm hiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các vấn đề sau: - Khảo sát tư liệu truyện kể xuất hiện kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. - Thống kê thông số cụ thể về kiểu nhân vật người mang lốt vật ở một số phương diện sau: tên nhân vật, đối tượng mang lốt, nguyên nhân mang lốt, các loại lốt, hình thức mang lốt. - Tìm hiểu đặc trưng cơ bản về phẩm chất, cuộc đời, số phận, của nhân vật mang lốt vật. 3. Phạm vi nghiên cứu Truyện cổ tích Việt Nam vô cùng phong phú và đặc sắc. Nhưng trong giới hạn đề tài khóa luận bậc cử nhân Đại học, chúng tôi chỉ tập trung vào tìm hiểu kiểu nhân vật mang lốt các con vật hoặc lốt vật kì dị, lốt người dị hình, dị dạng, chứ không đi sâu khảo cứu tất cả các dạng lốt của kiểu nhân vật này. 4. Phương pháp nghiên cứu Khi nghiên cứu vấn đề về kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, chúng tôi kết hợp các phương pháp cơ bản sau: - Phương pháp thống kê: sử dụng chủ yếu trong việc khảo cứu, thống kê, phân loại nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. - Phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong quá trình tìm hiểu đặc điểm, chức năng, vai trò của kiểu nhân vật người mang lốt vật. 5 - Cùng với các phương pháp trên, việc sử dụng phương pháp phân tích, hệ thống hóa đã giúp chúng tôi thấy được nét đặc sắc hấp dẫn của kiểu truyện người mang lốt trong hàng loạt các kiểu truyện khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. VI. Mục đích nghiên cứu Khi thực hiện khóa luận này, chúng tôi nhằm đạt tới mục đích: Tìm hiểu sâu về kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích Việt Nam. Chúng tôi mong muốn hướng tới một giả thuyết: đặt nền móng cơ sở để tiếp tục nghiên cứu kiểu nhân vật người mang lốt vật trong truyện cổ tích các dân tộc khác trên thế giới. V. Những đóng góp của khóa luận Hoàn thành khóa luận này, chúng tôi mong muốn góp phần vào thư viện nhà trường một tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn sinh viên có cùng niềm say mê văn chương hay yêu thích truyện cổ tích Việt Nam. VI. Cấu trúc đề tài Gồm 3 phần cơ bản: - PHẦN MỞ ĐẦU - PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TƯ LIỆU VỀ KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI MANG LỐT VẬT TRONG KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI MANG LỐT VẬT - PHẦN KẾT LUẬN 6 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Những vấn đề lí luận 1.1.1. Khái niệm “Truyện cổ tích” “Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hoàn thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính chất phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình xã hội. Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là “tưởng tượng và hư cấu cổ tích”), kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và ước mơ của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nước ta chủ yếu là xã hội phong kiến)”. [14, 42] Là thể loại ra đời vào thời kỳ công xã nguyên thủy tan rã, hình thành gia đình phụ quyền và giai cấp trong xã hội, nên truyện cổ tích hướng vào đối tượng phản ánh chính là những vấn đề xã hội có liên quan đến con người trong xã hội có giai cấp. Đó là mối quan hệ mâu thuẫn giữa con người và con người mang tính chất riêng tư phổ biến trong xã hội đó. Ngoài ra truyện cổ tích còn phản ánh cả những ước mơ và khát vọng của nhân dân lao động về một xã hội công bằng, dân chủ, một xã hội chỉ có sự yêu thương giữa con người với con người, không có sự thù hận, đố kị hay ganh ghét. Trong xã hội đó con người ta sống bình đẳng với nhau trong sự đầy đủ về vật chất, hạnh phúc về tinh thần. Đồng thời truyện cổ tích cũng phản ánh cả truyền thống đạo lý của dân tộc, triết lý nhân sinh theo quan điểm của nhân dân lao động. Sống lạc quan yêu đời, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chính là cốt lõi của triết lý nhân sinh và đạo lý làm người của người Việt được tác giả dân gian phản ánh đầy đủ trong các câu chuyện cổ tích. Truyện cổ tích không phản ánh đời sống xã hội bằng trí tưởng tượng mang tính chất hoang đường huyền thoại như thần thoại, cũng không lý tưởng hóa hiện thực xã hội, mà sử dụng lối hư cấu cổ tích riêng. Phản ánh hiện thực xã hội một cách độc đáo, tạo nên một thế giới cổ tích vừa hoang đường kỳ ảo, vừa gần với thực tại, trong đó có sự biến hóa kỳ diệu của con người như chết đi sống lại nhiều lần hoặc tái sinh trong kiếp cỏ cây, hoa lá, kiếp con vật đồ vật, rồi trút lốt thành người… hình thành nên những mô típ nghệ thuật độc đáo, mô típ người mang lốt vật, mô típ hóa thân từ người sang vật… hoặc kiểu truyện đặc sắc như (kiểu nhân vật xấu xí mà có tài, kiểu truyện người mang lốt…) 1.1.2. Khái niệm “kiểu truyện”, “kiểu nhân vật” 7 “Kiểu truyện là tập hợp những truyện kể có mô típ cùng loại hình. Trong một kiểu truyện có nhiều mô típ nhưng không nhất thiết mỗi truyện trong một kiểu tuyện đó phải có đầy đủ cả mô típ đó nói chung” [15, 24]. Có thể thấy có tương đối nhiều kiểu truyện khác nhau như: kiểu truyện người “mồ côi”, “con riêng”, “dũng sĩ”, không thể không nhắc đến một kiểu truyện khá quan trọng đó chính là kiểu truyện người mang lốt. “Kiểu truyện người mang lốt là tập hợp những truyện kể về số phận của những con người không có hình dạng hoàn chỉnh, do nhiều nguyên nhân phải mang lốt các con vật… là các con vật gần gũi quen thuộc trong đời sống con người, chúng được các nghệ sĩ dân gian mượn làm cái lốt, rồi trút lốt thành người đã bộc lộ rõ quan niệm đạo đức cũng như quan niệm của nhân dân lao động”. [9, 42] “Kiểu nhân vật là thuật ngữ dùng để gọi những nhân vật đồng dạng. Những nhân vật này có những nét tương đồng căn bản về tính cách, hành động và số phận, thường xuất hiện trong những câu truyện cổ tích thần kỳ có cốt truyện đại thể giống nhau”. [12, 13] Trong mỗi tiểu loại cổ tích có những kiểu nhân vật đặc trưng riêng. Trong truyện cổ tích thần kỳ, xuất hiện một số kiểu nhân vật điển hình sau: Kiểu nhân vật người “con riêng” như Tấm (Tấm Cám); kiểu nhân vật người em, (Cây Khế, Hà Rầm Hà Rạc)… kiểu nhân vật người “mồ côi” Thạch Sanh (Thạch Sanh), Chử Đồng Tử (Sự tích đầm nhất Dạ và bãi Tự Nhiên)… kiểu nhân vật người “đi ở” trong (Cây tre trăm đốt)…; kiểu nhân vật người “dũng sĩ”, kiểu nhân vật người “có tài lạ”, kiểu nhân vật người “mang lốt vật” như: Sọ Dừa (Truyện Sọ Dừa), chàng Dê (Lấy chồng Dê), nàng Cóc (Lấy vợ Cóc). Về tính cách họ đều mang trong mình những phẩm chất đạo đức tiêu biểu cho quan niệm về con người của nhân dân lao động (hiền lành, tốt bụng, trung thực, tài năng…) về số phận họ đều trải qua những diễn biến khá giống nhau và họ trở thành đại diện chung cho một nhóm, lớp người nào đó trong xã hội. Trong truyện cổ tích thế sự cũng có những kiểu nhân vật riêng biểu hiện một cách nhìn khác về cuộc đời của tác giả dân gian. Kiểu nhân vật “đức hạnh”, kiểu nhân vật “xấu xa”, kiểu nhân vật “mưu trí”, kiểu nhân vật “khờ khạo”, “ngốc nghếch”… các kiểu nhân vật trong truyện cổ tích thế sự thể hiện một cách nhìn hiện thực về con người và thực tại xã hội của tác giả dân gian. Trong truyện cổ tích ngoài hệ thống những nhân vật chính nói trên, chúng 8 ta không thể không nhắc đến một kiểu nhân vật chính nữa cũng đã thể hiện được ước mơ, khát vọng và lí tưởng thẩm mĩ, quan niệm nhân sinh của người lao động. Đó chính là kiểu nhân vật người mang lốt vật trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Kiểu nhân vật người mang lốt vật là những nhân vật ban đầu không mang hình hài con người bình thường, hoàn thiện mà mang hình hài các con vật hoặc một lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng nào đó, có cuộc đời, số phận gặp nhiều bất hạnh, nhân vật này luôn phải trải qua nhiều khó khăn thử thách. Nhưng sau khi trút lốt thường trở thành những con người đẹp đẽ, hoàn thiện, hoàn mỹ cân đối về ngoại hình và tài năng. Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, đây là kiểu nhân vật xuất hiện khá phổ biến trong truyện cổ tích thần kỳ. Kiểu nhân vật này xuất hiện mang cảm quan thẩm mĩ đầy nhân văn của nhân dân lao động, gắn liền với lối tư duy hoang đường kỳ ảo đầy sáng tạo của tác giả dân gian, bộc lộ rõ quan điểm đạo đức và quan điểm nhân sinh của nhân dân lao động 1.1.3. Khái quát chung về kiểu truyện người mang lốt 1.1.3.1. Nguồn gốc của kiểu truyện Theo kết quả của các nhà nghiên cứu thì kiểu truyện người mang lốt hình thành trên cơ sở hai nguồn gốc chính: Thứ hất: “kiểu truyện này có nguồn cội từ thần thoại, các nhân vật dị dạng, đội lốt thú chuyển hóa thành nhân vật của truyện cổ tích thần kì. Sau khi thoát khỏi lốt thú các nhân vật này trở thành con người trần thế có cái đẹp hài hòa, cân đối giữa phẩm chất, tài năng với ngoại hình”. [9, 9] Thứ hai: kiểu truyện này “ít nhiều có liên quan tới tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của con người cổ xưa. Cụ thể là từ tín ngưỡng tô tem vật tổ thời nguyên thủy (sùng bái loài vật) mà nay không còn giữa nguyên ý nghĩa dân tộc học của nó nữa…”. [9, 10] Dù bắt nguồn từ cội nguồn nào đi chăng nữa thì kiểu truyện người mang lốt đều là kết quả của sự sáng tạo tài tình song không kém phần táo bạo của tác giả dân gian. Sự nhìn nhận mơ hồ về vạn vật với trí tưởng tượng bay bổng của người xưa, đã dẫn dắt nhân vật có thể biến hóa từ người sang vật và ngược lại hay nhân vật là người mang lốt các con vật, lốt vật kì dị, cũng có khi người dị hình, dị dạng. Chính tính chất ly kỳ đã tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của kiểu truyện người mang lốt, bên cạnh đó nó còn góp phần làm nên nét đặc sắc cho thể loại cổ tích với sức sống bề vững cho những câu chuyện trong kiểu truyện. 9 1.1.3.2. Tên truyện Tên các câu chuyện trong kiểu truyện người mang lốt thường có mối quan hệ mật thiết với những vật hoặc con vật mà nhân vật mang lốt. Cách đặt tên truyện thường gặp trong kiểu truyện này như sau: - Lấy tên của hình hài lốt mà nhân vật phải mang để đặt tên truyện: Chàng Rết (Ba Na), Chàng Ngốc (Vân Kiều), Sọ Dừa (Việt)… - Lấy tên sự việc chủ yếu mà nhân vật chính thực hiện: Lấy chồng Dê, Người lấy Cóc (Việt), Người lấy rắn (X Đăng), Chàng Cóc lấy vợ tiên (Lê Lê), Cô gái lấy chồng Trăn (Tày)… - Tên truyện là chức vị cao nhất mang tính chất lý tưởng mà nhân vật chính đạt được: Phò mã Sọ Dừa (Chăm), Vua Ếch (Hmông), Chàng Ếch làm Vua (Hmông)… - Tên truyện là tên gọi quan hệ của nhân vật chính với các nhân vật khác trong truyện: Hoàng tử với cô vợ xấu xí (Tày- Nùng), Người chị độc ác (Hmông), Chàng Chồn và nàng Hơ Lúi (Ba Na)… Như vậy, tên các câu chuyện trong kiểu truyện người mang lốt dù lấy tên từ cái hình hài lốt mà nhân vật phải mang hoặc tên một sự việc quan trọng mà nhân vật chính thực hiện, cũng có khi là chức vị cao nhất mà nhân vật mang lốt đạt được hay một cái tên nào có mối quan hệ với nhân vật chính, dù lấy tên truyện là gì đi chăng nữa thì những cái tên này đều có chức năng tô đậm đặc điểm của nhân vật mang lốt cũng như nội dung tác phẩm, gia tăng ý nghĩa xã hội của truyện để gây ấn tượng sâu sắc cho người nghe. 1.1.3.3. Những mô típ chính trong kiểu truyện * Mô típ về sự hôn phối kì lạ, bất ngờ giữa con người với thần linh: Mô típ này xuất hiện với ý nghĩa biểu đạt nguồn cội xuất thân của nhân vật mang lốt và lý giải tài năng của nhân vật. Chàng rể Cóc (Vân Kiều), Chàng Cóc con (Vân Kiều) … * Mô típ mang lốt: Đây là mô típ đóng vai trò quan trọng nhất trong kiểu truyện, nó xuyên suốt kiểu truyện. Nghĩa là tất cả các câu chuyện đều xuất hiện nhân vật mang lốt. Hình thức lốt mà các nhân vật chính phải mang thường gặp khá phong phú và đa dạng. Nhân vật có thể mang lốt một cục thịt hay một bọc thịt như nhân vật Sọ Dừa trong truyện Truyện Sọ Dừa (Việt) đã mang lốt một cục thịt… Cũng có khi nhân vật lại mang lốt các con vật như nhân vật chàng Rùa trong truyện 10 Chàng Rùa (Thái) đã mang lốt một con rùa hay trong truyện Chàng Cóc (Ka Dong) nhân vật đã mang lốt một con cóc… Bên cạnh đó còn có nhân vật mang lốt người dị hình, dị dạng như: ghẻ lở, dị dạng khác thường. Chẳng hạn, nhân vật chàng Lút trong truyện Chuyện chàng Lút (Xrê) mang lốt ghẻ lở, lốt dị dạng; nhân vật nàng OBù trong truyện Cái dây lưng (Việt)… Trong các hình thức lốt nói trên, hình thức lốt phổ biến, tiêu biểu nhất là lốt các con vật. Vì thế nói tới hệ thống tư liệu truyện kể về nhân vật mang lốt chủ yếu liên quan tới kiểu nhân vật mang lốt các con vật. Tất cả các hình thức nói trên đều thể hiện trạng thái xấu xí, dị dạng ban đầu của nhân vật, làm nên đặc điểm khác biệt của kiểu nhân vật trong kiểu truyện người mang lốt . * Mô típ trút lốt: Đây là mô típ có ý nghĩa quan trong trong kiểu truyện mang lốt. Nhân vật dù xuất hiện mang lốt xấu xí, dị dạng, kì dị, đồ vật hay con vật thì đều có sự trút lốt để trở thành người đẹp đẽ: Nàng Kháy (Mường), Người vợ chim (Hmông), Nàng ngón út (Chàm)… * Mô típ thử thách: Đây là mô típ khá phổ biến và xuất hiện trong hầu hết các câu truyện cổ tích thuộc kiểu truyện này. Sự thử thách đối với nhân vật biểu hiện dưới nhiều hình thức, nhiều cấp độ và trong mối quan hệ của nhân vật. Bao gồm những loại thử thách cơ bản: + Thử thách về khả năng làm việc như nhân vật chàng Ếch trong truyện Chàng Ếch và nàng Công chúa út (Cơ Ho) hay nhân vật Thánh Chồn trong truyện Chàng Chồn (Thái)… + Thử thách về sức khỏe, chẳng hạn như nhân vật Ếch trong truyện Vua Ếch (Hmông) hay nhân vật Lùn trong truyện Chàng Lùn (Dao)… + Thử thách về sự khéo léo như nhân vật nàng Khỉ trong truyện Hoàng tử với cô vợ xấu xí (Nùng) hay nàng Cóc trong truyện Người lấy Cóc, Lấy vợ Cóc (Việt)… + Thử thách trong đánh trận như: nhân vật chàng Cóc trong Tướng Cóc ra trận (Pú Péo) hay nhân vật Lệnh Trừ trong câu chuyện cùng tên của dân tộc Tày… + Thử thách về sính lễ quý hiếm, chẳng hạn như nhân vật chàng Rùa trong Chàng Rùa (Hmông), hay chàng Ếch trong câu chuyện Chàng Ếch làm vua 11 (Hmông) … Các thử thách đặt ra với nhân vật mang lốt là một cách để nhân vật bộc lộ tài năng và khả năng vượt qua khó khăn tiến đến cái đích của sự hạnh phúc. * Mô típ kết hôn (hôn nhân) và trút lốt: Trong kiểu truyện này, mô típ hôn nhân mang ý nghĩa quà tặng thưởng, một kết quả ở đỉnh cao khi nhân vật vượt qua thử thách. Tính chất ban thưởng này tạo nên kết thúc có hậu, thay đổi số phận, địa vị của nhân vật, thể hiện khát vọng về một lý tưởng xã hội của nhân dân lao động. Biểu hiện cụ thể của mô típ này trong kiểu truyện thường xuất hiện dưới hai dạng thức sau: Nhân vật mang lốt trút lốt sau khi kết hôn trở thành người đẹp đẽ hoặc là nhân vật mang lốt trút lốt trở thành người đẹp đẽ trước khi kết hôn. 1.1.3.4. Kết cấu cốt truyện Kết cấu cốt truyện của kiểu truyện người mang lốt được cấu tạo như mọi câu chuyện cổ tích khác, đó là sự đan dệt của hàng loạt những mô típ nghệ thuật khác nhau thành một hệ thống. Cốt truyện thuộc kiểu truyện này là sự hội tụ đan cài của các mô típ nghệ thuật tiêu biểu sau: (mô típ hôn phối kì lạ, mô típ hôn nhân, mô típ thử thách, mô típ mang lốt, mô típ trút lốt). Kết cấu cốt truyện cơ bản của kiểu truyện này có thể tóm tắt như sau: Nhân vật mang lốt sinh ra là kết quả của cuộc hôn phối kì lạ, bất thường giữa người với thần linh, mang đặc điểm dị dạng, dị hình (mang vẻ ngoài xấu xí có thể là cục thịt, ghẻ lở, gù… hoặc mang lốt các con vật có thể là con ếch, con cóc, con dê…). Nhân vật biết nói tiếng người, bị cộng đồng xa lánh, cười chê, xua đuổi. Trải qua nhiều thử thách, chịu dựng nhiều đau khổ. Nhờ thần linh trợ giúp, nhờ tài năng kì lạ mà lấy được vợ hoặc chồng, sống hạnh phúc, giàu sang. Sau khi kết hôn thường trút lốt vĩnh viễn làm người đẹp đẽ hoàn thiện. Kết cấu cốt truyện của kiểu truyện người mang lốt có thể mô hình hóa dưới dạng cấu trúc 3 phần như sau: Phần I (Mở đầu) : Sự ra đời, xuất hiện thần kì, khác lạ của nhân vật mang lốt. Phần II (Diễn biến cốt truyện): Cuộc phiêu lưu của nhân vật mang lốt trong cuộc sống, cả trong hôn nhân theo hành trình như sau: 1. Ra đi: - Rời nhà đi nơi xa (thuê nhà). - Bước vào tình huống, hoàn cảnh khác thường (gây ra trở ngại cho một ai đó bố hoặc mẹ của người có con mà nhân vật mang lốt muốn lấy làm vợ…). 2. Gặp thử thách, lực lượng thù địch. 12 - Có nhân vật thì có sự trợ giúp của lực lượng thần kì như (Thần tiên, Bụt). - Có nhân vật chiến thắng bằng tài năng của mình. Phần kết III (Kết thúc): Nhân vật mang lốt được đổi đời thay đổi số phận trút lốt trở thành người đẹp đẽ, có cuộc sống hạnh phúc, ấm no, đổi đời. Cá biệt có truyện, nhân vật vĩnh viễn mang lốt vật không trút lốt làm người hoặc nhân vật đã có lần trút lốt thành người, nhưng sau một thời gian lại quay về lốt cũ hoặc một lốt vật nào khác. Kiểu truyện người mang lốt xuất hiện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam mang lại sự phong phú, đa dạng về kiểu truyện, kiểu nhân vật trong thể loại này. Vượt nên ý nghĩa thông thường của những kiểu truyện cổ tích khác, kiểu truyện này có một ý nghĩa nhân văn cao cả. Khắc họa những số phận, cuộc đời của một hay nhiều nỗi bất hạnh, chịu nhiều khổ đau mọi bề cả về tinh thần và vật chất. Nhưng đã vượt qua cảnh ngộ éo le, bi kịch ấy mà vươn lên khẳng định tài năng, vẻ đẹp tâm hồn đức hạnh của mình. Sự hư cấu truyện mang màu sắc cổ tích để cho nhân vật mang lốt xấu xí rồi trút lốt thành những con người đẹp, tài giỏi đã thể hiện khát vọng sống lạc quan và chủ nghĩa nhân đạo của người dân lao động, thể hiện ước mơ về một cuộc sống dân chủ, công bằng trong cuộc sống thực tại đầy bất công và đau khổ của chính họ. Tiểu kết: Truyện cổ tích là loại truyện xuất hiện từ rất xưa, chủ yếu do các tầng lớp bình dân sáng tác. Truyện cổ tích ru ngủ con người bằng những giấc mơ, nó nâng đỡ mọi ước mơ, khát vọng của con người, qua cổ tích con người gửi gắm những ước mơ cháy bỏng của mình. Đồng thời gieo vào tâm hồn mỗi con người niềm tin vào cái đẹp, cái thiện, đưa con người về với bản chất lương thiện. Qua đó truyện cổ tích còn thể hiện triết lí sống và đạo lí làm người của nhân dân lao động, hướng con người tới cái đẹp chân, thiện, mỹ. Tất cả các nhân vật, sự vật, không gian, thời gian… trong truyện cổ tích đều được sáng tạo để thể hiện quan niệm đó về thế giới của các dân tộc. Kiểu nhân vật người mang lốt vật xuất hiện trong thế giới truyện cổ tích Việt Nam không nhiều như các kiểu nhân vật khác và không phải truyện cổ tích nào cũng có sự xuất hiện kiểu nhân vật này. Nhưng kiểu nhân vật này lại chỉ xuất hiện ở kiểu truyện đặc sắc trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Sự hiện diện của kiểu nhân vật người mang lốt vật đã góp phần không nhỏ tạo nên vẻ đẹp độc đáo riêng trong toàn bộ nền văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng. 13 CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT TƯ LIỆU VỀ KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI MANG LỐT VẬT TRONG KHO TÀNG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM 2.1. Tư liệu truyện kể xuất hiện kiểu nhân vật người mang lốt vật Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, bao gồm truyện cổ tích các dân tộc Việt (kinh) và một số các dân tộc thiểu số khác như: Tây Nguyên, Thái, Dao, Hmông, Chàm… để tìm hiểu về sự xuất hiện của các nhân vật người mang lốt vật. Chúng tôi đã thống kê được 70/486 truyện cổ tích trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam xuất hiện nhân vật người mang lốt vật. Con số này cho thấy: Đây là kiểu nhân vật khá phổ biến, xuất hiện ở hầu hết truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam, nhưng xuất hiện nhiều nhất trong hệ thống truyện cổ tích thần kỳ; ít xuất hiện trong truyện cổ tích thế sự có nhưng không đáng kể; trong truyện cổ tích loài vật không xuất hiện kiểu nhân vật này. Vì vậy, có thể khẳng định: nhân vật người mang lốt vật là kiểu nhân vật đặc trưng của truyện cổ tích thần kỳ. Tuy nhiên không phải truyện cổ tích thần kỳ nào cũng xuất hiện kiểu nhân vật này. Kiểu nhân vật này chỉ xuất hiện trong tập hợp những truyện cổ tích nằm trong cùng hệ thống, đó là tập hợp những truyện thuộc kiểu truyện người mang lốt với tư cách là hình tượng nhân vật trung tâm của kiểu truyện. Kết quả thu được chúng tôi thống kê cụ thể ở phần phụ lục. [Bảng thống kê] 2.2. Đối tượng mang lốt Đối tượng mang lốt chủ yếu là những người nghèo khổ, bất hạnh trong xã hội. Bao gồm các đối tượng cụ thể: Nhân vật mồ côi, nhân vật người con riêng, người em, người đi ở… mỗi nhân vật có một cuộc đời riêng, số phận riêng xong có những đặc điểm chung đồng dạng là nhân vật mang lốt vật. Những nhân vật là người nghèo khổ là người đi ở, người mồ côi như Sọ Dừa (Truyện Sọ Dừa - Việt) để có cái ăn đã phải đi ở cho phú ông, không những thế Sọ Dừa phải sống trong cảnh leo người “mẹ góa con côi”, phải đi ở cho nhà Pơ toa; Chàng Cóc trong truyện Chàng Cóc (Ka Dong) để có tiền nuôi mẹ đã đi chăn trâu thuê cho chủ làng… Bên cạnh nhân vật nghèo khổ phải đi ở để có cái ăn sống qua ngày thì cũng có nhân vật nghèo khổ phải tự mình làm việc kiếm sống như: nhân vật chàng Rùa (Chàng Rùa - Thái) cũng phải vào rừng lấy củi, phát nương rẫy để kiếm sống hay nhân vật Ếch (Vua Ếch - Hmông) tự kiếm sống bằng nghề phát nương rẫy và trồng trọt… Bên cạnh đó còn có đối tượng mang lốt là những người vợ bất hạnh: Nhân 14 vật người vợ do bị chồng phản bội, ruồng bỏ như: nhân vật con Cá trong truyện Vợ Cá (Giáy); nhân vật nàng Vỏ Trứng trong truyện Nàng Vỏ Trứng (Mường)… Cũng có khi là nhân vật người chồng bị khinh miệt bởi mang hình dạng của các con vật hay lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng đi hỏi vợ như: nhân vật chàng Rắn trong truyện Chàng Rắn (Gia Rai) do mang lốt một con rắn nên bị con gái cả của Mơ tao khinh ghét, hắt hỉu; nhân vật chồng Trăn trong Cô gái lấy chồng Trăn (Xơ Đăng) hay nhân vật Sọ Dừa trong Phò mã Sọ Dừa (Chàm) có thân hình như một quả dừa; nhân vật Bí (Vợ chồng Bí- Hmông)… Có tương đối nhiều nhân vật mang lốt bất hạnh là người em (út) như: nhân vật nàng Chim Hoa con gái út của Sao, trong một lần cùng các chị xuống ao trần tắm, bị anh mồ côi lấy mất bộ cánh nên không bay về Trời được buộc phải lấy anh mồ côi (Người vợ Chim- Hmông); nhân vật nàng Lòa là em út trong một gia đình có hai người con, từ khi cha mẹ mất Lòa phải sống với anh trai và người chị dâu độc ác không muốn nuôi Lòa nên đã tìm cách hại chết (Nàng Lòa, con ngựa mù và chàng thong manh- Hmông)… cũng có đối tượng mang lốt là những nhân vật mồ côi không cha, không mẹ, không có họ hàng thân thiết thì phải kể đến nhân vật rể Khỉ từ khi cha mẹ qua đời Khỉ phải tự thân làm việc để kiếm sống bằng nghề phát nương, trồng trọt (Chàng rể Khỉ - Ê đê); hay nhân vật OBù (Cái dây lưng - Việt); nhân vật Lút (Chuyện chàng Lút - Xrê)… Qua khảo sát chúng tôi thấy, tần số xuất hiện của các dạng lốt này không đồng đều. Đối tượng mang lốt là người nghèo khổ chiếm số lượng nhiều hơn cả, sau đó phải kể tới đối tượng mang lốt là người đi ở. Mặc dù không bằng đối tượng mang lốt là người đi ở, nhưng đối tượng mang lốt là người mồ côi cũng chiếm số lượng ở mức trung bình và chiếm số lượng thấp nhất phải nói tới đối tượng mang lốt là người em út. 2.3. Giới tính của nhân vật mang lốt Khảo sát kiểu nhân vật người mang lốt vật ở phương diện giới tính chúng tôi thấy rằng: Trong kiểu nhân vật người mang lốt vật nhân vật mang lốt vật chủ yếu là nam giới, nhân vật mang lốt là nữ giới có xuất hiện nhưng ít hơn so với nhân vật mang lốt là nam giới. Trong tổng số 70 truyện xuất hiện kiểu nhân vật người mang lốt vật, đã có tới 47/70 truyện xuất hiện nhân vật nhân vật mang lốt là nam giới, chỉ có 23/70 truyện xuất hiện nhân vật mang lốt là nữ giới. Các nhân vật mang lốt là nam giới chủ yếu xuất hiện ở các truyện cổ tích 15 về nhân vật mang lốt các con vật: cóc, rắn, rùa, ếch, trăn, chồn… như nhân vật: chàng Rùa (Chàng Rùa - Hmông), con Cóc (Cóc Trời - Cơ Ho), chàng Chồn (Chàng Chồn - Thái), chàng Rắn (Chàng Rắn - Gia Rai)… Các nhân vật nam giới, để đi đến mục đích cuối cùng là lấy vợ trút lốt, thường phải trải qua nhiều biến cố, thử thách khó khăn. Tuy mang cái lốt xấu xí của các con vật hay vật kì dị, người dị hình, dị dạng, nhưng nhân vật mang lốt thường kết hôn với những cô gái xinh đẹp, nhân hậu. Đó là những người con út, em út trong gia đình, có nhan sắc và có tấm lòng nhân ái hơn người, hoặc là những cô gái con nhà quyền thế đã tự nguyện lấy một người chồng là con vật xấu xí hay vật dị hình, dị dạng tầm thường. Nếu như dáng vẻ bên ngoài của nhân vật mang lốt làm cho mọi người sợ hãi và khinh miệt thì đối với những người con gái ấy, điều đó chỉ đem lại sự thông cảm lớn lao. Một cô gái trước khi theo chồng là rùa trở về nhà, đã được bố bày cho cách giết rùa. Không theo lời bố dặn, cô gái trở về nhà sống yên ổn cùng chồng dưới túp lều dột nát (Chàng RùaHmông); hay nhân vật cô gái trong truyện Con Dê Vàng (Chil - CơH) mặc dù Dê Vàng bị dân làng ghét bỏ và tìm cách đuổi đi nhưng chỉ có duy nhất một cô gái thương yêu Dê, nên đã tự nguyện chăm sóc và đồng ý lấy Dê làm chồng. Trong cái lốt kì dị, dị dạng, những chàng trai mang lốt thường bộc lộ tài năng phi thường hay tình cảm đạo đức cao cả, nó khiến cho các cô gái quan tâm, khâm phục hay cảm động, dẫn đến chỗ cảm thông yêu mến. Khi nhân vật trút lốt bao giờ cũng trở thành những chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Họ xuất hiện là điều vô cùng bất ngờ cho người vợ của họ. Việc trút lốt của nhân vật nam mang lốt vật khá đa dạng, nhưng chủ yếu thông qua một vài hình thức như: người vợ tình cờ phát hiện ra cái lốt của chồng mình liền đem giấu, đem đốt hoặc băm đi như: chàng Lợn trong truyện Chàng Lợn (Gia Rai); con Cóc trong câu chuyện Cóc Trời (Cơ-Ho). Hay là do một lần hai vợ chồng rủ nhau ra suối tắm, nhân vật liền trút lốt thành một chàng trai đẹp đẽ, như: nhân vật Lút (Chuyện chàng Lút Xrê)… Việc trút lốt của nhân vật đã làm cho người vợ của họ vui sướng, hạnh phúc vô biên. Đó như là một sự đền bù xứng đáng cho những người con gái xinh đẹp, giàu đức hi sinh: cô Út trong truyện Hoàng tử Rắn (Cao Lan) vì để cứu cha nên đã đồng ý lấy Rắn làm chồng, mặc dù hai cô chị ra sức chê bai, khinh ghét Rắn. Sau khi kết hôn Rắn đưa cô Út về cung điện của mình sống một cuộc sống giàu sang, hạnh phúc; nhân vật Hbia Lúi vì thương mẹ nên đã đồng ý lấy Rắn làm chồng, nhưng đêm tân hôn Rắn đã trút bỏ lốt bên ngoài biến thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú sống đầm ấm, hạnh phúc bên vợ (Chàng Rắn - Gia Rai)… Các nhân vật mang lốt là nữ giới thường ẩn mình dưới hình hài các con vật 16 giống các con vật là nam giới, cũng có khi là những vật nhỏ bé bình thường: quả trứng, con ốc, con cá hoặc một loài chim nào đó như trong truyện: Người vợ Cá (Hmông), Lấy vợ Cóc (Việt), Nàng Vỏ Trứng (Mường), Nàng Chim Hoa (Hmông)… Các nhân vật nữ giới mang lốt vật, khi ẩn mình sau những lốt con vật hay lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng cũng bộc lộ nhưng phẩm chất đáng quý, thường gắn với những công việc nội trợ hay giúp những chàng trai nghèo, mồ côi làm việc nhà, trồng trọt. Nhờ đó mà đã chiếm được tình cảm ở các chàng trai này như: may vá, thêu thùa, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, nấu cơm canh ngon, dệt vải khéo đẹp không ai có thể sánh kịp. Sau một thời gian mang lốt các cô gái này thường trải qua nhiều biến cố, thử thách. Nhưng cuối cùng đều trút lốt trước khi kết hôn hoặc cá biệt có nhân vật kết hôn xong mới trút lốt: nhân vật Nàng Kháy trong truyện Nàng Kháy (Tày) đã mang lốt một quả trứng lạ được chàng Hoa Long nhặt đem về nhà, sau một thời gian lén lút trút lốt thành cô gái xinh đẹp, làm việc nhà giúp Hoa Long thì bị phát hiện nên đã vĩnh viễn trút bỏ lốt quả trứng và kết hôn với Hoa Long sống cuộc hạnh phúc, đầm ấm hay nhân vật Chim Sơn Ca đã mượn lốt con chim sơn ca nhỏ bé bị thương, được anh thợ săn chăm sóc cứu chữa, để trả ơn cứu mạng Chim Sơn Ca đã giấu cởi lốt chim trở thành cô gái xinh đẹp giúp anh thợ săn dệt vải, làm việc nhà và sau một thời gian bị phát hiện, đã trút bỏ lốt chim, làm vợ anh thợ săn trong truyện Chim Sơn Ca; nhân vật cô Tiên trong truyện Chàng mồ côi lấy vợ tiên (Cao Lan) sau khi lấy chàng Mồ Côi, giúp chồng trở nên giàu có đã trút bỏ hình hài kì dị trở thành một cô gái xinh đẹp; nhân vật nàng Ka Điêng (Nàng ngón út - Chàm) cũng vậy sau khi lấy Hoàng tử mới trút bỏ lốt vật dị dạng trở thành cô gái xinh đẹp… Bên cạnh đó cũng có nhân vật nữ giới mang lốt sau khi đã trút lốt kết hôn bằng tài năng, sự thông minh, tài trí hơn người không những biết khéo léo khuyên bảo chồng làm ăn, giúp gia đình nhà chồng trở nên giàu có, mà còn giúp dân làng tiêu diệt kẻ xấu, độc ác được dân làng khen ngợi. Nàng Bạch Nga Long trong truyện Người lấy Ếch đã giúp gia đình nhà chồng lấy lại được cơ nghiệp đã mất, thuê thầy giỏi về dạy học cho chồng, nhờ đó mà chồng đã đỗ trạng nguyên; nàng Tiên sau khi đã trút lốt, lấy chàng trai nghèo, đã khuyên bảo và cùng chồng làm ăn, không những giúp chồng trở nên giàu có, mà còn giúp dân làng tiêu diệt chủ bản độc ác (Nàng tiên Ốc - Việt)… 2.4. Nguyên nhân mang lốt Trong kiểu nhân vật người mang lốt vật các nhân vật mang lốt vật xuất hiện từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhân vật thường vì lí do nào đó, dẫn đến 17 bản thân mang lốt. Cái lốt con vật hay lốt vật kì dị, cũng có khi là người dị hình, dị dạng dường như là nơi ẩn thân tuyệt vời nhất trước khi cuộc đời nhân vật có những bước chuyển biến lớn lao. Việc nhân vật mang lốt các vật nhỏ bé, tầm thường, dị dạng đã có tác dụng như một thước đo, đánh giá mối quan hệ giữa các nhân vật với cộng đồng. Không phải ngẫu nhiên mà các nghệ sĩ dân gian đã xây dựng nên hình tượng nhân vật người mang lốt vật phổ biến đến như vậy trong truyện cổ tích của dân tộc mình. Họ tìm thấy ở đó mối cảm thông, chia sẻ giữa những con người bất hạnh trong một xã hội phân chia giai cấp. Phải mang lốt, dù dưới bất kì một hình thức nào, với bất kì nguyên nhân nào thì những con người đó vẫn đòi hỏi sự nhìn nhận của cộng đồng, của xã hội. Khi khảo sát 70 truyện cổ tích ở phương diện nguyên nhân dẫn đến nhân vật mang lốt, chúng tôi đã thống kê được các nguyên nhân cơ bản, mang tính phổ biến trong truyện cổ tích Việt Nam như sau: 2.4.1. Sinh đẻ thần kỳ Đây là nguyên nhân cơ bản phổ biến nhất trong kiểu nhân vật người mang lốt vật (29/70 truyện). Dường như “sinh đẻ thần kì” là một mô típ chủ đạo được tác giả dân gian giới thiệu về sự hiện diện của kiểu nhân vật người mang lốt vật. Sự xuất hiện của các nhân vật mang lốt trong kiểu truyện do nguyên nhân này không giống nhau mà vô cùng phong phú và đa dạng về sự thần kì trong sinh nở của các bà mẹ như: đôi vợ chồng hiếm con cầu khấn thần linh, người vợ mang thai sinh ra nhân vật mang lốt; hoặc do người mẹ ăn, uống phải vật lạ rồi có thai sinh ra nhân vật mang lốt; hay có nhân vật mang lốt được sinh ra do người mẹ quan hệ với thần linh; cũng có nhân vật mang lốt lại được sinh ra không phải do sinh nở của người mẹ mà chui ra từ quả trứng, quả bầu, bí hay “từ đầu gối của người mẹ”. Các dạng kiểu sinh đẻ thần kỳ thường gặp: * Dạng kiểu 1: Nhân vật mang lốt được sinh ra do đôi vợ chồng hiếm con cầu khấn thần linh rồi người vợ mang thai sinh ra. Dạng nguyên nhân này xuất hiện nhiều nhất có 10/29 truyện thuộc loại nguyên nhân sinh đẻ thần kì. Sự xuất hiện của nhân vật mang lốt theo một mô típ có tính chất công thức ngay phần mở đầu truyện kể: Hai vợ chồng nghèo khổ không con cái… đi xem bói hoặc cầu khấn thần linh mãi… sau đó người vợ có mang và sinh ra đứa con mang lốt vật, không mang hình hài như một đứa trẻ bình thường. Chẳng hạn, hai vợ chồng nghèo khổ không con, đi xem bói, đạo sĩ phán hai ông bà phải bắc được 120 cái cầu, sẽ có con. Quả nhiên bà vợ có mang, 18 nhưng lại đẻ ra “một con cóc” trong truyện Lệnh Trừ (Tày); hai vợ chồng Ca Đeng lấy nhau đã lâu mà không có con, đã cầu khấn, người vợ mang thai và sinh ra “một con cóc” (Chàng rể Cóc - Vân Kiều); hai vợ chồng hiếm muộn con cái, mong mãi người vợ có mang nhưng lại sinh ra một “con cóc” (Người lấy Cóc Việt); hai vợ chồng nghèo không con cái, cầu mong mãi không bao lâu người vợ có mang và sinh ra “một con rùa” (Chàng Rùa - Giáy). Truyện Lấy chồng Dê (Việt) kể về sự xuất hiện của chàng Dê như sau: một đôi vợ chồng hiếm con, cầu khấn mãi người vợ có thai và đẻ ra được “một con dê đực”. Câu chuyện Tướng Cóc ra trận (Pú Péo) kể về sự xuất hiện của nhân vật Cóc như sau: hai vợ chồng nghèo khổ, sống bằng đôi bàn tay khỏe mạnh,cầu mong có lấy một mụm con, không bao lâu sau, trước khi người chồng đi lính thì người vợ có mang nhưng lại sinh ra “một con cóc”. Ở hầu hết các truyện, các nhân vật mang lốt ra đời không đáp ứng được lòng mong mỏi của cha mẹ, bởi đứa con mà họ gửi gắm biết bao hi vọng lại mang hình hài quái dị của một con vật hay một lốt vật kì dị, người dị hình, dị dạng khác thường mà ta gọi là người mang lốt vật. Nếu như ở dạng trên, nhân vật mang lốt được sinh ra do có sự tác động kì lạ, khác thường của một lượng thần kì nào đó, thì ở dạng tiếp theo nhân vật mang lốt lại được sinh ra theo một quy luật tự nhiên. Dạng kiểu 2: Bên cạnh đó lại có nhân vật mang lốt vật được người mẹ sinh ra theo quy luật tự nhiên. Ở dạng này, nhân vật mang lốt được sinh ra theo quy luật sinh đẻ tự nhiên như bao đứa trẻ khác. Nhưng điều khác biệt là những nhân vật này ngay từ khi sinh ra đã mang lốt con vật, lốt vật kì dị hay người dị hình, dị dạng khác thường. Một đôi vợ chồng sau một thời gian sống với nhau, người vợ có thai nhưng lại sinh ra một đứa con mang lốt “bụng lợn” (Chàng Bụng Lợn - Thái); anh Lác cũng được cha mẹ sinh ra như bao đứa trẻ khác, nhưng lạ thay ngay từ khi ra đời anh đã bị lác nên đặt tên là Lác (Anh Lác làm Vua - Chàm); hai vợ chồng nghèo lấy nhau được một thời gian, thì người vợ có mang, tưởng chừng đâu đứa con mà họ sinh ra cũng bình thường như bao đứa trẻ khác, nhưng lại là một một đứa con dị hình, dị dạng “lùn, ngắn cũn cỡn” nên gọi là chàng Lùn trong truyện Chàng Lùn (Dao); Lút được cha mẹ sinh ra theo quy luật tự nhiên, nhưng điểm khác biệt Lút lại mang lốt dị dạng, “hom hem” (Chuyện chàng Lút - Xrê); một đôi vợ chồng nghèo sinh được hai người con, nhưng lạ thay đứa con gái thứ hai ngay từ khi sinh ra đã bị lòa nên gọi là nàng Lòa (Nàng Lòa, con ngựa mù và chàng thong manh - Hmông); Tổ Cô lấy chồng rồi mang thai như bao người phụ 19 nữ khác, nhưng lạ thay đứa con mà họ sinh ra lại có hình hài, dị dạng trong truyện Vua Bà (Việt); Mák hút xen pau cũng được mẹ sinh ra như bao như bao đứa trẻ khác, nhưng ngay từ khi sinh ra đã mang lốt người dị dạng trông rất kinh tởm “có rất nhiều mụn cơm” (Chàng ngàn mụn cơm - Thái); có hai nhân vật là cô Tươi Tỉnh và cô Cáu Kỉnh được cha mẹ sinh ra theo quy luật tự nhiên, ngay từ khi sinh ra đã mang hình hài dị dạng khác thường là trên mặt hai mỗi cô đều có một cục bướu (Hai cô gái và cục bướu - Việt). Sự dị hình, dị dạng nói trên của các nhân vật thực sự chính là “lốt vật” mà các nhân vật đó ẩn thân, chứ không phải là hình hài mà họ phải mang suốt đời. Sau này họ trút lốt đó ra và trở thành những con người bình thường như tất cả mọi người. Dạng kiểu 3: Do người mẹ ăn, uống phải vật lạ hay dẫm phải vật lạ mà mang thai và sinh ra nhân vật mang lốt vật. Việc người mẹ ăn uống hay nuốt, dẫm phải vật lạ dẫn đến hiện tượng có mang và sinh ra đứa con là con vật hay một lốt vật kì dị, dị dạng. Là một nguyên nhân thường thấy trong truyện cổ tích, nhưng gắn với sự ra đời của nhân vật người mang lốt vật lại ít. Tần số truyện xuất hiện thấp chỉ chiếm 5/29 truyện có nhân vật xuất hiện do nguyên nhân này. Mô típ thường gặp: người mẹ đi làm vì đói khát, ăn phải thứ quả lạ hay do uống nước từ trong hốc cây, hốc đá, đấu chân lạ… mang thai, cũng có khi đi tắm phát hiện thấy quả lạ trôi lổi vớt ăn và kết quả là mang thai: Nàng Di Dật uống phải nước lạ trong một hốc nhỏ ở giữa tảng đá lớn đen sì trong rừng rồi có mang và đẻ ra “một con cóc” (Chàng Cóc - Ka Dong); một người vợ có tuổi không con cái do uống nước suối từ giữa các hốc đá phun nên và đã mang thai nhưng lại sinh ra “một vật dị dạng tròn như một quả dừa” (Phò mã Sọ Dừa - Chàm); nàng Núi uống phải nước đái của lợn rừng, sau đó mang thai, sinh ra “một con lợn” (Chàng Lợn - Hmông); một bà góa do uống nước trong một cái sọ người nên đã có thai nhưng lại sinh ra “một cục thịt tròn” (Truyện Sọ Dừa - Việt); vợ chồng nhà nọ rất muộn con, ngoài năm mươi tuồi mà chưa chửa đẻ lần nào, vào một hôm sau khi dẫm phải một quả bí ở ngay chân mình bá đã có thai và sinh ra “một quả bí đỏ” (Cái ná chín rãnh - Chàm). Hình hài ban đầu của các nhân vật này thực chất chỉ là “lốt vật” của các nhân vật. Dường như tác giả dân gian sáng tạo ra dạng kiểu sinh nở này, cũng có thể gắn với mục đích lý giải sự tài chí hơn người ở các nhân vật mang lốt theo kiểu thần thoại: kết nối thân phận các nhân vật với các thần linh. Dạng kiểu 4: Nhân vật mang lốt được sinh ra không phải từ sinh đẻ của người mẹ, mà chui ra từ một quả trứng hay qủa bầu, bí hoặc từ “đầu gối của người mẹ”. 20
- Xem thêm -