Khoá luận tốt nghiệp Dấu ấn cái phi lí của văn học Phương Tây trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 64 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 MỞ ĐẨU 1. Tầm quan trọng của đề tài 1.1. Cái phi lí là một thuật ngữ quan trọng của văn học và phê bình văn học đương đại, nhằm chỉ tình trạng con người thoát li niềm tin nguyên thủy và cơ sở tư duy siêu hình, sống cô đơn, vô nghĩa trong cái thế giới xa lạ hiện hữu. Văn học phi lí là loại hình văn học độc đáo, ra đời trong giai đoạn xã hội phương Tây rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng những năm đầu thế kỉ XX. Văn học phi lí tuy phần lớn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa biếu hiện và chủ nghĩa hiện thực nhưng cơ sở triết học của nó là chủ nghĩa hiện sinh, cho rằng con người bắt đầu tù’ hư vô và kết cục hư vô, cả cuộc đời là một tồn tại khổ đau và phi lí. Văn học phi lí do đó cũng mang hình thức nghệ thuật đầy mới lạ, khác hắn với truyền thống quen thuộc. Văn học nghệ thuật là địa hạt của sự sáng tạo. Từ sự quan sát đời sống của văn học đương đại có thể thấy chưa bao giờ cá tính sáng tạo của nhà văn và sự độc đáo, mới lạ của tác phẩm lại được đề cao như trong giai đoạn này. Những đợt sóng cách tân, đổi mới diễn ra không có điểm dừng khiến cho những sáng tạo, thể nghiệm của nhà văn luôn bị đặt trước nguy cơ “cũ đi”, bị phủ nhận trong một sớm một chiều. Thậm chí, mồi nhà văn cũng phải luôn làm mới mình qua từng tác phẩm, như Aragông từng quan niệm: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại chính tôi”. Văn học phi lí là loại hình văn học phi lí độc đáo, mới lạ. Do đó, việc tiếp thu tinh hoa của văn học phi lí phương Tây đã trở thành một hướng đi của nhiều nhà văn Việt Nam đương đại, góp phần đổi mới văn học theo hướng hiện đại. Ngô Mai Liên 5 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp 1.2. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Phạm Thị Hoài là nhà văn sống, học tập và làm việc tại Đức - nơi được coi là một trong những trung tâm của những cách tân nghệ thuật đương đại. Do đó, Phạm Thị Hoài chịu ảnh hưởng khá nhiều của những đợt sóng đổi mới, cách tân, đặc biệt là những ảnh hưởng của loại hình văn học phi lí độc đáo. Với các tập truyện ngắn: Mê lộ (1989), Man Nương (1995), Marie sến ( 1996), tiểu thuyết Thiên sứ và những tiểu luận độc đáo, Phạm Thị Hoài cùng với các nhà văn cách tân khác như: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương... đã làm thay đôi một cách sâu sắc diện mạo nền văn học Việt Nam đương đại, đem đến cho độc giả những tác phẩm mới mẻ, góp phần làm thay đối cách đọc và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Vượt lên trên sự vay mượn, bắt chước các thao tác, thủ pháp kĩ thuật học được từ các nguồn văn học Âu - Mĩ, đặc biệt là văn học phi lí, Phạm Thị Hoài đã sáng tạo cho tác phẩm của mình một hình thức biểu hiện, phản ánh loại hình tư duy nghệ thuật của thời đại mới. Với Thiên sứ, bóng dáng của văn học phi lí in đậm lên từng trang văn. Qua việc nghiên cứu đề tài “Dấu ấn cái ph i lí của văn học phương Tây trong tiếu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị H oài”, chúng tôi muốn tìm hiếu sự tiếp thu học tập tinh hoa văn học phi lí của Phạm Thị Hoài trong việc xây dựng một chỉnh thế nghệ thuật độc đáo - tiêu thuyết Thiên sứ. Qua đó, có thế khắng định, cùng với sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp, Bảo N inh,... Phạm Thị Hoài đã đưa văn học đối mới tiến tới cao trào, tạo nên một bước ngoặt trong tiến trình văn học dân tộc. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phạm Thị Hoài là một nhà văn không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam, dù bà là một gương mặt xuất hiện chưa lâu trên văn đàn. Sáng tác đầu tay của Phạm Thị Hoài là truyện ngắn Năm ngày trình làng năm 1986 trên báo Văn nghệ. Tiếp đó là truyện Hành trình của những con sổ ra mắt độc giả tháng 10 Ngô Mai Liên 6 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 -1987 cũng trên báo Văn nghệ. Đen nay Phạm Thị Hoài đã in hai tập truyện ngắn (Mê lộ - 1989, Man Nương - 1995); hai tiểu thuyết ( Thiên sứ - 1988, Marie sến - 1996). Ngoài ra, bà còn viết một số tiểu luận văn học. Các bài viết về tác phâm của Phạm Thị Hoài nói chung và Thiên sứ nói riêng chưa nhiều, chủ yếu là những bài được đăng tải trên các báo, tạp chí, các website văn học. Trong cuốn Văn học phi lí, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân có chỉ ra một số ảnh hưởng của văn học phi lí phương Tây đối với sáng tác của Phạm Thị Hoài và Nguyễn Việt Hà. Đó là nét tương đồng trong việc phản ánh tình trạng tha hóa của con người. Tác giả viết: “Có một sự giống nhau khá rõ về tình trạng tha hóa của nhân vật giữa Phạm Thị Hoài với Kafka và Camus(...). Meursault, nhân vật chính trong Kẻ xa lạ của Camus là nhân vật văn học hiện đại đầu tiên khước từ lối sống bầy đàn. Ở Phạm Thị Hoài cũng có một thái độ khước từ như vậy.” [8 - tr. 111 ]. Trong bài “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài” [15], nhà nghiên cứu La Khắc Hòa đã chỉ ra những cách tân mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, trong đó có Thiên sứ. Cụ thế là trên các phương diện: Đe tài, cốt truyện, các thủ pháp nghệ thuật trong việc xây dựng nhân vật, nhan đề, giọng điệu,... Tác giả La Khắc Hòa chỉ ra chủ đề đậm dấu ấn của văn học phi lí trong sáng tác của Phạm Thị Hoài như sau: Môtip chủ đề về một thế giới vô nghĩa, vô hồn với kết cục đầy những thảm bại, ê chề, những sự thật trớ trêu, những cuộc chia li rời bỏ... khiến cho các câu chuyện của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài thấm đẫm tâm trạng hoài nghi, cô đơn. Nguyễn Thị Bình trong cuốn “Những đối mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau năm 1975 (khảo sát trên nét lớn)” (Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2007) lại chú ý đến sự cách tân trên phương diện ngôn ngữ của Thiên sứ - sự Ngô Mai Liên 7 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 kết hợp của nhiều phong cách ngôn ngữ cũng như các lớp từ vựng trong tác phẩm. Nguyễn Thị Thu Nguyên trong bài “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài” (trích trong cuốn Văn học Việt nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy) đã chỉ ra những nét tiêu biểu của việc xây dựng nhân vật trong Thiên sứ. Đó là sự phá hủy kiểu nhân vật truyền thống, xây dựng nhân vật huyền thoại. Nhân vật rơi vào tình trạng tha hóa, bị bào mòn cá tính và cạn kiệt khả năng yêu thương. Tác giả viết: “Không trực tiếp mô tả những cơ chế đời song khiến con người bị công thức hóa, sơ đồ hóa, nhưng những mô hình sinh động của Phạm Thị Hoài đã giúp người đọc cảm nhận được hiện thực cuộc sống phức tạp, trong đó đê song, đê tồn tại, con người không thê không tìm cho mình một chiếc phao bảo hiếm an toàn, đồng thời triệt tiêu những cá tỉnh, nhất là những góc cạnh cỏ thê đâm thủng chiếc phao sinh mạng ẩ y .” [19- tr.257]. Mai Hải Oanh trong chuyên luận “Những cách tân nghệ thuật trong tiêu thuyết Việt Nam đương đại” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, năm 2009) đã chỉ ra nhiều sáng tạo của Phạm Thị Hoài thế hiện trong việc xây dựng cốt truyện phân mảnh, kết cấu lắp ghép, giọng điệu giễu nhại và nghệ thuật xây dựng nhân vật với thủ pháp huyền thoại hóa trong tiêu thuyết Thiên sứ. Tác giả đã có nhiều khám phá tinh tế và sắc sảo. Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa có sự so sánh với văn học phi lí, bởi lẽ đó không phải mục đích chính của cuốn chuyên luận. Có thê thấy, các bài viết của các tác giả trên là nhũng bài nghiên cứu đầu tiên về các sáng tác của Phạm Thị Hoài, trong đó có tác phấm Thiên sứ. Nhìn chung các tác giả này chủ yếu tập trung vào phân tích, đánh giá một số cách tân, đối mới theo hướng hiện đại và hậu hiện đại trong tác phẩm, mà chưa đi sâu vào việc nghiên cún bình diện cái phi lí trong tác phẩm này. Vì Ngô Mai Liên 8 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 thế, chúng tôi mạnh dạn triển khai nghiên cứu đề tài khóa luận “Dấu ấn cái ph i lí của vãn học phương Tây trong tiếu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị H oài” - một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm dưới sự chỉ dẫn của lí thuyết văn học so sánh ứng dụng. 3. Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận 3.1. Mục tiêu của khóa luận Khóa luận hướng đến mục tiêu tìm ra những dấu ấn, ảnh hưởng của văn học phi lí trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật trong tiếu thuyết Thiên sứ của nhà văn Phạm Thị Hoài. 3.2. Nhiệm vụ của khóa luận Nắm vững kiến thức về quá trình hình thành và phát trien của loại hình văn học phi lí phương Tây thể kỉ XX cũng như khái niệm về cái phi lí trong văn học và một số ảnh hưởng của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chỉ ra những dấu ấn, những tiếp sáng tạo từ văn học phi lí vào việc xây dựng Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. 4. Phạm vi nghiên cứu 4. /. về nội dung Với đề tài đã chọn, tác giả khóa luận sẽ tiến hành tìm hiếu những dấu ấn của cái phi lí trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật của Thiên sứ. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng lí thuyết của văn học so sánh đế tìm ra những ảnh hưởng của các sáng tác văn học phi lí (sáng tác của Kafka, của Camus, E. Ionesco,...) đối với tiêu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. 4.2. về tư liệu Tác phẩm mà chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các văn bản Ngô Mai Liên 9 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tác phẩm của các tác gia văn học phi lí phương Tây như: Franz Kafka, Albert Camus, E. Ionesco... 5. Phưong pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp thống kê, so sánh 5.2. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống 5.3. Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật 6. Đóng góp của khóa luận 6.1. Khái quát những nét cơ bản về quá trình hình thành và phát triên của văn học phi lí. Trình bày một số ảnh hưởng cơ bản của văn học phi lí đối với tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới. 6.2. Chỉ ra và phân tích những mặt cách tân sáng tạo của Phạm Thị Hoài trong Thiên sứ, trên cơ sở so sánh và đối chiếu với sáng tác của Camus, Kafka, Ionesco, ... 7. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm có hai chương. Cụ thê là: Chương 1: Khái quát về văn học phi lí và một số ảnh hưởng của văn học phi lí đối với tiếu thuyết Việt Nam. Chương 2: Dấu ấn cái phi lí của văn học phương Tây trong tiếu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài. NỘI DUNG Ngô Mai Liên 10 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Chương 1 KHÁI QUÁT VÈ VĂN HỌC PHI LÍ VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC PHI LÍ ĐÓI VỚI TIẺU THUYÉT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1. Khái quát về văn học phi lí 1.1.1. về khải niệm cái p h ỉ lí 1.1.1.1. Khái niệm cái phi lỉ trong triết học Khái niệm cái phi lí không phải mới xuất hiện ở thể kỉ XX mà đã có từ thời cổ đại. Nhà triết học Hi Lạp cố đại Zenon đã từng đưa ra bài toán nghịch lí nổi tiếng. Bài toán chứng minh Akhin - dũng sĩ thần thoại Hi Lạp có tài chạy nhanh nhất mà không đuổi kịp một con rùa. Hình học Euclide (Thế kỉ III TCN) thường xuyên sử dụng phương pháp ngụy biện đế chứng minh các định luật hình học. Thời trung đại, nhà bác học La Mã Tertullianus (155 - 220) có một câu nói nối tiếng: “Tôi tin vì nó phi lí”. Đen thế kỉ XVI, nhà triết học người Anh là T.Hobbes (1588 - 1679) đã giải thích sự phi lí thông qua sự rối loạn trật tụ' lôgic ngôn ngữ học. Ồng cho rằng những tù’ trái nghĩa đứng cạnh nhau thì chỉ làm thành một âm thanh đơn thuần chứ không phải là một khái niệm có nghĩa (ví dụ cách nói “một vật thê vô thế”). Như vậy, trên phương diện lôgic học người ta quan niệm rằng những gì tồn tại trái với các qui tắc lôgic đều bị coi là “phi l í ”. Bình diện lí luận nhận thức lại cho rằng tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lí trí không thế giải thích được bằng tư duy thì đều được coi là phi lí. Như vậy, cái phi lí là cái phản lí tính. Cuối thế kỉ XVIII, xuất hiện chủ nghĩa phi lí tính hiện đại với đặc điêm là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lí trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác). Các nhà triết học phi lí tính nhấn mạnh đặc biệt đến cái không thể chứng minh được, đề xuất việc Ngô Mai Liên 11 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 nhận thức cái riêng đế chống lại việc nhận thức cái chung mà lí trí muốn hướng tới. Họ đặt cái thực tiễn trước mắt, cái khả năng trac giác bột phát đối lập với sự nhận thức thông qua tư duy, thông qua khái niệm và nhiều khi họ đem cái quan điếm bi quan thay thế cho quan điếm lạc quan của chủ nghĩa duy lí đối với một trật tự có hệ thống của thế giới và của sự tồn tại. Sang giai đoạn chủ nghĩa hiện sinh, khái niệm triết học về cái phi lí có một bước phát triển đặc biệt. Chủ nghĩa hiện sinh tạo ra giữa lí tính và thực tại một vục sâu ngăn cách không thê vượt qua. ỉ. ỉ. 1.2. Khái niệm phi lí trong văn học Neu trong triết học có quan niệm cho rằng cái phi lí là con đẻ của tính bất khả thi của lí tính thì qua thực tiễn sáng tác của mình, các nhà văn vẫn cố gắng nhận thức cái phi lí. ĩônexcô - nhà viết kịch nổi tiếng, một đại diện tiêu biểu của văn học phi lí cho rằng: “Cái phi lí là sự tồn tại vô nghĩa của con người, là sự suy giảm giá trị của mọi lí tưởng của con người, thường nhận thấy được trong thế giới hiện đại.” [dẫn theo 8 - tr.22]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cho rằng: “Khái niệm phi lí trong văn học được dùng đế chỉ loại hình văn học phi lí có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi lôgic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức của con người.” [8 - tr.23]. Văn học phi lí là văn học phản ánh những hiện tượng và sự việc trái với sự phát triển của tư duy lôgic thông thường, hoặc nói đúng hơn là trái với lôgic nhân văn tiến bộ của loài người. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù khái niệm phi lí nói chung đã xuất hiện tù’ thời xa xưa nhưng khái niệm phi lí hiện đại mới chỉ xuất hiện tù’ nửa đầu thể kỉ XIX với chủ nghĩa phi lí tính và sau đó là chủ nghĩa hiện sinh và nó chỉ được thể hiện thành một loại hình văn học rõ rệt từ đầu thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kafka. Do đó, nói đến văn học Ngô Mai Liên 12 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 phi lí thì chúng ta phải hiếu rằng đó là văn học con đẻ của thế kỉ XX hay nói đúng hơn là kết quả của cuộc khủng hoảng về nhiều mặt của thế kỉ XX. 1.1.2. Quả trình hình thành và phát triên của văn học ph i lí 1.1.2.1. Nguồn gốc hình thành Cùng với pháp luật, đạo đức, tôn giáo... văn học chính là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng. Do đó, sự ra đời và phát triển của văn học phi lí luôn bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng và các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng. Văn học phi lí được hình thành từ hai nguồn chính là triết học và văn học. Ngoài ra, nó còn được hình thành dựa trên hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể. Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, xã hội phương Tây xảy ra nhiều cuộc khủng hoảng về kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng. Công xã Pari thất bại khiến mâu thuẫn xã hội thêm trầm trọng và đấy các trí thức trong xã hội vào tư tưởng bi quan, tiêu cực. Chủ nghĩa tư bản phát triển bên cạnh những mặt tích cực là thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển còn kéo theo nhiều mặt trái, tiêu biểu nhất là làm tha hóa con người, gây ra cuộc khủng hoảng sâu sắc về thân phận con người. Các phương tiện thông tin đại chúng làm cho con người dễ dàng giao tiếp với nhau thì các mối quan hệ đạo lí - nhân văn lại bị gián đoạn. Nhà văn Thụy Sĩ Durrematt nhận xét: “Bộ phận không hợp nhất được với tống thê, cá nhân không họp nhất được với tập thế, con người không họp nhất được với nhân loại” [dẫn theo 8 - tr.30]. Tất cả những điều đó đã dẫn đến thái độ phủ nhận xã hội tư bản đương thời của con người và điều này được thể hiện sâu sắc trong văn học. Đầu thế kỉ XX, thế giới phương Tây được chứng kiến một phong trào phủ định rộng khắp đối với trật tụ’ hiện hành của xã hội, trong đó có sự phủ định đối với nghệ thuật truyền thống. Phong trào phản nghệ thuật có gốc gác từ cuối thế kỉ XIX, được nở rộ ở đầu thế kỉ XX và kéo dài tới những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Trong phong trào phản nghệ thuật có phản hội họa, phản sân khấu, phản thơ, phản tiểu thuyết,... và Ngô Mai Liên 13 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 CÓ cả văn học phi lí. Các nhà văn học phi lí không chỉ mô tả cái phi lí mà quan trọng hơn là họ còn hành động để chống lại cái phi lí đó. 1.1.2.2. Quả trình phát triền và một sô đại diện tiêu biêu của vân học phi lí Văn học phi lí có những biểu hiện nghệ thuật khác nhau theo từng thời điểm lịch sử, chủ yếu là trên hai loại thể tự sự và kịch. Trên mỗi chặng đường phát triển lại có những đại diện tiêu biểu. Văn học phi lí là một loại hình văn học được hình thành rõ rệt từ đầu thế kỉ XX với người mở đường là Franz Kaíka - nhà văn Tiệp Khắc gốc Do Thái. Tuy nhiên, trước Kafka, Đôtxtôiepxki (1821 - 1881) cũng từng nói đến cái phi lí thông qua nhân vật Tvan Karamazov: “Thế giới được dựa trên những điều phi lí và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lí đó” (Anh em Karamazov) [dẫn theo 8 - tr.27]. Nhưng bản thân Đôtxtôiepxki không khai thác đề tài cái phi lí. Phải đến Kaíka thì văn học phi lí mới thực sự ra đời. Franz Kaíka (1883 - 1924) sinh tại Praha (thủ đô của Tiệp Khắc) mất tại thủ đô Viên của Áo do mắc bệnh lao phối. Ông từ trần ở độ tuổi đang chín muồi của tài năng. Ồng đế lại cho di sản văn học thế giới một số lượng sáng tác không nhiều nhưng đó lại là một tài sản vô giá của văn học nhân loại. Xét về mặt trào lưu, Kafka không hề đại diện cho một trào lưu nào song người ta nhận thấy sự gần gũi của ông với chủ nghĩa biếu hiện đầu thế kỉ XX: đó là những dấu hiệu của sự phủ nhận, sự bất lực trước tình trạng tha hóa của con người, những yếu tố kì ảo ... Kaíka là một nhà văn có tư tưởng tiến bộ và tư tưởng đó được thể hiện sâu sắc trong văn học. Thông qua ba cuốn tiểu thuyết Lâu đài, Vụ án, Nước Mĩ, một số truyện ngắn Làng gần nhất, Một người thầy thuốc ở nông thôn..., truyện vừa Biến dạng,... Kafka đã làm một cuộc cách tân lớn trong nghệ thuật văn xuôi tự sự, xứng đáng trở thành người mở đường tài ba cho dòng văn học phi lí đầu thế kỉ XX. Kaíka đã tập trung Ngô Mai Liên 14 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 bút lực đế khai phá một mảng đề tài rất khó xử lí, đó là cái phi lí của cuộc đời và ông đã thực sự thành công, đặc biệt là qua hai tiểu thuyết Vụ án, Lâu đài. Vụ án kể về câu chuyện của một anh nhân viên ngân hàng là Josef K. vào ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi của mình bị một tòa án bí hiểm nào đó mà anh không hề biết gán cho một tội nào đó mà anh cũng không hề biết. Suốt một năm trời anh phải trải qua những cuộc thẩm vấn trước mặt những người trung gian chứ không được gặp bất cứ một quan tòa nào. Đẻ rồi đến ngày kỉ niệm sinh nhật lần thứ ba mươi mốt của mình, Josef K. đã bị hai người đàn ông to béo đến lôi anh ra một khu khai thác đá ở ngoại ô thành phố và dùng dao thi hành án tử hình anh. Trong suốt tiểu thuyết, Josef K. chưa một lần phải ra trước vành móng ngựa. Trong những lần đi tìm tòa án, Josef K. đã gặp nhiều người có địa vị bị cáo giống như anh ngồi đợi để gặp tòa mà chẳng có hy vọng được gặp. Josef K. lại rất ngạc nhiên khi thấy văn phòng tòa án có thể có mặt ở bất cứ đâu và luôn luôn ở trên những tầng áp mái. Càng tìm hiểu thì Josef K. càng lạc lối trong những dãy hành lang tối tăm, ngột ngạt dẫn đến những căn gác xép, đến những tầng áp mái của các tòa nhà xa lạ mà chang bao giờ thấy hé mở một tia hi vọng được gặp các vị quan tòa. Chính anh chàng họa sĩ Titôreli đã nói: “Thực vậy, các quan tòa cấp dưới, như các quan tòa chỗ bạn bè tôi, không có quyền tuyên bố tha hắn; cái quyền ấy thuộc về tòa án tối cao mà cả ông anh cả tôi, cả những người khác nữa không ai với tới được. Những chuyện diễn ra trên đó, chúng ta chẳng biết tí gì, và xin nói thêm, chúng ta chang muốn biết” [8 - tr.37]. Mọi người không được biết và cũng không bắt buộc phải tin. Ông linh mục đã khắng định như vậy sau khi kế cho Josef K. nghe câu chuyện về anh chàng gác cửa pháp luật: “Người ta không bắt buộc phải tin là đúng tất cả những điều hắn nói, chỉ cần xem chúng là tất yếu, thế là được” [8 - tr.219]. Câu chuyện về Ngô Mai Liên 15 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 anh chàng gác cửa pháp luật chính là sự đúc kết hoạt động của bộ máy quyền lực của Vụ án, còn bác nông dân chờ đợi trước cửa pháp luật chính là hình ảnh đúc kết về Josef K. Pháp luật ngay từ đầu đã tỏ ra là một nhân vật phi lí vô hình và bất khả tri, một loại nhân vật vắng mặt rất đặc trưng cho sáng tác của Kafka. Loại nhân vật này thuộc thể giới bí hiểm, thế giới bất khả tương giao với con người bình thường. Trong khi Josef K. không chịu được cái không khí ngột ngạt của thế giới tòa án, thì, vì đã quen với cái không khí của thể giới ấy rồi, nên các nhân viên của thế giới xa lạ đó lại không chấp nhận được cái không khí trong lành của thế giới đời thường, chỉ cần mở cửa tiếp xúc với thế giới bên ngoài vài phút là họ có nguy cơ bị ngất xỉu, như thể họ là những con người từ hành tinh khác hay thậm chí có the nói họ giống như những con cá nhốt trong bế kính vậy. Ở chương IX, ông linh mục của tòa án đã nói với Josef K. tại nhà thờ lớn về câu chuyện anh chàng gác cửa pháp luật như sau; “Dù ta có thấy hắn như nào đi nữa thì hắn vẫn cứ là một kẻ nô bộc của pháp luật; vậy hắn thuộc về pháp luật; vậy hắn thoát khởi sự phán xử của nhân loại. Và trong trường hợp ấy, ta cũng phải thôi đừng nghĩ là hắn thấp kém hơn người kia” [10 - tr.219]. Thực tế thì nhân loại dù có muốn phán xử pháp luật cũng không có điều kiện đế phán xử, bởi vì người ta không thế tiếp cận được nó. Cho đến lúc chết, Josef K. vẫn không hết bị dằn vặt bởi một câu hởi vô vọng về pháp luật: “Viên quan tòa anh chưa bao giờ gặp ở đâu? Tòa án tối cao anh chưa đến bao giờ ở đâu?” [8 - tr.226]. Còn Lâu đài kê về chuyện một anh nhân viên trắc địa cũng có tên là K. được mời tới làm việc tại một khu làng chịu dưới quyền cai quản của một lãnh chúa (cụ thể là “ngài bá tước West West” - một cái tên cũng vô danh chẳng kém gì tên gọi của nhân vật K.) sống trong một tòa lâu đài ngự trị trên một quả đồi. Tuy nhiên, cũng như Josef K. trong Vụ án, anh chàng K. không Ngỏ Mai Liên 16 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 bao giờ tiếp cận được với những người sống trong tòa lâu đài bí hiểm kia. Và cũng như Josef K., K. cũng tìm mọi cách để được gặp những người trong lâu đài nhưng không thành. Thậm chí ngay cả những người dân thường ở quanh khu lâu đài cũng không ủng hộ anh. Trong Lâu đài, K. tỏ ra tích cực hơn Josef K. trong việc tìm hiểu sự vận hành của bộ máy quyền lực. Nhưng những con đường quanh lâu đài chỉ dẫn anh lạc lối sang những con đường quanh co khác mà anh càng đi càng rời xa lâu đài. Những con đường ngập trong tuyết tưởng như dẫn đến lâu đài nhưng cứ gần đến nơi chúng lại rẽ sang hướng khác giống như những con đường tiệm cận với một vòng tròn bí ẩn, mất hút trong sương mù. Đó là lâu đài, còn những người dân sống trong ngôi làng dưới quyền cai trị của lâu đài thì cũng như là một thế giới xa lạ. K. càng tìm hiểu thì càng lạc vào mê cung của một thế giới phi lí không thể nào hiểu nổi và tồn tại ngoài ý muốn con người. Và cũng thật phi lí, càng lạc sâu vào thế giới mê cung đó thì K. càng trở nên tha hóa, xa lạ với thế giới chẳng khác gì chính bản thân tác giả của họ. Ở Kafka, cái phi lí là một đối tượng nhận thức khách quan. Nhưng không phải đơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó có liên quan và thậm chí chi phối vận mệnh của con người. Con người muốn tồn tại phải luôn luôn đấu tranh đế loại trù' nó. Vì thế mà Kafka đã xây dựng nên thế giới huyền thoại đế mô tả cái phi lí - đó là những thế giới không có địa danh. Cái thành phố của Josef K. không có tên tuổi, tòa lâu đài và ngôi làng nơi anh nhân viên trắc địa K. được mời đến làm việc chỉ là một địa chỉ vô danh. Cái phi lí của Kafka là những tấn bi kịch của con người hiện tồn trong thế giới đương thời. Do đó mà kéo theo tâm trạng lo âu, sự lo lắng trước cuộc sống đời thường. Kafka lo cho đồng loại, lo cho những con người bình thường ở xung quanh ta. Đây là một trong những yếu tố làm cho văn học của Kafka có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Ngô Mai Liên 17 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Trong Vụ án, Lâu đài, cái phi lí đã hiến hiện thành một nhân vật chính trong văn học hiện đại. Kafka thực sự trở thành người đầu tiên mở đường cho văn học phi lí. Ớ Kafka, cái phi lí là một thực thể tồn tại khách quan mà nhà văn tuyệt vọng tìm hiểu suốt cuộc đời. Tiếp sau ông, Camus sẽ đóng góp cho sự phát triển của văn học phi lí trên một bình diện khác: Bình diện chủ quan của cái phi lí. Camus chính là nhà văn đại diện cho bước phát triển tiếp theo của văn học phi lí. Albert Camus (1913 - 1960) sinh ra trong một gia đình lao động nông nghiệp nghèo tại Angiêri thuộc Pháp. Cuộc đời ông trải qua nhiều sóng gió và có nhiều mâu thuẫn. Trong cuộc đời cầm bút của mình, Camus sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau. Từ tiểu luận, tiểu thuyết đến kịch và truyện ngắn đều phản ánh những mâu thuẫn tư tưởng phức tạp và sự chuyển biến tư tưởng liên tục của Camus. Những tác phẩm nổi tiếng của ông thể hiện rõ tư tưởng hiện sinh phi lí từ thời tìm đường đầu tiên cho đến khi nhận thức chín muồi. Viết về đề tài cái phi lí, Camus đế lại một số tác phấm: tiếu thuyết Kẻ xa lạ, các vở kịch Caliguyla, Ngộ nhận, Vây hãm và tác phấm Huyền thoại Xiziphơ... Ông xứng đáng trở thành trụ cột của văn học phi lí. Trong Huyền thoại Xiziphơ (1942), Camus kế lại chuyện trong thần thoại Hy Lạp về nhân vật Xiziphơ phạm tội tố cáo thượng thần Dớt nên bị trùng phạt. Dưới âm phủ, Xiziphơ chịu hình phạt phải đấy một hòn đá nặng từ dưới chân núi lên đỉnh núi. Khi sắp tới nơi thì Xiziphơ đuối sức và hòn đá lăn tọt xuống chân núi. Xiziphơ phải chạy theo và tiếp tục đây hòn đá lên, rồi hòn đá lại lăn xuống. Xiziphơ phải vật lộn mãi với hòn đá, cứ như thế lên xuống không ngừng. Đe tài của tiểu thuyết này là ý niệm về sự tương đối và mối tương quan giữa sự phi lí với sự tự hủy diệt cuộc sống. Cuộc đời đáng sống hay không Ngô Mai Liên 18 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đáng sống một khi con người nhận thấy giữa cái thế giới bên ngoài và niềm khát vọng hạnh phúc chính đáng có một cái hố thẳm ngăn cách. Làm một công việc vô ích và vô hi vọng như thế mà Xiziphơ vẫn làm. Đó là điều phi lí. Xiziphơ suy tư việc anh làm chỉ có thế, anh phải lấy nó làm vui. Anh ta thấy cái thế giới chật hẹp của anh ta là có ỷ nghĩa. Mỗi hạt bụi làm nên hòn đá và trái núi đầy bóng tối kia phải là một thế giới đầy hấp dẫn với anh ta. Việc làm tuy nhọc nhằn nhưng lại là một niềm vui. Hạnh phúc và cái phi lí là hai đứa con cùng một mẹ. Cuộc đời vui sướng của Xiziphơ là ở chỗ số phận của anh thuộc về chính anh khi tưởng chừng như anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào thần linh. Xiziphơ thách thức thần linh, khinh nhờn các thần linh, yêu sự sống, ghét cái chết, Xiziphơ ham mê chính cuộc sống ấy. Camus viết: “Thôi tôi cứ để cho Xixiphơ ở dưới chân núi! Ông vẫn sẽ luôn luôn tìm thấy được tảng đá của mình. Nhưng Xixiphơ dạy cho ta tính trung thực cao thượng có khả năng phủ nhận thần linh và nâng cao đá tảng. Cả ông ta cũng cho rằng mọi cái đều tốt đẹp. Đối với ông, cái thế giới này từ nay không còn có chủ nhân này chang tỏ ra cằn cỗi cũng chang tỏ ra tầm phào. Mỗi một viên đá, mỗi một ánh sáng lấp lánh của quả núi ngập đầy bóng đêm ấy, tất cả đều làm thành một thế giới chỉ dành riêng cho ông. Bản thân cuộc vật lộn đế vần tảng đá lên đỉnh núi cũng đủ làm viên mãn một trái tim con người, cần phải hình dung Xixiphơ là người hạnh phúc.” [8 - tr.261] Ngoài di sản tiểu thuyết, Camus còn đế lại một số vở kịch mang âm hưởng phi lí. Kịch của ông dù mang tư tưởng phi lí nhưng nó không giống với kịch phi lí sau này. Vì về mặt nghệ thuật, nó vẫn là loại kịch truyền thống, chỉ có nội dung của nó là nằm trong mạch tư tưởng phi lí của nhà văn mà thôi. Nó không sử dụng các thủ pháp huyền thoại và nghịch dị như các tác giả kịch phi lí khác. Có thể nói kịch của Camus chỉ là một loại văn xuôi diễn giải về sự phi Ngô Mai Liên 19 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 lí của cuộc đời, bố sung thêm cho tiếu thuyết hành vi luận của ông, làm cho văn xuôi phi lí của ông trở nên trọn vẹn. Với Kafka và Camus, văn xuôi phi lí đã đạt đến độ hoàn thiện, có lẽ không cần bổ sung thêm nữa. Và văn học phi lí chuyển sang một địa hạt mới là kịch phi lí. Xuất hiện đầu tiên ở Pháp với vở kịch Nữ ca s ĩ hói đầu của Iônexcô (năm 1950), kịch phi lí tuy chỉ tồn tại trong khoảng hơn mười năm nhưng nó có tác động sâu rộng và mạnh mẽ, dư âm của nó còn kéo dài mãi về sau. Trong vở kịch Nữ ca s ĩ hỏi đầu, ta chẳng thấy có một nữ ca sĩ nào cũng chẳng có ai hói đầu cả. Trong buổi diễn tập đầu tiên, một diễn viên đã nói nhầm một lời thoại nào đấy thành “nữ ca sĩ hói đầu”. Thế là tác giả liền lấy ngay câu nói đó để đặt nhan đề cho vở kịch. Sự không ăn nhập của nhan đề với nội dung vở kịch là biểu hiện đầu tiên của thủ pháp phi lí. Vở kịch chỉ gồm sáu nhân vật. Song tất cả những lời đối thoại của họ chỉ là những câu nói ngô nghê, vô nghĩa. Đây là vở kịch điển hình cho việc diễn đạt sự phá hủy ngôn ngữ. Ngoài ra, Iônexcô còn đế lại nhiều vở kịch quan trọng như: Bài học, Những chiếc ghế, Những con tê giác, Người bộ hành trên không... Một đại diện tiêu biếu thứ hai của kịch phi lí là Bêcket với các tác phấm: Đợi Gôđô, Tất cả những người ngã xuống, Tàn cuộc... Đợi Gôđô là một huyền thoại phi không gian và thời gian. Chuyện xảy ra tại một địa điểm không tên và một thời gian ngưng đọng. Extơragông đợi Gôđô như đợi một cái phi lí. Đợi mà không biết Gôđô là ai, đợi để làm gì và khi nào thì được gặp; đó là một sự chờ đợi vô nghĩa và vô vọng. Nhìn chung, chủ đề của kịch phi lí là mô tả sự tha hóa của con người trong cái thế giới phi lí đã bị vật thể hóa. Bằng cách tiếp thu di sản văn học phi lí của Kafka và của Camus, kịch phi lí gần như không còn gì phải bổ sung thêm cho tư tưởng về cái phi lí nữa mà nó chỉ đi tìm các thủ pháp nghệ thuật Ngô Mai Liên 20 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 mới đế tiếp cận cái phi lí. Đó là thủ pháp nghịch dị, sử dụng yếu tố huyền thoại, phá hủy ngôn ngữ. Như vậy, văn học phi lí một loại hình văn học độc đáo của thế kỉ XX với người mở đường tài ba là Kafka. Văn học phi lí tiếp tục phát triển lên một đỉnh cao mới gắn với tên tuổi của Camus. Đây là hai nhà văn trụ cột của văn xuôi phi lí. Khi văn xuôi phi lí phát triển đến đỉnh cao thì loại hình văn học phi lí chuyển sang một địa hạt mới - địa hạt của kịch phi lí và sân khấu. Đại diện xuất sắc nhất là hai nhà viết kịch Iônexcô và Bêcket. Sau hai đại diện tiêu biểu này, một số tác giả khác cũng có đóng góp ít nhiều cho kịch phi lí: Max Frisch (nhà văn Thụy Sĩ , 1911 -1991), Adamov, Harold Pinter (nhà soạn kịch người A nh)... Tuy nhiên đến giai đoạn này thì văn học phi lí gần như lắng lại, chỉ còn vang vọng những dư âm. 1.1.2.3. Đóng góp của văn học phi lí đối với văn học nhân loại 1.1.2.3.1. Đóng góp về nhận thức Đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của những cuộc khủng hoảng xã hội gay gắt và ảnh hưởng của chủ nghĩa phi lí tính, vấn đề có tồn tại hay không tồn tại cái phi lí trong đời sống đã trở thành một câu hỏi được nhiều người quan tâm. Do đó, cái phi lí đã trở thành một đối tượng nhận thức chủ yếu của các nhà văn. Một số nhà văn đã trở thành nhà triết học và tư tưởng của họ thế hiện qua các sáng tác đã đóng góp giá trị nhận thức cho triết học về cái phi lí. Có quan niệm cho rằng những gì tồn tại trái với những qui tắc lôgic thông thường đều bị coi là cái phi lí. Nhưng thực tế cho thấy cái phi lí có một tính chất rất tương đối, vì không thê có các qui tắc lôgic chung cho mọi lĩnh vục, mà mỗi lĩnh vục lại có một lôgic riêng của nó. Do đó, một vật tở ra là phi lí xét theo một phương diện nào đó thì vẫn có thể là hợp lôgic nếu xét theo một phương diện khác. Như vậy là trong cuộc sống có tồn tại sự phi lí, nhưng sự phi lí đó chỉ tồn tại trong một mối quan hệ với những tiêu chí nhất định. Do Ngô Mai Liên 21 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đó, nó là một thái độ nhận thức của con người đối với thế giới, đối với cuộc sống. Rõ ràng, cái phi lí là một thực tại hiển nhiên và tất yếu của đời sống xã hội con người. Trong những sáng tác của Kafka, chúng ta thấy phi lí là kết quả của hiện tượng tha hóa và của hiện tượng áp đặt độc đoán. Cái phi lí của Kafka là cái phi lí khách quan, bất khả tri. Ở Camus, cái phi lí cũng là kết quả của hiện tượng tha hóa, nhưng ông nhấn mạnh đến tính chủ quan của cái phi lí. Camus cho rằng phi lí là sự ngăn cách giữa một bên là ý nguyện muốn tìm hiểu thế giới thực tại với một bên là sự u tối của thế giới đó. Cái phi lí nảy sinh ở sự tuyệt giao giữa lí trí với thực tại khách quan. Từ cái phi lí của Kafka đến cái phi lí của Camus có một sự tiến triển quan trọng về cấp độ nhận thức cái phi lí: đó là sự tiến triển từ nhận thức khách quan một cách đơn thuần đổi với cái phi lí đến lập luận nghi vấn chủ quan mang tính phát giác sự phi lí. Ngoài ra, Camus còn tiến xa thêm một bước nữa: từ lập luận nghi vấn ông còn đi đến hành động cụ thế, chiến đấu chống lại cái phi lí. Cuộc chiến đấu đó được thế hiện trong quan điếm triết học của ông về sự nối loạn, nhưng trong văn học thì nó được thế hiện trong cuộc đấu tranh bền bỉ của những con người bình thường nhưng có tình yêu đồng loại cao cả. Camus không chỉ đặt vấn đề mà còn phần nào thực hiện việc giải quyết vấn đề. Đây chính là sự tiến bộ vượt bậc của ông so với Kafka. Camus cũng là trường hợp điến hình văn học của chủ nghĩa hiện sinh. Ớ ông, cái phi lí được lĩnh hội sâu sắc trong ý thức chủ quan của con người. Trong quan điêm của chủ nghĩa hiện sinh, sự tồn tại (hay là cái hiện sinh) không còn là một thực tại khách quan, độc lập với ý thức, mà nó gắn liền rất chặt chẽ với tính chủ quan, với ý thức và phương thức tồn tại của con người. Trong khi đó, ở Kafka cái phi lí vẫn nằm ngoài ý thức con người. Chính vì vậy mà Kafka Ngô Mai Liên 22 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chỉ là người mở đường cho văn học hiện sinh về việc khai thác mảng đề tài phi lí chứ ông không phải là nhà văn hiện simh chủ nghĩa như có người quan niệm. Tính khách quan của Kafka và tính chủ quan của chủ nghĩa hiện sinh là hai yếu tố căn bản để ta phân biệt Kafka với chủ nghĩa hiện sinh. Như vậy có thể thấy rằng trong văn học hiện sinh chủ nghĩa có văn học phi lí, nhưng văn học phi lí không phải chỉ là văn học hiện sinh chủ nghĩa. Tức là văn học phi lí và văn học hiện sinh chủ nghĩa có một sự chồng lấn lên nhau chứ không trùng khít với nhau. Cái phi lí trong văn học phương Tây dù là của Kafka hay của Camus đều không phải là cái phi lí siêu hình mà nó có nguồn gốc trong thực tế cuộc sống của xã hội phương Tây. Đây chính là nguồn gốc và cũng là đối tượng nhận thức của văn học phi lí. Tóm lại, cái phi lí thực sự có tồn tại trong đời sống con người. Đen giai đoạn khủng hoảng của xã hội thì nó bộc lộ rõ ràng nhất, tác động trước hết đến văn học và các nhà văn là người phát ngôn. Đây chính là đóng góp về mặt nhận thức của văn học phi lí. 1.1.2.3.2. Đóng góp về tư tưởng đạo lí - nhân văn Các sáng tác của những nhà văn phi lí đã vạch rõ vấn đề về thân phận con người trong một thời đại có nhiều biển động. Đó là sự tha hóa đã làm cho đời sống con người trở nên vô nghĩa. Con người nhỏ bé luôn sống trong tâm trạng khắc khoải, lo âu, sợ hãi. Các nhà văn đã chỉ ra cuộc đời là cả một sự phi lí. Camus tùng nói: “Thế giới này là phi lí. Tất cả các khoa học trên Trái Đất này cũng không thê chứng minh được rằng thế giới này là của chúng ta”. Và khi phản ánh cái phi lí của cuộc đời, các nhà văn đã cho thấy sự khủng hoảng của xã hội tư bản, đồng thời thế hiện sự cảm thông, chia sẻ, sự trăn trở của nhà văn trước xã hội bất công. Ngô Mai Liên 23 K33A - Ngữ Văn Khoá luận tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Và các nhà văn đã chủ trương sẽ dùng cái phi lí đế chống lại cái phi lí của cuộc đời. Có thể nói, trong nhiều trường hợp, việc nhấn mạnh đến mặt đạo lí nhân văn của văn học phi lí đã làm cho tác phẩm văn học phi lí có được tính chất của chủ nghĩa nhân đạo rất sâu sắc. Đây là khía cạnh quan trọng nhất giúp cho văn học phi lí có được những giá trị nhân văn để không sa vào sự phi lí của một thứ “nghệ thuật vị nghệ thuật”. 1.1.2.3.3. Đóng góp về thủ pháp nghệ thuật Văn học phi lí được thể hiện ở những thể loại văn học khác nhau với những thể loại văn khác nhau với những thủ pháp nghệ thuật có phần khác nhau. Mồi nhà văn đã tìm cho mình một lối viết riêng độc đáo. Ở Kafka là thủ pháp diễn đạt cái không thể diễn đạt, là thủ pháp mô tả nhân vật vắng mặt. Trong thử gửi người bạn gái Milena, Kafka đã viết: “Anh luôn cố gang tìm cách thông báo cái không thê thông báo, lí giải cái không th ể lỉg iả i” [dẫn theo 8 - tr.90]. Trong Vụ án, đại diện pháp luật là những nhân vật hoàn toàn vắng mặt, nhưng dưới ngòi bút của tác giả, chúng hiện ra mò' ảo như một bóng ma bao trùm lên toàn bộ tác phâm, chi phối lối sống của các nhân vật. Cùng với thủ pháp mô tả nhân vật vắng mặt là môtip mê cung. Nhân vật trong tác phẩm thường tồn tại trong một mê cung phức tạp, luẩn quẩn, không xác định đích cần tới. Đoc Vụ án, ta thấy hiện lên một thế giới mê cung với những dãy hành lang dẫn đến căn phòng xử án vô hình. Đe mô tả cái vô hình, Kafka còn dùng thủ pháp huyền thoại hóa. Không gian, thời gian đều là những yếu tố phi xác định. Sự việc trong Vụ án, Lâu đài diễn ra tại một nơi không có địa danh và trong một thời gian không xác định. Thủ pháp huyền thoại hóa còn được thể hiện ở đặc điểm nhân vật trong tác phẩm là nhân vật vô danh - những nhân vật không tên. Trong sáng Ngô Mai Liên 24 K33A - Ngữ Văn
- Xem thêm -