Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình Ohana tại Nhật Bản

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- MỤC LỤC MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1 I. KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN.............................................................2 1.1. Thông tin cơ bản...............................................................................................2 1.1.1. Đặc điểm, thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản.........................................2 1.1.2. Quy mô thị trường...................................................................................3 1.1.3. Đối thủ cạnh tranh..................................................................................4 1.2. Thu thập thông tin sơ cấp qua khảo sát bằng bộ câu hỏi...................................5 1.2.1. Cách thức thu thập thông tin..................................................................5 1.2.2. Bộ câu hỏi điều tra.................................................................................5 1.3. Kết quả nghiên cứu thị trường..........................................................................6 1.3.1 .Thông tin về mẫu nghiên cứu..................................................................6 1.3.2. Đánh giá về tiềm năng của thị trường Nhật Bản....................................7 1.3.3. Thị hiếu của người Nhật đối với sản phẩm bình, lọ gốm sứ....................9 1.3.4. Mức giá người Nhật sẵn sàng chi trả...................................................10 1.3.5. Địa điểm người Nhật thường mua bình hoa gốm sứ.............................10 1.3.6. Phương tiện người Nhật tiếp cận với sản phẩm bình hoa gốm sứ........10 II.KẾ HOẠCH MARKETING CHO SẢN PHẨM.................................................11 2.1. Chiến lược Marketing.....................................................................................11 2.1.1. Điểm mạnh (Strengths).........................................................................11 2.1.2. Điểm yếu (Weaknesses)........................................................................12 2.1.3. Cơ hội (Oppotunities)...........................................................................12 2.1.4. Thách thức (Threats)............................................................................13 2.1.5. Chiến lược marketing của doanh nghiệp..............................................14 2.1.6. Chiến lược E-marketing........................................................................14 2.2. Phân tích Marketing mix................................................................................17 2.2.1. Chiến lược sản phẩm (Product)............................................................17 2.2.2. Chiến lược giá (Price)..........................................................................20 2.2.3. Chiến lược phân phối (Place)...............................................................23 2.2.4. Chiến lược xúc tiến bán hàng (Promotion)...........................................26 KẾT LUẬN................................................................................................................27 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 0 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- MỞ ĐẦU Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, xuất nhập khẩu là hoạt động không thể thiếu đối với sự phát triển của mối quốc gia cũng như đóng vai trò vô cùng quan trọng với nền kinh tế quốc dân. Và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Ở nước ta, một đất nước có phần lớn dân số làm nghề nông, cuộc sống luôn gắn liền với ruộng đất thì việc xuất khẩu những sản phẩm gốm sứ thủ công truyền thống là một hướng phát triển bền vững. Gốm mỹ nghệ Việt Nam là một mặt hàng đặc biệt phản ánh văn hóa truyền thống lâu đời của dân Việt Nam. Bằng khối óc thông minh và bàn tay khéo léo của mình, từ ngàn xưa ông cha ta đã tạo nên bao sản phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của kinh tế xã hội, hàng thủ công mỹ nghệ vẫn giữ được vị trí của nó và duy trì, phát triển cho đến ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà mặt hàng này nằm trong mười mặt hàng chủ lực xuất khẩu của quốc gia. Ngoài ý nghĩa kinh tế là xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thu được nguồn ngoại tệ không nhỏ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán, còn mang ý nghĩa xã hội rất lớn là góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống người dân. Thông qua hoạt động xuất hàng thủ công mỹ nghệ với sản phẩm tinh xảo độc đáo, văn hóa Việt Nam được giới thiệu đến bạn bè trên toàn thế giới. Không như nhưng thị trường EU và Bắc Mỹ, Nhật Bản hiện đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với Việt Nam, với những nét đặc thù về kinh tế, con người và môi trường kinh doanh của Nhật Bản đã và đang đặt ra nhiều những thách thức cũng như cơ hội đối với hàng hóa của Việt Nam nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng khi quyết định thâm nhập thị trường Nhật Bản. Do đó nhóm 4 đã chọn đề tài tiểu luận: “Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình Ohana tại Nhật Bản”. Nhóm xin chân thành cảm ơn PGS, TS Phạm Thu Hương đã hướng dẫn chúng em từ khâu đề cương, đến bộ câu hỏi và cách trình bày để hoàn thành bài tiểu luận này. Đây sẽ là một nguồn tư liệu hữu ích, là kinh nghiệm để mỗi thành viên trong nhóm tự nghiên cứu, áp dụng vào thực tế trong quá trình làm việc. Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 1 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------I. KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN I.1. Thông tin cơ bản 1.1.1. Đặc điểm, thị hiếu người tiêu dùng Nhật Bản: Thị trường Nhật Bản là một thị trường rất khó tính. Người Nhật Bản có một số thị hiếu tiêu dùng đặc trưng như sau: - Thích những sản phẩm đơn giản, nhỏ nhắn, tinh tế và khéo léo hơn những sản phẩm to lớn, lộng lẫy, hoành tráng. Họ ưa chuộng những sản phẩm có mẫu mã đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, người Nhật lại thường chỉ mua sản phẩm với số lượng ít vì không gian nhà ở tương đối nhỏ và còn để tiện thay đổi cho phù hợp mẫu mã mới. Vì vậy qui mô các lô hàng xuất khẩu sang Nhật Bản có xu hướng nhỏ hơn nhưng chủng loại phong phú hơn. - Đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao. Người Nhật Bản luôn đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền, độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt. Họ cho rằng sản phẩm sản xuất thủ công không có nghĩa là chất lượng không tốt. Những khiếm khuyết mà ở các quốc gia khác không có vấn đề như một vết xước nhỏ, đường viền không cân hay màu sơn bị mờ trong một sản phẩm thì ở Nhật Bản được coi là bị hư hỏng. Việc đóng gói sản phẩm chất lượng cao cũng được người Nhật Bản coi là cần thiết. - Nguyên vật liệu tự nhiên: thiên nhiên là người bạn gần gũi và quen thuộc với người Nhật Bản. Do đó những sản phẩm được làm từ chất liệu tự nhiên như gốm đặc biệt được ưa chuộng. - Sản phẩm phải mang bản sắc văn hoá quốc gia sản xuất chúng: người tiêu dùng Nhật Bản rất quan tâm đến những sản phẩm phản ánh tập tục văn hoá, truyền thống kỹ thuật, vật tư và thiết kế tại chính quốc gia đó. - Yếu tố sinh thái: người tiêu dùng Nhật Bản ngày càng quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường ở các đô thị. Họ đòi hỏi bản thân sản phẩm và bao bì phải đạt tiêu chuẩn về môi trường. Thường đó là những bao bì không quá cầu kỳ, sử dụng vật liệu có thể thu hồi, tái chế và dung lại. Đặc biệt đối với mỗi một sản phẩm gốm sứ trang trí, người tiêu dùng Nhật Bản luôn quan tâm đến 3 yếu tố: nguyên liệu sản xuất, phương pháp tạo ra sản phẩm và yếu tố truyền thống thể hiện trong từng sản phẩm. Trong đó, yếu tố truyền thống được người Nhật đặc biệt quan tâm, bởi họ luôn đòi hỏi khi Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 2 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------làm ra sản phẩm người thợ phải “thổi được cái hồn của mình” vào trong từng sản phẩm, mỗi sản phẩm phải có nét độc đáo riêng. 1.1.2. Quy mô thị trường Nhật Bản là thị trường xuất khẩu chủ lực của mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, chiếm 10-29% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đi Nhật Bản tuy biến động thất thường nhưng nhìn chung có chiều hướng phát triển khá tốt, chiếm từ 10 đến 29% tổng kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Từ năm 2006 đến năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ trang trí của Việt Nam vào Nhật Bản đều tăng với tốc độ cao qua các năm. Nếu năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ trang trí chỉ là 30 triệu USD thì năm 2011, con số này đã tăng lên hơn 1,7 lần, đạt 52 triệu USD. Tính đến hết tháng 11 năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu 60 triệu USD sản phẩm gốm sứ. Mặc dù với thuế nhập khẩu hàng gốm sứ thấp ( 0-3%) tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng đồ gốm sứ trang trí của Việt Nam trên thị trường Nhật Bản có kim ngạch còn khá khiêm tốn. Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ trang trí của Việt Nam sang Nhật Bản (nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam) Tỷ trọng xuất khẩu gốm sứ trang trí so với hàng thủ công trang trí của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản có xu hướng tăng lên qua các năm. Nếu như năm 1998 chỉ là 11,08% thì năm 2000 tăng lên 20,03% và luôn giữ ở mức trên dưới 15% trong giai đoạn 2002-2012. Tuy nhiên, xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ trang trí của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản lại có dấu hiệu chững lại. Nguyên nhân chủ yếu là do Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 3 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------hàng của Việt Nam còn kém về mẫu mã, chủng loại so với các nước khác như Trung Quốc và Thái Lan. Các sản phẩm truyền thống của Việt Nam hầu như đã bão hoà tại thị trường này. Bên cạnh đó, nhu cầu của người Nhật về hàng gốm sứ trang trí rất đa dạng, yêu cầu các mặt hàng phải thay đổi nhanh sao cho phù hợp với các mùa trong năm. 1.1.3. Đối thủ cạnh tranh: Thị trường sản phẩm gốm sứ tại Nhật Bản tập trung gồm hai phần: + Sản phẩm cao cấp, giá cao nhập từ các quốc gia Châu Âu + Sản phẩm có giá cả và chất lượng trung bình nhập từ các nước Châu Á, đặc biệt Trung Quốc chiếm trên 75% thị phần. Ngoài Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh của Việt Nam còn là các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Indonexia,… Biểu đồ 2: Thị phần sản phẩm gốm sứ trang trí tại Nhật Bản (Nguồn: ITC-Trade map) Thị trường nhập khẩu gốm trang trí thế giới hiện nay tập trung chủ yếu vào các nước EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Tại các thị trường có sức tiêu thụ lớn này, Trung Quốc vẫn chiếm một thị phần quan trọng và các nước khác trong khu vực cũng có thị phần cao hơn rất nhiều so với Việt Nam. Điều này đã phản ánh sự chậm chân của chúng ta trong việc thâm nhập chiếm lĩnh các thị trường xuất khẩu và đòi hỏi cấp thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành gốm trang trí Việt Nam để không ngừng cải thiện vị trí của mình trong tiến trình hội nhập sắp tới. I.2. Thu thập thông tin sơ cấp qua khảo sát bằng bộ câu hỏi 1.2.1. Cách thức thu thập thông tin: Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 4 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------Hoàng Giang là một công ty mới bước đầu xúc tiến phát triển sản phẩm sang thị trường Nhật Bản nên việc thu thập thông tin để lập kế hoạch Marketing là một khâu hết sức quan trọng. Trong đó công ty sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, và thu thập trực tiếp từ các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra thống kê. Cụ thể những phương pháp sau đã được áp dụng: • Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp Nhân viên điều tra đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một bảng câu hỏi đã soạn sẵn. Do gặp mặt trực tiếp nên nhân viên điều tra có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối về tượng các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra. Tuy nhược điểm của phương pháp này là chi phí cao, mất nhiều thời gian và công sức, nhưng Hoàng Giang sẵn sàng bỏ ra một khoản chi phí lớn ban đầu để có được những thông tin chính xác và hiệu quả nhất. Để nâng cao hiệu quả của phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp, nhân viên điều tra cần có kỹ năng đặt câu hỏi khéo léo, giao tiếp tốt. Công ty sẽ áp dụng phương pháp này tại chợ hay siêu thị vì chi phí rẻ, thuận lợi, dễ kiểm tra, mẫu nghiên cứu đa dạng (chi phí ít nhưng hỏi được nhiều người ở những địa bàn khác nhau), có thể sử dụng trang thiết bị hỗ trợ (thuê một phòng của trung tâm thương mại để bố trí các trang thiết bị như trang thiết bị nấu ăn, trang bị máy chiếu video, phòng để phỏng vấn tập thể, trình bày về các quảng cáo hay minh hoạ trong quá trình phỏng vấn…). Tuy vậy, công ty sẽ kết hợp với phỏng vấn cá nhân tại các địa điểm khác để cho kết quả tổng thể. • Phương pháp chọn mẫu Hoàng Giang áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay chọn mẫu xác suất) là phương pháp chọn mẫu mà khả năng được chọn vào tổng thể mẫu của tất cả các đơn vị của tổng thể đều như nhau. Đây là phương pháp tốt nhất để ta có thể chọn ra một mẫu có khả năng đại biểu cho tổng thể. Vì có thể tính được sai số do chọn mẫu, nhờ đó ta có thể áp dụng được các phương pháp ước lượng thống kê, kiểm định giả thuyết thống kê trong xử lý dữ liệu để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung. Tuy vậy, phương pháp này tốn nhiều thời gian và chi phí. Để thu hẹp tổng thể, công ty quyết định chọn tổng thể chung là các cá nhân trong độ tuổi từ 20 đến 50, do chủ yếu quyết định mua hàng nằm trong tổng thể này. 1.2.2. Bộ câu hỏi điều tra: Bộ câu hỏi điều tra gồm 15 câu, được các thành viên trong nhóm soạn theo một trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ khái quát đến cụ thể. Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 5 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------Chi tiết bộ câu hỏi được đính kèm trong Phụ lục. I.3. Kết quả nghiên cứu thị trường 1.3.1 . Thông tin về mẫu nghiên cứu Để có được thông tin chính xác về nhu cầu của người Nhật Bản về sản phẩm bình, lọ hoa Ohana, nhóm đã tiến hành nghiên cứu xã hội học và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS (Statistical Package for Social Sciences), phiên bản 16.0 Nghiên cứu dự kiến được thực hiện với 1.000 người dân ở thành phố Tokyo, Nhật Bản vào tháng 2 năm 2013. Tại thời điểm trung tuần tháng 12 năm 2012, nhóm đã nghiên cứu thử mẫu n=100. Trong đó, mẫu được phân chia theo giới tính với tỷ lệ 50% nam và 50% nữ, phân chia theo độ tuổi gồm: độ tuổi từ 15 đến 25 chiếm 22%, tiếp theo đó là độ tuổi 26-40 chiếm phần lớn (44%) và độ tuổi từ 41-60 (27%), độ tuổi dưới 15 và trên 60 chiếm tỷ lệ rất ít, dưới 15 tuổi chiếm 1%, trên 60 tuổi chiếm 6%. Nghề nghiệp của những người trong mẫu thuộc đủ mọi tầng lớp. Từ học sinh, sinh viên, giáo viên, nhân viên văn phòng, tiểu thương, các bà nội trợ, đến những người về hưu, lao động phổ thông, bác sỹ, công an, bộ đội… Tuy nhiên, nhóm chú trọng vào nhân viên văn phòng (23%), giáo viên và tiểu thương (đều là 20%). Bảng 1: Thông tn vềề mẫẫu nghiền cứu Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 6 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------Tổng Count Column N Giới tính Nam Nữ Tổng cộng Độ tuổi < 15 15 - 25 26 - 40 41 - 60 > 60 Tổng cộng Nghề nghiệp Học sinh, sinh viên Giáo viên Nhân viên văn phòng Tiểu thương Nội trợ Lao động phổ thông Hưu trí Nghề nghiệp khác Tổng cộng % 50 50 100 1 22 44 27 6 100 7 20 23 20 17 6 4 3 100 50.0% 50.0% 100.0% 1.0% 22.0% 44.0% 27.0% 6.0% 100.0% 7.0% 20.0% 23.0% 20.0% 17.0% 6.0% 4.0% 3.0% 100.0% (Nguồn: tổng hợp kết quả điều tra xã hội học năm 2012 (Mô tả mẫu điều tra, bảng câu hỏi và tổng hợp kết quả được trình bày cụ thể trong phụ lục 2: Kết quả điều tra) 1.3.2. Đánh giá về tiềm năng của thị trường Nhật Bản Khi được hỏi về xuất xứ các sản phẩm bình, lọ hoa trong gia đình, đa phần khách hàng trả lời bình hoa họ đang sử dụng đến từ Trung Quốc. Khi hỏi về chất liệu của các sản phẩm bình, lọ hoa trong gia đình những người trả lời điều tra, chúng tôi nhận được thông tin như sau: Biểu đồ 3: Chất liệu của các sản phẩm bình, lọ hoa Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 7 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- (Nguồn: kết quả tự phân tích từ SPSS) Còn khi được hỏi về số lượng bình, lọ gốm sứ đang sử dụng trong gia đình, có đến 37% nói rằng trong nhà họ có khoảng 3-5 sản phẩm, và có 35% số người được điều tra nói rằng họ đang sử dụng hơn 5 sản phẩm bình, gốm sứ trong gia đình. Để xem xét đánh giá khách quan của người Nhật về sản phẩm bình, lọ gốm sứ của Việt Nam, nhóm nghiên cứu có đưa ra một số câu hỏi liên quan đến người Nhật đánh giá như thế nào về chất lượng của bình, lọ gốm sứ Việt Nam; về ưu điểm của sản phẩm bình, lọ gốm sứ từ Việt Nam so với các sản phẩm cùng loại từ các quốc gia khác; hay về sự hài lòng về sản phẩm bình, lọ hoa gốm sứ Ohana. Qua kết quả thì chúng tôi thấy có 33% người được điều tra đánh giá chất lượng bình, lọ gốm sứ của Việt Nam có chất lượng trung bình, 38% đánh giá là chất lượng tốt, chỉ có 17% đánh giá sản phẩm của Việt Nam có chất lượng cao nhưng rất mừng là có rất ít người nói rằng sản phẩm của Việt Nam có chất lượng thấp (chiếm 12%). Còn khi được hỏi về sự hài lòng đối với sản phẩm bình hoa Ohana, chúng tôi đã rất vui và rất bất ngờ khi thấy 52% số người trả lời phiếu điều tra trả lời rằng hài lòng, 28% rất hài lòng và chỉ có 20% nói không hài lòng. Họ cũng nói rằng, so với các sản phẩm cùng loại đến từ các quốc gia khác thì ưu điểm của sản phẩm bình, lọ gốm sứ từ Việt Nam là có chất lượng tốt hơn (81 người chọn), thiết kế đẹp hơn (81 người chọn) và giá cả cũng rẻ hơn (80 người chọn). Bảng 2: Đánh giá bình gốm sứ Việt Nam Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 8 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------so với các sản phẩm cùng loại từ quốốc gia khác Giới tính Nữ Ưu điểm so với sản phẩm của Nam quốc gia khác Count Chất lượng tốt hơn Thiết kế đẹp hơn Giá cả rẻ hơn Mẫu mã phong phú hơn Ưu điểm khác Count 43 37 46 16 13 38 44 34 15 15 Subtotal Count 81 81 80 31 28 (Nguồn: kết quả tự phân tích từ SPSS) Sau khi phân tích số liệu sơ cấp, nhóm nhận thấy Nhật Bản là thị trường tiềm năng. 27% số người được hỏi có sử dụng đồ gốm sứ của Việt Nam, các sản phẩm họ đang sử dụng đa số là những sản phẩm được làm từ gốm sứ (34%) và đây là thế mạnh của sản phẩm gốm sứ Hoàng Giang. Bên cạnh đó, người Nhật sử dụng khá nhiều sản phẩm bình, lọ hoa trong gia đình: 3-5 sản phẩm (37%), trên 5 sản phẩm chiếm 35%. Đặc biệt, người Nhật đánh giá về sản phẩm gốm sứ của Việt Nam là khá tốt. 1.3.3. Thị hiếu của người Nhật đối với sản phẩm bình, lọ gốm sứ Từ xưa đến nay người Nhật vẫn luôn được biết đến với tính cách chăm chỉ, cần cù, và yêu cái đẹp, thích những cái gì nhỏ nhắn, xinh xắn, tỉ mỉ. Khi điều tra về thị hiếu đối với sản phẩm bình, lọ gốm sứ, trong 100 người được điều tra, có đến 44 người thích tính mỹ thuật cao, 24 người nói quan tâm đến xuất xứ của sản phẩm. Người Nhật có một đặc điểm là họ sẵn sàng bỏ ra một chi phí cao hơn để có được cái (hoặc sản phẩm) mà mình thích, họ không quan tâm đến giá cả, do đó, khi được hỏi về vấn đề giá cả thì chỉ có 15 người chọn giá cả là yếu tố quan trọn nhất tác động đến quyết định mua hàng. Biểu đồ 4: Yếu tố tác động đến quyết định mua bình, lọ gốm sứ của người Nhật Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 9 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- (Nguồn: kết quả tự phân tích từ SPSS) Đối với sản phẩm bình, lọ gốm sứ, đa phần người Nhật thích sản phẩm có họa tiết về phong cảnh thiên nhiên (44%), sau đó là những sản phẩm có họa tiết về con người, về cuộc sống sinh hoạt thường ngày (chiếm 35%), đặc biệt, người Nhật rất thích những sản phẩm có màu sắc tươi sáng và nổi bật. 1.3.4. Mức giá người Nhật sẵn sàng chi trả Trong tổng số 100 người được điều tra thì có 48 người sẵn sàng bỏ 2.000 Yen đến 5.000 Yen và 24 người bỏ, 24 người sẵn sàng bỏ ra dưới 2.000 Yên để mua sản phẩm. Như vậy ta có thể thấy người Nhật bỏ ra một khoản tiền trung bình (không thấp cũng không cao) trong việc mua sản phẩm bình, lọ gốm sứ. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi quyết định chiến lược giá là giá dành cho những người có mức thu nhập trung bình tại thành phố. Biểu đồ 5: Mức giá người Nhật sẵn sàng chi trả cho một sản phẩm bình gốm sứ Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 10 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- (Nguồn: kết quả tự phân tích từ SPSS) 1.3.5. Địa điểm người Nhật thường mua bình hoa gốm sứ Qua kết quả điều tra nhóm nghiên cứu nhận thấy, hội trợ chính là cách tiếp cận người tiêu dùng Nhật Bản một cách hữu hiệu. Có 45 trong tổng số 100 người trả lời rằng hội trợ chính là nơi họ thường mua bình, lọ gốm sứ. Ngoài ra, công ty có thể tiến tới phân phối tại các của hàng chuyên bán, vì đây cũng là địa điểm mà người Nhật thường lui tới (chiếm 26%) 1.3.6. Phương tiện người Nhật tiếp cận với sản phẩm bình hoa gốm sứ Theo kết quả điều tra, người tiêu dùng Nhật Bản khá quan tâm đến website của một công ty, và các phương tiện thông tin đại chúng. Hiện nay, E-marketing đang ngày càng trở nên nổi tiếng và mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và nhà tiêu dùng. Với 33% người nói biết đến sản phẩm bình, lọ gốm sứ qua internet, website của công ty càng thúc đẩy công ty phát triển hơn nữa phương tiện xúc tiến bán hàng này. II.KẾ HOẠCH MARKETING CHO SẢN PHẨM II.1. Chiến lược Marketing Chiến lược marketing là toàn bộ quá trình xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa tình hình thị trường, môi trường kinh doanh và khả năng của doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu. Như vậy, khi tiến hành hoạch định và thực hiện chiến lược marketing, doanh nghiệp cần quan tâm tới sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố của môi trường bên trong Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 11 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------với các yếu tố của môi trường bên ngoài. Cũng như vậy, khi tìm cách thâm nhập vào thị trường nổi tiếng khó tính như Nhật Bản cho nhãn hàng bình hoa Ohana, công ty Hoàng Giang đã căn cứ vào kết quả nghiên cứu thị trường và phân tích những cơ sở nhằm xây dựng chiến lược toàn diện như sau: 2.1.1. Điểm mạnh (strengths) - Về nguồn nguyên liệu và cơ sở sản xuất đại trà: Hoàng Giang, mặc dù đặt trụ sở và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại Thành Phố Hồ Chí Minh nhưng tất cả sản phẩm đều được sản xuất từ làng gốm Bát Tràng nổi tiếng lâu đời. Vì sao công ty lựa chọn Bát Tràng chứ không phải Bình Dương hay Đồng Nai (gần gũi về mặt địa lý hơn, giảm bớt chi phí vận chuyển) cũng là có nguyên nhân. Qua nghiên cứu thị trường được biết, người Nhật biết đến gốm Việt Nam đầu tiên là gốm Bát Tràng. Họ mến mộ và sử dụng loại gốm này từ những thế kỷ trước nên rất quan tâm đến loại gốm Bát Tràng mới được thiết kế và sản xuất bởi Hoàng Giang. - Về tiềm lực tài chính: mặc dù mới thành lập tháng 7/1999 song Hoàng Giang đã nhanh chóng trở thành công ty đứng thứ hai trên thị trường Việt Nam về kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ trong giai đoạn 2007 – 2012, chỉ đứng sau tên tuổi gốm sứ cao cấp Minh Long. Thêm vào đó, cuối năm 2010, công ty đã mua lại gốm sứ Gia Thịnh, vốn là cơ sở sản xuất và phân phối sản phẩm gốm mỹ nghệ cho Minh Long khu vực phía Bắc. - Về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực cho ngành sản xuất gốm thủ công mỹ nghệ của nước ta nói chung vốn dồi dào, được truyền nghề qua nhiều thế hệ, gồm các nghệ nhân, thợ thủ công và nông nhàn ở các địa phương trong cả nước với truyền thống lao động cần cù và sáng tạo, tay nghề tinh xảo và khéo léo, tiếp thu kỹ thuật nhanh và có tính cộng đồng. Tận dụng lợi thế đó, Hoàng Giang đã đặt hai cơ sở sản xuất lớn ở Bát Tràng, với số lượng nhân công thường xuyên ở mỗi cơ sở là trên 50 thợ lành nghề, chưa kể số lượng thợ học việc trên dưới 20 người. Ngoài ra, công ty còn có một bộ phận thiết kế thuộc Ban nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. Bộ phận thiết kế gồm 12 nhân viên, tất cả đều tốt nghiệp cử nhân ngành gốm nghệ thuật của trường Đại học Mỹ Thuật công nghiệp Hồ Chí Minh, với mục tiêu nâng cao tính độc đáo và cá biệt hóa cho sản phẩm gốm Yên Lam nói chung và sản phẩm bình hoa Ohana nói riêng. Từ cuối năm 2008, công ty đã thiết lập một văn phòng đại diện tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản gồm 3 nhân viên, tất cả đều am hiểu ngôn ngữ và văn hóa bản địa, nhằm nghiên cứu thị trường cũng như xúc tiến các cơ hội kinh doanh lâu dài trong tương lai. - Về công nghệ sản xuất bình hoa gốm sứ mỹ nghệ: Sản xuất sản phẩm gốm sứ nói chung ở Việt Nam đã trải qua nhiều thế kỷ, các công thức sản xuất xương, men, màu vẫn là những bí quyết của các làng nghề. Nguồn nguyên liệu chất lượng cao, cùng với những bí quyết sản xuất lâu đời kết hợp với công nghệ hiện đại ngày nay đang tạo Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 12 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------ra những sản phẩm gốm sứ tinh xảo hơn, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của người sử dụng trong nước và quốc tế. Bên cạnh bí quyết truyền thống, Hoàng Giang là một trong những doanh nghiệp đầu tiên sử dụng lò gas và lò tuy-nen trong khâu nung đốt. Nung bằng lò gas cho sản phẩm đạt chất lượng cao và đồng đều, tỷ lệ thành phẩm cao, giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường do không gây ra khói bụi, đồng thời tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm gốm sứ. Với nền tảng như vậy, công ty quyết tâm theo đuổi chiến lược marketing để sản phẩm bình hoa Ohana thâm nhập sâu vào thị trường Nhật Bản. 2.1.2. Điểm yếu (Weaknesses) - Khoảng cách địa lý lớn giữa trụ sở kinh doanh và cơ sở sản xuất: trụ sở và kênh phân phối nội địa của Hoàng Giang được đặt tại TP Hồ Chí Minh trong khi cơ sở sản xuất ở Bát Tràng, Hà Nội. Sản phẩm sau khi được thiết kế, sản xuất ở Bát Tràng buộc phải vận chuyển ngược trở lại TP Hồ Chí Minh để trưng bày ở các showroom hoặc kinh doanh tiếp ở các thị trường khác. Gốm sứ là mặt hàng dễ vỡ, dù rất có kinh nghiệm trong bao gói sản phẩm song công ty không thể tránh khỏi tỷ lệ đổ vỡ sản. Thêm vào đó, chi phí vận chuyển này khiến cho giá sản phẩm bị đội lên không ít. Gốm sứ Hoàng Giang luôn có giá cao hơn sản phẩm tương tự của các công ty khác trên thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế. - Về mẫu mã sản phẩm: dù Hoàng Giang đã trang bị một đội ngũ họa sĩ thiết kế chuyên nghiệp, liên tục thay đổi và đưa ra các sản phẩm mới song kiểu dáng và họa tiết dễ bị bắt chước, chưa xác định được hình ảnh mang giá trị cốt lõi trong các thiết kế. 2.1.3. Cơ hội (Oppotunities) Với khả năng tiêu thụ lớn và đa dạng, Nhật Bản là thị trường mà Việt Nam có nhiều cơ hội và khả năng tiếp cận để đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ. Thêm vào đó, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhật Bản, ngành gốm mỹ nghệ của Nhật Bản đang mất dần lợi thế so sánh và xu hướng chuyển dịch lĩnh vực sản xuất ra nước ngoài - đặc biệt là trong ngành gốm mỹ nghệ - để tận dụng nhân công rẻ, hàng gốm mỹ nghệ nhập khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng mức tiêu thụ trên thị trường Nhật Bản. Xu hướng tăng mạnh nhập khẩu hàng gốm mỹ nghệ vào thị trường Nhật Bản đã và đang mở ra cơ hội to lớn. Ngành gốm mỹ nghệ là ngành có truyền thống lâu đời ở Việt Nam, các sản phẩm gốm sứ của Việt Nam đã tạo được danh tiếng nhất định trên thị trường thế giới. Việt Nam lại có lợi thế to lớn về nguồn nhân lực do dân số đông, trình độ văn hoá khá cao và một trong vài nước có giá thành lao động thấp nhất Châu Á. Người Nhật có truyền thống sử dụng rất nhiều các sản phẩm gốm sứ từ lâu đời, xuất phát từ đặc trưng văn hóa quốc gia, tuy nhiên đa số đều là gốm sứ nhà bếp hay đồ Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 13 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------gốm dùng trong trà đạo. Chính vì vậy, sản phẩm gốm sứ nhập khẩu vào quốc gia này từ Việt Nam, Trung Quốc hay Thái Lan đều là sản phẩm gốm gia dụng hoặc tranh gốm nghệ thuật. Hoàng Giang đã nghiên cứu kỹ và tìm ra ngách thị trường bình hoa nghệ thuật còn đang bỏ ngỏ ở thị trường này. Đây cũng chính là chiến lược marketing mà công ty sử dụng để xâm nhập thị trường. 2.1.4. Thách thức (Threats) Hệ thống luật pháp Nhật Bản chặt chẽ với những quy định nghiêm ngặt, khác biệt rất lớn với luật pháp Việt Nam, khiến các doanh nghiệp xuất khẩu gốm mỹ nghệ dễ rơi vào những tranh chấp với các công ty khác hay bị chính quyền nước sở tại xử phạt. Điều này làm cho các doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí và công sức để tìm hiểu và khai thác có hiệu quả. Thị trường Nhật Bản là một trong những thị trường lớn trên thế giới, rất nhiều nước lựa chọn thị trường này là thị trường xuất khẩu chính nên sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt. Những đối thủ cạnh tranh thường xuyên là các sản phẩm đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, hay đồ gốm cao cấp có xuất xứ từ Châu Âu. Ngay giữa các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ Việt Nam cũng đang diễn ra cuộc đua tranh tiến vào thị trường Nhật Bản. Việc tạo ra sản phẩm độc đáo trên thị trường Nhât Bản là một yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Tuy nhiên sản phẩm gốm sứ nói chung và bình hoa nghệ thuật nói riêng, về kiểu dáng và mẫu mã rất dễ bắt chước. Giải pháp duy nhất là đăng ký kiểu dáng để bảo vệ sở hữu trí tuệ thì dường như là bất khả thi bởi đặc thù hàng gốm sứ mỹ nghệ là phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, doanh nghiệp sẽ không thể theo kịp lịch trình đăng ký cũng như không kham nổi chi phí. Qua phân tích cơ sở chiến lược, Hoàng Giang là một doanh nghiệp có nhiều điểm mạnh trong ngành gốm sứ mỹ nghệ. Tuy nhiên, để có thể đưa sản phẩm bình hoa nghệ thuật... thâm nhập thị trường Nhật Bản thì những thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp là không nhỏ. 2.1.5. Chiến lược marketing của doanh nghiệp. Phân tích các cơ hội từ thị trường, Hoàng Giang đã xác định chiến lược marketing mà doanh nghiệp sử dụng là chiến lược lấp chỗ trống thị trường hay chiến lược thị trường ngách. Sản phẩm bình hoa nghệ thuật vốn chưa được sử dụng nhiều trong thói quen tiêu dùng của người Nhật. Tuy vậy, theo nghiên cứu thị trường, khi các sản phẩm gốm sứ tiêu dùng đã bão hòa, người Nhật đang dần chuyển sự quan tâm sang các sản phẩm trưng bày mang tính nghệ thuật, lại có tính ứng dụng cao. Bình hoa nghệ thuật với các hình dáng, kích cỡ, màu sắc, dạng men, công dụng đa dạng có thể hoàn toàn đáp ứng nhu cầu mới này. Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 14 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------Thêm vào đó, nghệ thuật bonsai nổi tiếng của Nhật Bản, từ trước tới nay chỉ chú trọng vào cây và hoa cũng như nghệ thuật cắm hoa, trong khi đó, một yếu tố không thể thiếu lại ít khi được coi trọng chính là chiếc bình cắm hoa. Hoàng Giang đã đặt ra mục tiêu tạo ra nhu cầu mới trong chính ngách thị trường này. 2.1.6. Chiến lược E-marketing. a. Xây dựng website: Ngoài việc thực hiện chiến lược Marketing thị trường ngách, Công ty cũng áp dụng e-marketing nhằm phục vụ quá trình giới thiệu sản phẩm và bán hàng trực tuyến trên mạng. Khách hàng có thể truy cập vào website của công ty: www.hoanggiangceramics.com. Tra cứu thông tin sản phẩm: - Chọn mục: Sản phẩm + Lọ xông tinh dầu + Bình gốm, lọ hoa + Quà tặng gốm sứ + Bộ đồ ăn gốm sứ + Tranh gốm… Khách hàng có thể mua hàng bằng cách chọn “sản phẩm” sau đó chọn “mua hàng”. Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 15 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- b. Nhận xét website: * Ưu điểm của website: - Tốc độ nhanh, giao diện với màu truyền thống chủ đạo dễ nhìn, bắt mắt thân thiện cho khách hàng trong việc tìm kiếm thông tin về sản phẩm, liên hệ. - Danh mục sản phẩm đa dạng, dễ tìm, thông tin các sản phẩm hiện có và các sản phẩm mới được cập nhật từng ngày, từng giờ. Thông tin sản phẩm được cập nhật một cách chi tiết về hình dáng, mẫu mã, giá cả và cước phí vận chuyển tới cảng khách hàng lựa chọn giúp khách hàng dễ dàng tham khảo và lựa chọn. - Phương thức đặt hàng trực tuyến qua mạng dễ dàng thu hút được lượng khách hàng đáng kể trên khắp thế giới. Nhờ đó số lượng khách hàng tăng lên đáng kể và doanh thu cũng tăng lên. - Website cũng có mục thăm dò ý kiến khách hàng về sản phẩm của công ty nhằm bắt kịp và đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. Đặc biệt, website có mục “thiết kế sản phẩm” với đầy đủ công cụ hỗ trợ, khách hàng có thể dễ dàng tự thiết kế cho mình một sản phẩm theo ý muốn. Sau khi thiết kế sản phẩm cho riêng mình, khách hàng có thể chọn “đặt hàng”, khách hàng sẽ được đáp ứng sản phẩm ngay lập tức. * Nhược điểm của website: - Hiện tại, giao diện của website chỉ có Tiếng Việt và Tiếng Anh chưa có phiên bản Tiếng Nhật. Đây chính là nhược điểm lớn nhất gây cản trở trong việc tiếp cận khách hàng là người Nhật Bản. - Hình ảnh thương hiệu chưa độc đáo, hấp dẫn. - Việc thực hiện giao dịch đối với những khách hàng dẫn đến rủi ro cao. Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 16 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------c. Sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm kiếm thông tin trên Internet: Thông qua các công cụ tìm kiếm Google Nhật Bản, Yahoo Nhật Bản, đặc biệt là công cụ tìm kiếm “Goo” với địa chỉ www.goo.ne.jp hiện đang trở thành công cụ tìm kiếm chính ở Nhật Bản, website đã xây dựng với các từ khoá đặc biệt như: -“Vietnam Handicrafts” (Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam) -“Hoang Giang Home Décor” (Hàng trang trí nội thất Việt Nam) -“Vietnam Ceramics” (Hàng gốm sứ Việt Nam) -“Hoang Giang Vietnam”… Bên cạnh đó, công ty còn tiến hành quảng cáo qua các banner, Pop-up trên các trang web có tiếng khác của Nhật Bản như: Rakuten, Goo … để tăng nhận thức của người tiêu dùng về tên tuổi của doanh nghiệp. Hoàng Giang cũng sẽ thiết lập các bản tin định kỳ nhằm thiết lập quan hệ thường xuyên với khách hàng: gửi thư chào hàng, giới thiệu sản phẩm định kỳ, thông tin bán hàng, khuyến mại. d. Site thương mại điện tử B2B, B2C: Hoàng Giang đăng ký tên mình vào cơ sở dữ liệu môi giới kinh doanh trên website http://www.jetro.go.jp/ của tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản. Hoàng Ging tiến hành thiết lập cửa hàng thương mại điện tử ở Nhật trên một số trung tâm mua sắm trực điện tử đáng tin cậy bao gồm Amazon Nhật Bản, Yahoo Nhật Bản, Ebay, Alibaba và đặc biệt là website điện tử lớn nhất Nhật Bản – Rakuten (www.rakuten.co.jp). Rakuten là hệ thống bán lẻ trực tuyến đầu tiên tại Nhật, cung cấp cho các nhà bán lẻ cách tiếp cận những khách hàng trực tuyến với một chi phí thấp nhất. Năm 2011, Rakuten tính phí các nhà bán lẻ 600 USD/năm xuất hiện trên trang web của công ty. Trong khi đó, các sàn mua sắm trực tuyến khác tính phí từ 4.000-10.000 USD. Trên Rakuten, các doanh nghiệp bán lẻ cũng có thể biên tập trang web của họ và phân tích thị trường bằng việc truy cập cơ sở dữ liệu và phần mềm của mình. Ratuken là hệ thống thu hút khách hàng trung thành. Người mua sẽ nhận được điểm khi mua bất kỳ hàng hóa nào trên hệ thống của Rakuten, sau đó họ có thể dùng các điểm này đổi lấy ưu đãi giảm giá khi mua hàng hóa khác. Năm 2011, ước tính có khoảng 2/3 dân số Nhật Bản từng truy cập ít nhất 1 lần vào website của Rakuten. Trang web hoạt động như một sàn mua sắm trực tuyến dành cho hơn 35.000 nhà bán lẻ của Nhật Bản. Rakuten tính phí thành viên hàng tháng các thương nhân trên website và giữ lại từ 2-5% giá trị hàng hóa được bán. 80% doanh thu của Rakuten đến từ phí thành viên, 10% là doanh thu từ quảng cáo và phần còn lại đến từ bán đấu giá. Hình ảnh website Rakuten.co.jp Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 17 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- II.2. Phân tích Marketing mix 2.2.1 Chiến lược sản phẩm (Product) Để tiến vào thị trường Nhật với sản phẩm bình hoa gốm sứ, một thị trường đã tồn tại rất nhiều đối thủ cạnh tranh, chúng tôi cần xem xét, tìm hiểu đặc trưng của văn hóa Nhật Bản, họ muốn gì và cần gì? Xét về xu hướng thưởng thức cái đẹp, chúng ta thấy có điểm tương đồng giữa người tiêu dùng Nhật và Việt nhưng trên thực tế có những điểm khác biệt về điều kiện địa lý làm nảy sinh những cái đẹp riêng mà chỉ Nhật Bản mới có, vì vậy chúng tôi phải hiểu được điều này nhằm tạo ra những sản phẩm có thể mang được những thế mạnh của Việt Nam về độ sáng tạo và chất lượng cũng như mang cái đẹp Nhật Bản thổi vào những tác phẩm gốm sứ. Theo nghiên cứu, tại thị trường Nhật Bản, việc chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái độ và giá trị. Nhật Bản là quốc gia có xu hướng hướng đến sự hoàn thiện về hình thức, họ hướng tới thể hiện sự giàu có và hiểu biết. Vì vậy, họ sẽ có xu hướng lựa chọn những sản phẩm thời trang hợp mốt, những chiếc xe hơi thương hiệu và mong muốn ăn uống ở nơi sang trọng. Tấn công vào thị trường này, sản phẩm nên có tính cạnh tranh cao về hình thức và thương hiệu. Người Nhật Bản và Hàn Quốc sẵn sàng bỏ ra giá cao để sở hữu sản phẩm mà họ cho là thể hiện giá trị bản thân. Vì thế, để tạo ấn tượng với người tiêu dùng Nhật, Công ty đưa ra tên gọi riêng theo tiếng Nhật cho dòng sản phẩm bình hoa gốm sứ là bình Ohana. Logo tiếng Anh Logo tiếng Nhật Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 18 Khảo sát thị trường và kế hoạch Marketing quốc tế cho bình OHANA tại Nhật Bản -------------------------------------------------------------------------------------------------------- Bình Ohana là dòng sản phẩm đặc biệt, được nhóm 4 tự thiết kế tên gọi, logo và khẩu hiệu nhằm tiêu thụ sản phẩm tại thị trường Nhật Bản. Ohana “おお”trong tiếng Nhật có nghĩa là bông hoa nhỏ xinh xắn, được gọi tên trân trọng và trừu mến. Logo được cách điệu từ hình ảnh một bình hoa với hướng phát triển lan tỏa rộng. Màu vàng tượng trưng cho ngôi sao vàng trên quốc kỳ Việt Nam, màu đỏ tượng trưng cho mặt trời trên quốc kỳ Nhật Bản. Màu hồng thể hiện tình cảm, nhiệt huyết của người nghệ nhân gửi gắm trong mỗi sản phẩm. Màu xanh thể hiện sức mạnh tuổi trẻ của đội ngũ thiết kế và sự tin tưởng vào sự phát triển của sản phẩm mới. Khẩu hiệu tiếng Anh “Bring your fresh life” dịch sang tiếng Nhật là “おおおおお” Tên gọi này là một cách để thể hiện tinh thần trong mỗi sản phẩm bình hoa của công ty. Theo đó, sản phẩm bình hoa Ohana đem lại cảm hứng tươi mới và tràn đầy sức sống cho người tiêu dùng. Đó là thông điêp mà chúng tôi muốn gửi đến thông qua sản phẩm của mình. Bên cạnh đó, tâm lý tiêu dùng của người Nhật Bản là không tiếc tiền cho những sản phẩm đẹp và chất lượng, đặt biệt là trong lĩnh vực hàng hóa trang trí nội thất. Họ xem cái đẹp là sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại, đặc biệt cái truyền thống rất được xem trọng. Trong những năm gần đây, người Nhật Bản đặc biệt đề cao lối nghệ thuật dân gian, đây là một trong những yếu tố thúc đẩy chúng tôi xuất mặt hàng gốm sứ sang Nhật, vì đây là sản phẩm vừa mang tính truyền thống, đồng thời mang hơi thở của thời đại với những sáng tạo không ngừng trong kiểu dáng và họa tiết thiết kế. Có thể nói, nghệ thuật gốm của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ trên của người Nhật, sự tận dụng bố cục, màu sắc, nhịp điệu của nông thôn, thành thị, của nông nghiệp và cả công nghiệp trong những họa tiết và bức vẽ trang trí trên những sản phẩm mang hơi hướng nghệ thuật thể hiện cái đẹp của quá khứ và của thời đại. Vì thế, một trong những dòng sản phẩm bình Ohana được đưa vào thị trường Nhật sẽ được trang trí các hình ảnh mang nét đặc trưng trong văn hóa dân gian Việt Nam đã được bạn bè thế giới biết đến như tranh đông hồ, trống đồng, chùa một cột… hứa hẹn sẽ đem lại sự thích thú cho người tiêu dùng vốn đã biết đến và ưa thích những hình ảnh này. Mặt khác, tấn công vào thị hiếu ưa chuộng các sản phẩm có tính đa dạng và phong phú, công ty sẽ đưa vào thị trường những sản phẩm với mẫu mã và chủng loại Nhóm 4 - Lớp Cao học 18B Kinh tế Thế giới 19
- Xem thêm -