Khảo sát tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc ninh năm 2014

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI ĐINH XUÂN ĐẠI KHẢO SÁT TÍNH SẴN CÓ VÀ GIÁ THUỐC THIẾT YẾU CHO TRẺ EM TẠI TỈNH BẮC NINH NĂM 2014 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ HÀ NỘI – 2014 BỘ Y TẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI ĐINH XUÂN ĐẠI KHẢO SÁT TÍNH SẴN CÓ VÀ GIÁ THUỐC THIẾT YẾU CHO TRẺ EM TẠI TỈNH BẮC NINH NĂM 2014 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thanh Hương Nơi thực hiện: Bộ môn Quản lý và kinh tế dược HÀ NỘI – 2014 LỜI CẢM ƠN Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS. Nguyễn Thị Thanh Hương - phó trưởng Bộ môn Quản lý và kinh tế dược, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn anh Đồng Duy Trường - hiệu phó trường Cao đẳng y tế Bắc Ninh; cán bộ, nhân viên phòng Nghiệp vụ dược - Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu trên địa bàn tỉnh. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên của các bệnh viện, các trạm y tế xã; quản lý và nhân viên các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới chị Kiều Thị Tuyết Mai và các thầy cô trong Bộ môn Quản lý và kinh tế dược đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận. Tôi vô cùng biết ơn các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức bổ ích trong thời gian học tập tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, ông bà và người thân trong gia đình tôi đã nuôi dạy tôi trưởng thành, luôn nâng đỡ và cho tôi nhiều bài học quý giá trong cuộc sống. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn Lê Bá Nam, bạn Trần Thị Ngọc Mai, bạn Trần Hải Đăng, bạn Phan Thị Hường và tất cả bạn bè của tôi đã luôn sát cánh bên tôi, luôn động viên và giúp đỡ tôi cả trong học tập và trong cuộc sống. Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2014 Sinh viên Đinh Xuân Đại MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 3 1.1. Thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO …………………………..……..………….…...……...……. 3 1.1.1. Khái niệm thuốc thiết yếu ……………………………...…..……..… 3 1.1.2. Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu trên thế giới và ở Việt Nam ……………………..……..….. 3 1.1.2.1. Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ……………………..… 3 1.1.2.2. Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở một số nước trên thế giới……………………………………………………………………..…… 4 1.1.2.3. Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam ………….…….……..... 5 1.1.2.4. Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ……………..…………... 6 1.1.3. Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành …………. 7 1.2. Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam trong những năm qua …………………………………………………...... 9 1.2.1. Kết quả đạt được và những tiến bộ về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam …………………………………………………………… 9 1.2.1.1. Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại Việt Nam ……….….….… 9 1.2.1.2. Về giá thuốc tại Việt Nam …………………..…….…….……….. 10 1.2.2. Các khó khăn và thách thức ………………………………………… 11 1.2.2.1. Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu ………………………………. 11 1.2.2.2. Về giá thuốc ……………………………………………………… 11 1.3. Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở một số khu vực, quốc gia trên thế giới ……………….………………………. 13 1.3.1. Tính sẵn có của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Ấn Độ ………. 13 1.3.2. Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Guatelama ……….. 15 1.3.3. Tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ở Thiểm Tây, Trung Quốc ……………………………………………………………………….. 17 1.4. Sơ lƣợc về tỉnh Bắc Ninh …………………………………………..... 18 Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu ….…………………… 20 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………….. 20 2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu …………………………………... 20 2.2. Danh mục các thuốc đƣợc khảo sát ………………………………… 20 2.2.1. Các thuốc cốt lõi được khuyến cáo …………………………………. 20 2.2.2. Một số thuốc khảo sát bổ sung cho tỉnh Bắc Ninh ………………...... 21 2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu …………………………….……………… 23 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu …………………………………………………. 23 2.3.2. Kỹ thuật chọn mẫu và cỡ mẫu nghiên cứu ………………………...... 23 2.3.3. Tiến trình thu thập dữ liệu ………………………………………..…. 25 2.4. Các thông số để đánh giá tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ……..…………………………………………………………………… 26 2.4.1. Phần trăm tính sẵn có của thuốc …………………………………...... 26 2.4.2. Tỷ lệ giá trung vị MPR (Median Price Ratio) …………..……….. 27 2.4.3. Tứ phân vị và khoảng tứ phân vị …………………………………..... 28 Chƣơng 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29 3.1. Tính sẵn có của các thuốc khảo sát ………………………………… 29 3.1.1. Tính sẵn có của từng loại thuốc trong các cơ sở khảo sát ………....... 29 3.1.2. Tính sẵn có trung bình của các thuốc ở từng khu vực khảo sát …….. 33 3.1.3. Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ 6 (EML) ……………………………………………... 34 3.1.4. Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần thứ 4 của WHO (EMLc) ………………………………. 34 3.1.5. Tính sẵn có trung bình của năm thuốc khảo sát bổ sung …………… 35 3.1.6. Tính sẵn có trung bình của các thuốc ở từng vùng khảo sát ……….. 36 3.1.7. Tính sẵn có của một số thuốc điều trị tiêu chảy ……………………. 36 3.1.8. Tính sẵn có của một số kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn hô hấp ….. 37 3.2. Giá thuốc thiết yếu cho trẻ em ……………………………………… 39 3.2.1. Tỷ lệ giá trung vị của từng thuốc ở khu vực công lập và khu vực tư nhân ………………………………………………………………………... 39 3.2.1.1. Khu vực công lập ………………..………………………………. 39 3.2.1.2. Khu vực tư nhân …………………………..……………………... 40 3.2.2. Trung vị MPRs của các thuốc được tìm thấy ở hai khu vực khảo sát 41 3.2.2.1. Khu vực công lập …………..……………………………………. 41 3.2.2.2. Khu vực tư nhân …………..……………………………………... 41 3.2.3. So sánh giá bệnh nhân chi trả ở khu vực công lập với khu vực tư nhân ……………………………….……………………………………….. 42 3.2.4. So sánh thuốc giá cao nhất và thuốc giá thấp nhất qua trung vị MPRs của các thuốc tìm thấy ở cả 2 loại sản phẩm ………………………………. 43 3.2.5. So sánh tỷ lệ giá trung vị của một số thuốc giữa hai khu vực …...….. 43 BÀN LUẬN 45 KẾT LUẬN 57 KIẾN NGHỊ 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT BHYT BMC Bảo hiểm y tế Better Medicines for Children Thuốc tốt hơn cho trẻ em BV Bệnh viện BV ĐK Bệnh viện đa khoa BYT Bộ Y tế CN Cao nhất (giá thuốc) cs Cơ sở CSSK Chăm sóc sức khỏe EML Essential Medicines List Danh mục thuốc thiết yếu EMLc Essential Medicines List for Danh mục thuốc thiết yếu cho Children trẻ em Huyện Thuận Thành H TT HAI Health Action International Y tế hành động quốc tế IDPIG International Drug Price Indicator Hướng dẫn Chỉ số giá thuốc Guide quốc tế Joint Annual Health Review Báo cáo chung tổng quan JAHR ngành y tế hàng năm KCB Khám chữa bệnh KV Khu vực MPR Median Price Ratio Tỷ lệ giá trung vị Các giá trị MPR MPRs MSH Management Sciences for Health Khoa học quản lý về Y tế NRHM National Rural Health Mission Sứ mệnh Y tế nông thôn quốc gia Phòng khám đa khoa PK ĐK PROAM Programa de Accesibilidad a los Một tập hợp con của khu vực Medicamentos công lập ở Guatelama sc Sẵn có TN Thấp nhất (giá thuốc) TP BN Thành phố Bắc Ninh TTY Thuốc thiết yếu TX TS Thị xã Từ Sơn TYT Trạm Y tế UNFPA United Nations Population Fund Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc UNICEF United Nations Children's Fund Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc UNHCR United Nations High Commissioner Cao ủy Liên Hiệp Quốc về for Refugees người tị nạn USD United States Dollar Đô la Mĩ WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới WMFC WHO Model Formulary for Công thức thuốc cho trẻ em của Children Tổ chức Y tế thế giới DANH MỤC BẢNG Tên bảng Nội dung Trang Bảng 1.1 Danh sách các thuốc được khảo sát ở Ấn Độ 14 Bảng 1.2 Tính sẵn có của từng thuốc tại các cơ sở khảo sát ở Ấn Độ 14 Bảng 1.3 Các đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Ninh 19 Bảng 2.4 Danh mục các thuốc khảo sát 22 Bảng 2.5 Số lượng các cơ sở tại mỗi vùng khảo sát 24 Bảng 3.6 Tính sẵn có của từng thuốc ở khu vực công lập và khu vực tư nhân 30 Bảng 3.7 Tính sẵn có trung bình và độ lệch chuẩn của tất cả các thuốc khảo 33 sát Bảng 3.8 Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục EML 34 Bảng 3.9 Tính sẵn có trung bình của các thuốc thuộc Danh mục EMLc 35 Bảng 3.10 Tính sẵn có trung bình của các thuốc bổ sung 35 Bảng 3.11 Tính sẵn có trung bình của thuốc ở từng vùng khảo sát (khu vực tư 36 nhân) Bảng 3.12 Tỷ lệ giá trung vị cho các thuốc được tìm thấy ở khu vực công lập 39 Bảng 3.13 Tỷ lệ giá trung vị cho các thuốc được tìm thấy ở khu vực tư nhân 40 Bảng 3.14 Trung vị MPRs của tất cả các thuốc được tìm thấy ở khu vực công 41 lập Bảng 3.15 Trung vị MPRs của tất cả các thuốc được tìm thấy ở khu vực tư 42 nhân Bảng 3.16 Trung vị MPRs của các thuốc được tìm thấy đồng thời ở cả hai khu 42 vực công lập và khu vực tư nhân Bảng 3.17 So sánh nhóm thuốc giá cao nhất và nhóm thuốc giá thấp nhất: 43 Trung vị MPRs của các thuốc được tìm thấy ở cả hai nhóm sản phẩm Bảng 3.18 Tỷ lệ giữa MPR của thuốc giá cao nhất với thuốc giá thấp nhất 44 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Tên Nội dung Trang Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh 18 Hình 3.2 Tính sẵn có của các thuốc điều trị tiêu chảy ở khu vực 37 công lập và khu vực tư nhân (nhóm thuốc giá thấp nhất) Hình 3.3 Tính sẵn có của một số kháng sinh điều trị nhiễm khuẩn 38 hô hấp ở khu vực công lập và khu vực tư nhân (nhóm thuốc giá thấp nhất) Hình 3.4 Tỷ lệ giá trung vị của các thuốc có giá cao nhất và giá 44 thấp nhất được tìm thấy ở cả khu vực công lập và khu vực tư nhân Hình 3.5 Tính sẵn có của một số thuốc giá thấp nhất tại tỉnh Bắc 53 Ninh và Thiểm Tây khu vực công lập Hình 3.6 Tính sẵn có của một số thuốc giá thấp nhất tại tỉnh Bắc Ninh và Thiểm Tây khu vực tư nhân 54 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, năm 2012 có khoảng 6,6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong. Trong đó có trên 70% trường hợp trẻ tử vong xảy ra ở Châu Phi và Đông Nam Á [60]. Các nguyên nhân tử vong hàng đầu là viêm phổi, biến chứng sinh non, ngạt sinh, tiêu chảy và sốt rét. Hơn một nửa số trường hợp trẻ em chết sớm là do những bệnh mà có thể được phòng ngừa hoặc chỉ cần điều trị đơn giản [38]. Tình trạng thiếu thuốc dành cho nhi khoa hiện đang là vấn đề mang tính toàn cầu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Thậm chí ngay cả khi thuốc sẵn có thì bệnh nhân hoặc người nhà có thể không có khả năng chi trả [28]. Nhiều trẻ em không được tiếp cận với những điều trị cần thiết vì không tồn tại dạng chế phẩm thuốc phù hợp, vì thuốc không sẵn có hoặc giá quá đắt [27]. Việt Nam tuy đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân nhưng vẫn còn một số khó khăn, thách thức. Một trong những khó khăn hàng đầu đó là còn tồn tại một lượng lớn trẻ em tử vong hàng năm. Năm 2010, tỷ lệ trẻ em chết dưới 1 tuổi là 15,8‰, tỷ lệ trẻ em chết dưới 5 tuổi là 25‰. Hàng năm nước ta vẫn có tới 31.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong trong đó có khoảng 16.000 trẻ sơ sinh. Nhiễm khuẩn hô hấp dưới (viêm phổi) là nguyên nhân chính của gánh nặng bệnh tật ở trẻ em, chiếm 11% tổng gánh nặng bệnh tật [15]. Trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm trong vấn đề sử dụng thuốc vì nhiều cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện đầy đủ. Có nhiều khác biệt cả về dược động học lẫn dược lực học của thuốc ở trẻ so với người lớn [4]. Tại nhiều nơi trên thế giới, có không ít loại thuốc được kê đơn cho bệnh nhi mà không theo hướng dẫn chính thức nào cả, nghĩa là ảnh hưởng của chúng đối với trẻ chưa từng được nghiên cứu và phê chuẩn [38]. Thuốc được sản xuất riêng cho trẻ em hiện còn rất hạn chế nên các bác sĩ và nhiều phụ huynh thường có thói quen giảm liều dành cho người lớn xuống bằng cách bẻ nhỏ viên thuốc để cho bệnh nhi dùng. Nhưng trẻ em không phải là “người lớn thu nhỏ” nên cơ thể có thể có các phản ứng khác, dẫn đến quá liều, gây ra các tác dụng phụ hoặc chưa đủ liều khiến việc điều trị thất bại [43]. 2 Với sự phát triển ồ ạt của ngành Dược trong giai đoạn hiện nay làm cho số chế phẩm thuốc xuất hiện ngày càng nhiều. Tính đến tháng 7 năm 2013, có 15.799 loại thuốc trong nước và 12.860 thuốc nước ngoài được cấp số đăng ký [47]. Trên thị trường còn có nhiều loại thuốc giả, thuốc kém chất lượng, không rõ nguồn gốc lưu hành làm cho lượng thuốc lưu hành trên thị trường trong nước còn lớn hơn nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lý [16]. Một số biện pháp bình ổn giá thuốc đã được thực hiện trong những năm qua nhưng việc kiểm soát giá thuốc trên thị trường Việt Nam vẫn còn là 1 thách thức lớn. Đấu thầu thuốc chưa có hiệu quả trong việc giảm giá thuốc ở bệnh viện. Giá thuốc ở Việt Nam vẫn còn cao hơn giá tham khảo quốc tế kể cả thuốc biệt dược lẫn thuốc gốc [7], [15]. Thu thập các bằng chứng về tính sẵn có và giá thuốc là bước đầu tiên trong việc cải thiện khả năng tiếp cận các điều trị với giá cả phải chăng. Tháng 5 năm 2003, Tổ chức Y tế thế giới hợp tác với Y tế hành động quốc tế phát triển một phương pháp tiêu chuẩn để khảo sát giá thuốc, tính sẵn có, khả năng chi trả và thành phần giá [41]. Kể từ đó, việc tiếp cận thuốc thiết yếu đã được nghiên cứu rộng rãi bằng cách sử dụng phương pháp WHO/HAI. Tuy nhiên mới chỉ có một số ít các nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới đo lường tính sẵn có và giá thuốc cho trẻ em và Việt Nam không nằm trong số các quốc gia đó. Với một số lượng còn nghèo nàn các nghiên cứu về tính sẵn có và giá thuốc dành cho trẻ em trên thế giới, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm 2014” theo phương pháp tiêu chuẩn của WHO/HAI với 2 mục tiêu: - Mô tả thực trạng về tính sẵn có của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm 2014 - Phân tích giá của một số thuốc thiết yếu cho trẻ em tại tỉnh Bắc Ninh năm 2014 Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích ngày càng nâng cao công tác đảm bảo chất lượng chăm sóc và điều trị cho trẻ. 3 Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1.1. Thuốc thiết yếu, Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO 1.1.1. Khái niệm thuốc thiết yếu Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đại đa số nhân dân, được quy định tại danh mục thuốc thiết yếu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành [11]. Các thuốc thiết yếu được lựa chọn phải đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) có hiệu lực phòng và chữa bệnh cao; (2) an toàn trong điều trị; (3) giá thành điều trị hợp lý; (4) có dạng bào chế (dạng chế phẩm, nồng độ, hàm lượng) dễ sử dụng; (5) phù hợp với trình độ chuyên môn của nhân viên y tế; (6) phù hợp với các phương tiện, trang thiết bị để sử dụng, bảo quản tại các tuyến y tế; (7) có sự ưu tiên nhất định cho các thuốc sản xuất trong nước [1]. 1.1.2. Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, các chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.2.1. Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO Năm 1975, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra quan niệm về thuốc thiết yếu và khuyến nghị các quốc gia xây dựng một đường lối, chính sách về thuốc từ nghiên cứu, sản xuất cho đến phân phối sao cho phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, luôn sẵn có các thuốc với chất lượng đảm bảo, dạng dùng phù hợp và giá cả hợp lý. Nhóm ủy ban chuyên gia của WHO về lựa chọn và sử dụng thuốc thiết yếu gặp nhau 2 năm một lần để xem xét các bằng chứng khoa học mới nhất về hiệu quả, tính an toàn và chi phí của các loại thuốc [61]. Cho đến nay, Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO đã qua 17 lần thay đổi [62]. Danh mục thuốc thiết yếu mẫu lần thứ 18 được lựa chọn với sự hỗ trợ của nhóm ủy ban cố vấn trong 4 hội nghị từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 4 năm 2013 tại Geneva, Thụy Sĩ với sự tham gia của 11 thành viên ủy ban và 5 cố vấn tạm thời [39]. Danh sách thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành có vai trò như là một hướng dẫn cho tất cả các nước trên thế giới phát triển Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia. Các thuốc nằm trong danh mục được lựa chọn dựa trên tỷ lệ nhiễm bệnh, các bằng chứng về tính hiệu quả, tính an toàn và so sánh hiệu quả chi phí của thuốc. Danh mục các thuốc thiết yếu không những có thể giúp cải thiện tính sẵn có và khả năng sử dụng thuốc hợp lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe mà còn giúp hướng dẫn việc mua sắm, cung ứng thuốc trong khu vực công, hướng dẫn các đề án hoàn trả chi phí y tế, đóng góp y học và sản xuất thuốc trong nước [64]. Tuy không được thiết kế như là một tiêu chuẩn toàn cầu nhưng trong hơn 30 năm qua, Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành đã nhận được sự chấp thuận toàn cầu về khái niệm thuốc thiết yếu như là một công cụ hiệu quả để thúc đẩy bình đẳng y tế [64]. Hầu hết các nước trên thế giới đều có Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, thậm chí một số quốc gia còn có danh mục riêng cho các tiểu bang hoặc các tỉnh [65]. Nhiều tổ chức quốc tế bao gồm UNICEF, UNHCR, UNFPA cũng như các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan cung ứng phi lợi nhuận quốc tế khác cũng đã áp dụng khái niệm thuốc thiết yếu và hệ thống cung ứng thuốc của họ dựa vào Danh mục thuốc thiết yếu mẫu của WHO ban hành [66]. 1.1.2.2. Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở một số nước trên thế giới Tại Trung Quốc, trong năm 2009, chính phủ đã xác định chính sách về thuốc thiết yếu là một trong năm lĩnh vực ưu tiên cho cải cách hệ thống y tế. Kể từ đó, một chính sách thuốc thiết yếu quốc gia đã được ban hành cùng với các kế hoạch để thực hiện [47]. Nhiều chính sách y tế được ban hành nhằm tiêu chuẩn hóa việc kê đơn và ưu tiên sử dụng thuốc thiết yếu; giảm giá thuốc thiết yếu và đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc thiết yếu đạt chất lượng cho toàn dân; đảm bảo cung ứng các loại thuốc an toàn và cần thiết cho điều trị các bệnh nhi khoa; đẩy mạnh các hoạt động 5 quản lý về thuốc. Danh mục thuốc thiết yếu mới nhất của Trung Quốc được ban hành trong năm 2013 đã đáp ứng các nhu cầu điều trị lâm sàng cơ bản, giúp đảm bảo tính sẵn có của thuốc, điều chỉnh dịch vụ y tế, giảm chi phí điều trị, có lợi cho công tác tiêu chuẩn hóa quá trình đấu thầu và thu mua thuốc. Trong danh mục này có 520 thuốc thiết yếu mới được thiết lập riêng cho trẻ em [57], [67]. Ngoài ra ở Trung Quốc, mỗi tỉnh còn có thể lựa chọn các thuốc bổ sung để lập nên một danh mục thuốc riêng cho tỉnh mình và đã có nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả trong việc lựa chọn các thuốc bổ sung ở mỗi tỉnh này [29]. Tanzania là nước đầu tiên ban hành Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia vào năm 1970, trước cả danh mục mẫu do WHO ban hành [21]. Hiện nay, Tanzania có nhiều chính sách nhằm đảm bảo tất cả mọi người được tiếp cận với thuốc thiết yếu mà họ cần và có khả năng chi trả; đảm bảo các thuốc an toàn, hiệu quả và có chất lượng tốt; các thuốc được kê đơn, phân phối và sử dụng hợp lý [63]. Tại nhiều quốc gia như Phillipin, Malawi… cũng có những chính sách nhằm lựa chọn và cung ứng thuốc thiết yếu với giá cả hợp lý, chất lượng phù hợp và xem việc xây dựng chính sách thuốc thiết yếu là một trong những nội dung cơ bản của chính sách thuốc quốc gia [1]. 1.1.2.3. Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam Năm 1985, Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ I. Danh mục này sau đó đã được cập nhật, điều chỉnh và ban hành vào các năm 1989, 1995, 1999 và 2005 [7]. Danh mục thuốc thiết yếu lần thứ VI đang dần được hoàn thiện, trong đó Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần thứ VI đã được ban hành vào tháng 12 năm 2013 [6]. Danh mục này được lựa chọn trên nguyên tắc kế thừa Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V [2] đồng thời tham khảo Danh mục thuốc thiết yếu mẫu lần thứ 18 của WHO và các hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế; phù hợp với các chính sách, pháp luật về dược, thực tế sử dụng và khả năng bảo đảm cung ứng thuốc của Việt Nam. Tiêu chí lựa chọn thuốc bao gồm: (1) bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người sử dụng; (2) sẵn có với số lượng đầy đủ, có dạng bào chế phù hợp 6 với điều kiện bảo quản, cung ứng và sử dụng; (3) phù hợp với mô hình bệnh tật, phương tiện kỹ thuật, trình độ của thầy thuốc và nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; (4) giá cả hợp lý; (5) đa số là đơn chất, nếu là đa chất phải chứng minh được sự kết hợp đó có lợi hơn so với khi dùng từng thành phần riêng rẽ về tác dụng và độ an toàn; trường hợp có hai hay nhiều thuốc tương tự nhau phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá đầy đủ về hiệu lực, độ an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng [6]. Số lượng thuốc cũng như dạng đóng gói đều thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào mô hình bệnh tật cũng như điều kiện kinh tế xã hội của thời điểm ban hành danh mục. Các thuốc được lựa chọn là những thuốc generic sẵn có, có hiệu lực cao, ít tác dụng phụ, ít độc và rẻ tiền [7]. Bên cạnh Danh mục thuốc thiết yếu quốc gia, tháng 7 năm 2011, Bộ Y tế ban hành Danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các sơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán làm nền tảng cho các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn thuốc, đảm bảo nhu cầu điều trị và thanh toán cho các đối tượng bệnh nhân có thẻ bảo hiểm. Danh mục này không những góp phần giúp đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh mà còn đảm bảo quyền lợi cho các bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế, phù hợp với khả năng kinh tế của người bệnh và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm [5]. 1.1.2.4. Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu ở Việt Nam với mục tiêu chung là: (1) Nhà nước đảm bảo bằng chính sách, cơ chế và biện pháp cung cấp thuốc thiết yếu cho công tác phòng chữa bệnh cho nhân dân trong toàn quốc; (2) Bộ Y tế xây dựng và phổ biến danh mục quốc gia về thuốc thiết yếu và triển khai việc sản xuất, cung ứng thuốc thiết yếu đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong từng thời kỳ [1]. Chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu bao gồm 10 nội dung chính: (1) lựa chọn TTY và ban hành danh mục TTY; (2) danh pháp TTY; (3) sản xuất TTY; (4) cung ứng TTY; (5) kê đơn, hướng dẫn sử dụng an toàn, hợp lý TTY; (6) chất lượng TTY; (7) thông tin về TTY; (8) đào tạo nhân viên y tế; (9) hợp tác 7 trong nước và hợp tác quốc tế; (10) các điều khoản đảm bảo cho việc thi hành chính sách. Mười nội dung trên đều có các mục tiêu và chính sách cụ thể riêng cho từng nội dung. Bên cạnh đó còn có các chính sách cung ứng thuốc dự trữ phòng chống dịch bệnh, thiên tai; cung ứng thuốc cho các đối tượng chính sách xã hội; chính sách thuốc cho phòng và điều trị các bệnh xã hội và y tế công cộng; chính sách thuốc cho bảo hiểm y tế [1]. 1.1.3. Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành Năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới kỷ niệm 30 năm ngày ban hành Danh mục thuốc thiết yếu. Nhìn lại tiến độ thực hiện trong những năm đã qua cho thấy có một nhu cầu cần thiết của nhiều loại thuốc được phát triển và thử nghiệm đặc biệt để sử dụng cho trẻ em. Tháng 10 năm 2007, Tổ chức Y tế thế giới đưa ra chiến dịch “Tạo cỡ thuốc cho trẻ em” nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề này giữa các nhà ban hành chính sách, các nhà sản xuất dược phẩm, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và cộng đồng [58]. Cũng trong năm 2007, Hội đồng Y tế Thế giới đã thông qua một Nghị quyết có tiêu đề “Thuốc tốt hơn cho trẻ em”. Nghị quyết này công nhận sự cần thiết phải nghiên cứu và phát triển các thuốc chữa bệnh cho trẻ em bao gồm các dạng bào chế tốt hơn, các bằng chứng và các thông tin tốt hơn về cách sử dụng thuốc để đảm bảo rằng các loại thuốc dùng để điều trị các bệnh thông thường ở trẻ được đưa ra đúng liều cho trẻ ở mọi lứa tuổi [35]. Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em lần đầu tiên được Tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 2007 đã xác định ra các loại thuốc nên có sẵn để sử dụng cho đối tượng là trẻ em từ 0 đến 12 tuổi. Lần đầu tiên những người có chuyên môn y học được tiếp cận với thông tin chuẩn về liều lượng, đường dùng, tác dụng phụ, chống chỉ định của các thuốc sử dụng cho trẻ [58]. Đến nay, Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em của WHO ban hành đã qua bốn lần thay đổi: lần thứ nhất ban hành danh mục vào tháng 10 năm 2007 [32], lần thứ 2 vào tháng 3 năm 2009 [34], lần thứ 3 vào tháng 3 năm 2011 [37] và lần thứ 4 8 vào tháng 4 năm 2013 [40]. Các thuốc trong danh mục được sắp xếp theo các nhóm tác dụng dược lý và được chia thành 2 cột: cột thứ nhất là tên của các hoạt chất, cột thứ 2 mô tả dạng bào chế, đường sử dụng, liều lượng, các chú ý khi sử dụng của từng thuốc và các thuốc này được sử dụng cho trẻ sơ sinh đến trẻ 12 tuổi [40]. Trẻ em là đối tượng dùng thuốc cần được đặc biệt quan tâm do cơ thể trẻ có những khác biệt với người lớn. Nhiều cơ quan trong cơ thể trẻ còn chưa hoàn thiện về mặt chức năng do đó các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ thuốc có rất nhiều điểm khác biệt so với lứa tuổi trưởng thành [52]. Việc sử dụng thuốc hợp lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là một thách thức lớn cho những người kê đơn. Sự khác biệt về sinh lý giữa trẻ em và người lớn bao gồm sự phát triển của các cơ quan và thành phần cơ thể có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, hiệu quả và tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu về dược động học và dược lực học của thuốc trên đối tượng là trẻ em được cung cấp khá ít, nếu có thì các thông tin về hoạt động của thuốc thường chỉ được hướng dẫn cho người lớn [4]. “Công thức thuốc cho trẻ em của WHO” (WMFc) [35] là một tài liệu được Tổ chức Y tế thế giới xây dựng trên cơ sở Danh mục thuốc thiết yếu cho trẻ em. WMFc cung cấp các hướng dẫn kê đơn, là một phần trong một loạt các hoạt động của Tổ chức Y tế thế giới đã được thực hiện, một phần của chiến dịch “Tạo cỡ thuốc cho trẻ em” và “Thuốc tốt hơn cho trẻ em” [58]. Việc ban hành WMFc góp phần giúp cải thiện khả năng tiếp cận các loại thuốc an toàn, hiệu quả và chất lượng tốt cho trẻ bằng cách thúc đẩy nhận thức và các hoạt động thông qua việc nghiên cứu, các biện pháp quản lý và các thay đổi trong các chính sách của chính phủ. Khảo sát về tính sẵn có và giá của thuốc thiết yếu cho trẻ em được thực hiện theo phương pháp tiêu chuẩn được hướng dẫn và phát triển bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hợp tác với Y tế hành động quốc tế (HAI), là một phần trong chương trình “Thuốc tốt hơn cho trẻ em (BMC)”. Phương pháp khảo sát tiêu chuẩn WHO/HAI được mô tả cụ thể trong cuốn “Đo lường giá thuốc, tính sẵn có, khả năng chi trả và thành phần giá (WHO/HAI, 2008)” và có thể truy cập trang web của 9 HAI để tham khảo [41]. Phương pháp này đã được sử dụng để tiến hành khảo sát và nghiên cứu các thuốc thiết yếu cho trẻ em ở một số nước trên thế giới như ở 14 quốc gia của châu Phi năm 2007 [33], Sri Lanka năm 2011 [26], Guatelama năm 2012 [17], tỉnh Thiểm Tây - Trung Quốc năm 2013 [31]… 1.2. Thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam trong những năm qua Tại Việt Nam trong những năm qua, về cơ bản hệ thống y tế đã đáp ứng được nhu cầu thuốc thiết yếu và vắc-xin cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Các cơ sở y tế đều bảo đảm có đủ thuốc phù hợp với phân tuyến kỹ thuật, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc ở cộng đồng [7]. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo đảm cho mọi người dân được tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng ngày càng tốt hơn thông qua các chương trình nâng cấp hệ thống y tế, mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm y tế và tăng nguồn ngân sách Nhà nước cho y tế. Tuy nhiên, cũng như các quốc gia đang phát triển khác, để thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, Việt Nam còn phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức. Sau đây là một số thực trạng về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu được cung cấp trong báo cáo JAHR năm 2013 [7]. 1.2.1. Kết quả đạt được và những tiến bộ về tính sẵn có và giá thuốc thiết yếu tại Việt Nam 1.2.1.1. Về tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại Việt Nam Tại các bệnh viện, việc đấu thầu cung ứng thuốc được tổ chức thực hiện thường xuyên để bảo đảm đủ thuốc cho khám chữa bệnh. Nghiên cứu đánh giá thực hiện chính sách quốc gia về thuốc năm 2005 cho thấy hầu hết các loại thuốc thiết yếu đều có sẵn tại các cơ sở y tế các tuyến. Trong số 35 loại thuốc thiết yếu trong danh mục được lựa chọn để khảo sát, số thuốc trung bình có sẵn tại các quầy thuốc là 26,0 (đạt 74,3%); TYT là 22,4 (đạt 64,0%); quầy thuốc bệnh viện là 26,6 (đạt 76,0%) và ở các nhà thuốc tư là 28,5 (đạt 81,4%) [7]. 10 Theo kết quả khảo sát năm 2010 với 30 thuốc được lựa chọn, tính sẵn có của thuốc thiết yếu tại cơ sở y tế công lập là 55,9%; nhà thuốc bệnh viện là 56,4% và nhà thuốc tư nhân là 55,3%. Tính sẵn có của thuốc thiết yếu giảm dần từ bệnh viện tuyến trung ương (71,7%); bệnh viện tỉnh, thành phố (68,1%) đến bệnh viện huyện (58,8%) và thấp nhất ở TYT xã (28,3%) [16]. Tỷ lệ các hộ gia đình có thuốc trong nhà khá cao. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ này là hơn 70% trong đó có những thuốc còn lại từ lần điều trị trước và có cả những thuốc tích trữ có chủ đích để dùng khi ốm đau. Hộ gia đình có mức thu nhập càng cao, tỷ lệ số thuốc dự trữ càng cao [13]. 1.2.1.2. Về giá thuốc tại Việt Nam Giá thuốc phù hợp với khả năng chi trả là một yếu tố quan trọng trong khung tiếp cận thuốc của WHO [41]. Ở Việt Nam, theo Luật Dược năm 2005, các cơ sở sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn thuốc được tự định giá thuốc trên cơ sở cạnh tranh của thị trường; đồng thời chịu sự quản lý bình ổn giá thuốc của Nhà nước. Giá thuốc thanh toán BHYT trong các bệnh viện công lập được kiểm soát chủ yếu thông qua cơ chế đấu thầu. Kê khai, công bố thông tin về giá nhằm cải thiện tính minh bạch là một trong những cơ chế chính của Việt Nam nhằm ổn định giá thuốc [11]. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy sau một thời gian tăng cao, chỉ số tăng giá nhóm hàng dược phẩm những gần đây đã từng bước được kiềm chế. Trong nhiều năm trở lại đây, mức tăng giá của nhóm hàng dược phẩm luôn thấp hơn mức tăng giá hàng tiêu dùng nói chung. Năm 2012, hàng dược phẩm tăng giá 5,27% trong khi giá hàng tiêu dùng nói chung tăng 6,81% [7]. Không như đối với thuốc gốc, giá thuốc generic ở Việt Nam không cao hơn nhiều so với mức trung bình trên thế giới. Một khảo sát năm 2012 trên 36 mặt hàng thuốc có cùng tên thương mại, cùng hoạt chất, cùng nồng độ và hàm lượng cho thấy 25 mặt hàng thuốc ở Thái Lan và 23 mặt hàng thuốc ở Trung Quốc có giá trúng thầu cao hơn ở Việt Nam từ 1,03
- Xem thêm -