Khảo sát thành phần thực vật nổi (phytoplankton) ở sông hậu thuộc tỉnh an giang và thành phố cần thơ

  • Số trang: 51 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LIÊN CHÍ THÀNH KHẢO SÁT THÀNH PHẦN THỰC VẬT NỔI (PHYTOPLANKTON) Ở SÔNG HẬU THUỘC TỈNH AN GIANG VÀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2012 i ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN LIÊN CHÍ THÀNH KHẢO SÁT THÀNH PHẦN THỰC VẬT NỔI (PHYTOPLANKTON) Ở SÔNG HẬU THUỘC TỈNH AN GIANG VÀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN THS. DƯƠNG THỊ HOÀNG OANH 2012 ii LỜI CẢM TẠ Trước hết xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Thủy Sản trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu trong thời gian qua. Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, cô Dương Thị Hoàng Oanh đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn toàn thể thầy, cô trong khoa thủy sản, các bạn lớp liên thông nuôi trồng thủy sản K36. Cùng sự giúp đỡ của anh Âu Văn Hóa trong lúc thu mẫu để làm đề tài. Gia đình là chỗ dựa tinh thần trong suốt quá trình học tập, tôi xin chân thành cảm ơn các người thân trong gia đình. Một lần nữa xin nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất. Sinh viên thực hiện Liên Chí Thành iii TÓM TẮT Nghiên cứu “ Khảo sát thành phần thực vật nổi (Phytoplankton) ở sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Thành phố Cần Thơ” nhằm tìm hiểu nguồn thức ăn tự nhiên và đặc tính của thủy vực làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu sau. Quá trình khảo sát được thực hiện từ tháng 07/2011 đến tháng 12/2011 ở 8 điểm thu mẫu với 4 điểm thuộc tuyến sông chính và 4 điểm thuộc các nhánh sông. Kết quả khảo sát ở các khu vực phát hiện được 89 loài thực vật nổi thuộc 6 ngành: Chlorophyta 40% (35 loài), Bacillariophyta 31% (28 loài), Cyanabacteria 18% (16 loài), Euglenophyta 9% (8 loài), Chrysophyta 1% (1 loài), Dynophyta 1% (1 loài). Mật độ thực vật nổi thấp với giá trị trung bình 13.452±1.628 ct/lít, trong đó mật độ tảo lam có mật độ cao nhất so với các nhóm khác ở cả hai thủy vực (9.933 ct/lít) chiếm 37%, tảo lục (9.569 ct/lít) chiếm 36%, tảo lam (6.973 ct/lít) chiếm 26%, tảo mắt 2% (430 ct/lít). Một số loài thường gặp là: Synedra unla, Navicula gastrum, Gyrosigma attenuatum (Bacillaryophyta), Anabaena levanderi, Oscillatoria limosa (Cyanobacteria), Euglena spirogyra, Phacus alata, Phacus longicauda (Euglenophyta), Dinobryon sertularia (Chrysophyta). iv MỤC LỤC LỜI CẢM TẠ...............................................................................................................i TÓM TẮT ..................................................................................................................iv MỤC LỤC...................................................................................................................v DANH SÁCH HÌNH .................................................................................................vii DANH SÁCH BẢNG ...............................................................................................viii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.....................................................................................vii CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................1 1.1 Giới thiệu ...........................................................................................................1 1.2 Mục tiêu của đề tài .............................................................................................2 1.3 Nội dung của đề tài.............................................................................................2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................3 2.1 Điều kiện tự nhiên ..............................................................................................3 2.2 Phiêu sinh thực vật .............................................................................................4 2.3 Vai trò của thực vật nổi ......................................................................................7 2.4 Các tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu .................................................8 PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................10 3.1 Vật liệu nghiên cứu: .........................................................................................10 3.2 Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................10 3.2.1 Địa điểm thu mẫu:......................................................................................10 3.2.2 Thời gian thu mẫu:.....................................................................................11 3.2.3 Phương pháp thu mẫu: ...............................................................................11 3.2.4 Phương pháp phân tích mẫu:......................................................................12 3.3 phương pháp xử lý số liệu: ...............................................................................13 PHẦN IV KẾT QUẢ - THẢO LUẬN .......................................................................14 4.1 Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi ở khu vực khảo sát .................................14 4.1.1 Thành phần loài thực vật nổi trên tuyến sông chính....................................15 4.1.1.1 Thành phần loài thực vật nổi tại Khánh An..........................................16 4.1.1.2 Mật độ thực vật nổi tại Khánh An........................................................17 4.1.1.3 Thành phần loài thực vật nổi tại Vàm Nao..........................................18 4.1.1.4 Mật độ thực vật nổi ở Vàm Nao...........................................................20 4.1.1.5 Thành phần thực vật nổi tại Thốt Nốt .................................................20 4.1.1.6 Mật độ thực vật nổi tại Thốt Nốt..........................................................22 4.1.1.7 Thành phần loài thực vật nổi tại Ninh Kiều .........................................22 4.2.1.4 Mật độ thực vật nổi tại Ninh Kiều .......................................................23 4.1.2 Thành phần loài thực vật nổi trên các nhánh sông ......................................24 4.1.2.1 Thành phần loài thực vật nổi tại Long Bình .........................................26 4.1.2.2 Mật độ thực vật nổi tại Long Bình .......................................................27 4.1.2.3 Thành phần loài thực vật nổi tại Bình Hòa...........................................27 4.1.2.4 Mật độ thực vật nổi tại Bình Hòa.........................................................28 4.1.2.5 Thành phần loài thực vật nổi tại nhánh sông Thốt Nốt.........................29 4.1.2.6 Mật độ thực vật nổi tại nhánh sông Thốt Nốt.......................................30 4.1.2.7 Thành phần loài thực vật nổi tại Cái Sơn: ............................................31 4.1.2.8 Mật độ thực vật nổi tại Cái Sơn ...........................................................32 4.2 So sánh thành phần và mật độ thực vật nổi trên sông Hậu ...............................34 4.2.1 Thành phần thực vật nổi trên sông Hậu ......................................................34 v 4.3.2 Mật độ thực vật nổi trên sông Hậu: ............................................................35 PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .......................................................................36 5.1 Kết luận............................................................................................................36 5.2 Đề xuất.............................................................................................................36 TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................37 PHỤ LỤC..................................................................................................................38 vi DANH SÁCH HÌNH Hình 4. 1 Cấu trúc thành phần loài thực vật nổi ở sông Hậu.......................................14 Hình 4. 2 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Khánh An.................................17 Hình 4. 3 Mật độ thực vật nổi tại Khánh An...............................................................18 Hình 4. 4 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Vàm Nao..................................19 Hình 4. 5: Mật độ thực vật nổi tại Vàm Nao...............................................................20 Hình 4. 6 Biến động thành phần loài thực vật nổi ở Thốt Nốt ....................................21 Hình 4. 7 Mật độ thực vật nổi tại Thốt Nốt ................................................................22 Hình 4. 8 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Ninh Kiều.................................23 Hình 4. 9 Mật độ thực vật nổi tại Ninh Kiều ..............................................................24 Hình 4. 10 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Long Bình ..............................26 Hình 4. 11 Mật độ thực vật nổi tại Long Bình ............................................................27 Hình 4. 12 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Bình Hòa................................28 Hình 4. 13 Mật độ thực vật nổi tại Bình Hòa..............................................................29 Hình 4. 14 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại sông Thốt Nốt ........................30 Hình 4. 15 Mật độ thực vật nổi tại sông Thốt Nốt ......................................................31 Hình 4. 16 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại Cái Sơn ..................................32 Hình 4. 17 Mật độ thực vật nổi tại Cái Sơn ................................................................33 Hình 4. 18 Thành phần thực vật nổi trên sông Hậu ....................................................34 Hình 4. 19 Biến động mật độ thực vật nổi trên sông Hậu ...........................................35 vii DANH SÁCH BẢNG Bảng 4. 1 Biến động thành phần loài thực vật nổi trên tuyến sông chính .............................. 15 Bảng 4. 2 Biến động thành phần loài thực vật nổi tại các nhánh sông ................................... 25 viii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long PSTV: phiêu sinh thực vật PSĐV: phiêu sinh động vật Ct/lít: cá thể/lít SL: số lượng TL: tỉ lệ TN: Hàm lượng đạm tổng số trong nước TP: Hàm lượng lân tổng số trong nước vii CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu Sông Mê Kong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng của Trung Quốc chảy qua các nước Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra biển Đông ở Việt Nam. Ở Việt Nam sông Mê Kong được phân chia thành hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu. Sông Hậu bắt nguồn từ tỉnh An Giang và đổ ra biển Đông qua hai cửa Định An và Trần Đề thuộc tỉnh Sóc Trăng. Sông Hậu là sông lớn thứ 2 ở ĐBSCL có nhiều tiềm năng phát triển thủy sản góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho cả nước nói chung và ở ĐBSCL nói riêng. Nước ta, mặc dù nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các đô thị chưa nhiều nhưng tình trạng ô nhiễm nước xảy ra ở nhiều nơi với các mức độ nghiêm trọng khác nhau. Việc sử dụng nông dược và phân bón góp phần làm ô nhiễm môi trường nông thôn. Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước nhiều nhất với các loại nước thải khác nhau từ các cơ sở, nhà máy, khu công nghiệp. Khâu xử lý nước thải của các nhà máy công nghiệp không được đầu tư nhiều thông thường thì nước thải công nghiệp đổ trực tiếp xuống lòng sông làm ảnh hưởng đến thành phần phiêu sinh vật sinh sống trong môi trường nước. Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư cũng ngày càng gia tăng, tất cả các loại nước thải đều trực tiếp thải ra môi trường dẫn đến ô nhiễm nguồn nước kể cả nước ngầm. Cho nên, hiện nay chất lượng môi trường nước ở hầu hết các nguồn nước khác nhau cũng đều bị ô nhiễm ngày càng trầm trọng (Lê Anh Tuấn et al., 2004). Được biết trong thủy vực ngoài những loài thủy hải sản còn có những loài phiêu sinh thực vật. PSTV đóng vai trò quan trọng trong thủy vực như làm mắc xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực, đặc biệt tảo có khả năng sinh sản rất nhanh, kích thước nhỏ, thành phần dinh dưỡng cao thích hợp cho ương nuôi ấu trùng tôm, cá, nhuyễn thể, giáp xác… ngoài ra tảo còn là sinh vật chỉ thị cho môi trường. Đồng thời, nó còn đem lại nhiều lợi ích mà con người đã và đang nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh đó, thành phần độc tố ở một số loài tảo cũng gây nguy hiểm cho sự sống của những sinh vật sống trong môi trường nước. Từ đó, sự phát triển của những quần thể tảo nguy hiểm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản. Cùng với những lợi ích tảo mang lại chúng cũng mang lại những khó khăn trong thủy vực. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quần thể thực vật nổi ở các thủy vực ở đồng bằng sông Cửu Long chưa được quan tâm nhiều. Trên cơ sở đó, đề tài “Khảo sát thành phần thực vật nổi (Phytoplankton) ở sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và thành phố Cần Thơ” được thực hiện. 1 1.2 Mục tiêu của đề tài Xác định thành phần giống loài thực vật nổi nhằm tìm hiểu nguồn thức ăn tự nhiên và đặc tính của thủy vực làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu sau. 1.3 Nội dung của đề tài Xác định thành phần loài tảo ở An Giang và thành phố Cần Thơ. Xác định số lượng tảo ở An Giang và Cần Thơ. 2 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện tự nhiên Cần thơ Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung – hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2 , chiếm 3,49% diện tích toàn vùng. Phía Bắc giáp tỉnh An Giang; phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long; phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang. Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38” - 105050’35” kinh độ Đông và 9055’08” - 10019’38” vĩ độ Bắc. Đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận (Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện ( Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ( 5 thị trấn, 36 xã, 44 phường). Ngày 19 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 492/QĐ-TTg Thành lập Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 4 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: thành phố Cần Thơ, tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau nhằm phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng và từng bước phát triển vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long thành một trong những vùng phát triển lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Trong đó, thành phố Cần Thơ là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc điểm địa hình: Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nữa mở và đồng bằng châu thổ. Cao trình phổ biến từ 0,8-1,0m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long ( cổng thông tin điện tử thành phố Cần Thơ http://cantho.gov.vn/wps/portal/!ut/...) An Giang Tỉnh An Giang nằm ở toạ độ địa lý giữa vĩ tuyến 100 và 110 vĩ độ Bắc, giữa kinh tuyến 104,70 và 105,50 kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.900 km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.406 km2, chiếm 1,03% tổng diện tích tự nhiên cả nước. Ðường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 91; hệ thống sông ngòi chính có sông Cửu Long chảy qua. Vùng núi chiếm 27,3% diện tích tự nhiên của tỉnh, còn lại là vùng đồng bằng. Ðiểm cao nhất cao 714m, điểm thấp nhất cao 0,7m so với mặt nước biển. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 11; lũ hàng năm do song Cửu 3 Long tràn về ngập 70% diện tích tự nhiên của tỉnh. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.132 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất là 370C, thấp nhất là 230C; hàng năm có 2 tháng nhiệt độ trung bình là 270C, tháng lạnh nhất là tháng 12. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá vào tháng 5 và 6 hàng năm (trang điện tử Ủy Ban Dân Tộc http://cema.gov.vn/...) 2.2 Phiêu sinh thực vật Trong nghiên cứu sinh khối của các nhóm tảo ở Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch của Lê Trọng Cúc và ctv (1997) cho kết quả thể hiện rất rõ sự chiếm ưu thế của một nhóm tảo trong từng thuỷ vực. Trong thuỷ vực Hồ Tây thì tảo silic chiếm ưu thế với 65% so với 11% tảo lam, 23% tảo lục và 1% tảo mắt. Còn trong thuỷ vực Hồ Trúc Bạch thì tảo mắt chiếm đa số với 77%, các nhóm còn lại là silic 3%, tảo lam 6%, tảo lục 9% và hai rãnh 5%. Sự ưu thế của một nhóm tảo nào đó trong một thuỷ vực chỉ ra rằng môi trường của thuỷ vực đó là điều kiện sống thuận lợi đối với chúng. Các loài tảo mắt được coi là sinh vật chỉ thị cho môi trường giàu dinh dưỡng. Điều này cũng phù hợp với kết quả trên. Khi khảo sát các chỉ tiêu về môi trường như DO, PO4, độ trong, NH4, H2S, NO3,…thì kết quả được đánh giá chất lượng nước Hồ Tây tốt hơn Hồ Trúc Bạch. Kết quả cũng cho thấy điều tương tự khi khảo sát thành phần PSTV trong các ao nuôi cá tại Hậu Giang – Cần Thơ, đây được cho là môi trường giàu dinh dưỡng. Mật độ PSTV dao động từ 44.000 đến 500.000 tế bào/l, trong đó tỉ lệ tảo mắt khá cao, có thể lên đến 50% (Trích bởi Đặng Ngọc Thanh và ctv, 2002. Thuỷ sinh học các thuỷ vực nước ngọt nội địa Việt Nam, trang 211-212). Trong các thuỷ vực tự nhiên thì sinh khối của PSĐV phụ thuộc chủ yếu vào sinh khối của PSTV, đây được coi là thức ăn chính của chúng. Nghiên cứu của Lê Trọng Cúc và ctv (1997) đã cho thấy mối tương quan của các phiêu sinh vật với nhau. Trong thuỷ vực Hồ Tây thì sinh khối của PSTV tăng giữa mùa khô 17,77 g/m3 so với mùa mưa 19,4 g/m3, trong khi đó sinh khối của PSĐV cũng tăng từ 0,2 g/m3 lên 8,73 g/m3 giữa mùa khô và mùa mưa. Trong thuỷ vực hồ Trúc Bạch cũng cho kết quả tương tự. Với sinh khối PSTV thì tăng từ 8,31 g/m3 vào mùa khô lên 18,1 g/m3 vào mùa mưa. Cùng với kết quả đó thì sinh khối PSĐV vào mùa mưa cũng cao hơn mùa khô lần lượt là 2,86 g/m3 so với 0,07 g/m3 (Đặng Ngọc Thanh và ctv, 2002). Nghiên cứu của Hồ Thanh Hải và ctv về diễn biến số lượng của PSTV theo từng thời điểm trong ngày tại trạm Thác Bờ, hồ Hoà Bình trong tháng 1/1991 cho thấy sự biến động rất lớn của PSTV theo chu kỳ ngày đêm. Do PSTV cần quang hợp và phát triển nên vào ban ngày mật độ của chúng tăng cao hơn so với ban đêm. Kết quả khảo sát cho thấy mật độ PSTV cao nhất vào thời điểm 13h với gần 170.000 tế bào/l so với 80.000 tế bào/l vào thời điểm 7h sáng. 4 Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv ( 2002) sự phân bố của PSTV khác nhau rất nhiều giữa các loại thuỷ vực, ở thuỷ vực nước tĩnh: ao, hồ, ruộng, đầm,… thì mật độ cao hơn so với thuỷ vực nước chảy: sông, suối, kênh, mương,… Mật độ của PSTV thấp nhất ở các thuỷ vực suối 882-23.000 tế bào/l và cao nhất ở hồ vùng đồng bằng 600.000-200 triệu tế bào/l. Cũng có sự khác biệt mật độ với sự phân bố theo không gian giữa vùng núi và vùng đồng bằng. Kết quả cho thấy ở sông vùng đồng bằng mật độ PSTV là 3.500-1,3 triệu tế bào/l cao hơn nhiều so với thuỷ vực sông vùng núi 10.000-294.000 tế bào/l. Kết quả tương tự với thuỷ vực hồ vùng đồng bằng và vùng núi với 600.000-200 triệu tế bào/l so với 7.0002 triệu tế bào/l. Cũng theo các tác giả trên thì sự phân bố của PSTV theo chiều thẳng đứng có sự khác biệt rất lớn giữa các tầng nước trong thuỷ vực. Trong vùng được ánh sáng chiếu ở tầng mặt thì phiêu sinh vật nói chung và PSTV nói riêng có mật độ cao nhất. Khảo sát của Nguyễn Công Minh và Dương Đức Tiến (1996) ở hồ Ba Bể vào tháng 8/1996 thì ở tầng nước có độ sâu 5 m thì mật độ PSTV cao nhất với 1.395.833 tế bào/l, đến độ sâu 10m thì giảm còn 359.375 tế bào/l và 223.750 tế bào/l khi đến độ sâu 15m. Kết quả cũng trùng hợp với khảo sát ở thuỷ vực hồ Hoà Bình mùa khô năm 1997, mật độ PSTV cao nhất trong tầng nước 2-5 m với 12.653.000 tế bào/l, mật độ của chúng giảm mạnh chỉ còn 606.800 tế bào/l ở tầng nước 5-10 m, xuống tầng nước 10-25 m thì mật độ rất thấp với 54.420 tế bào/l. Kolkwitz và Masson (1908) đánh giá mức độ ô nhiễm của thủy vực đã chia ra ba mức độ: ô nhiễm nhiều (polysaprobic), ô nhiễm vừa (mesosaprobic) và ô nhiễm ít (oligosaprobic) dựa vào khoảng 300 loại vi khuẩn, tảo và nấm. Ở thủy vực ô nhiễm nhiều, số loài tảo ít nhưng số lượng lại nhiều; ở thủy vực ô nhiễm vừa có thể chia thành 2 nhóm nhỏ α, β – mesosaprobic; ở vùng α – mesosaprobic có thể gặp các loài tảo lam như Osillatoria, Phormidium. Còn ở vùng β – mesosaprobic thành phần loài tảo phong phú nhưng số lượng và sinh khối thấp hơn, có thể gặp các loài tảo như tảo khuê (Diatoma, Melosira, Navicula), tảo lục (Cosmarium, Spirogyra, Cladophora, Scendesmus). Ở thủy vực ô nhiễm ít sự da đạng về loài tương đối cao nhưng số lượng và sinh khối không đáng kể. Trong chuỗi thức ăn thì PSTV chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho PSĐV. Khi nghiên cứu về sự phát triển và biến động mật độ của Tisbe biminiensis (Copepoda: Harpacticoida) thông qua chế độ ăn, Pinto và ctv (2001) đã sử dụng tảo để làm thức ăn. Nghiệm thức đầu sử dụng một loài thuộc nhóm trùng roi Tetraselmis gracilis (Prasinophyceae), nghiệm thức hai sử dụng loài tảo Nitzschia Closterium (Bacillariophyceae) và nghiệm thức ba sử dụng hỗn hợp cả 2 loài trên với tỉ lệ 1:1. Kết quả cho thấy khi sử dụng thức ăn là tảo Nitzschia Closterium thì sự phát triển, sức sinh sản hay khả năng phát triển của ấu trùng copepod tốt hơn các nghiệm thức còn lại. Phiêu sinh thực vật (PSTV) có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình dinh dưỡng của trong biển, có tới 30 loại thức ăn khác nhau, trong đó có 57,1% là phiêu sinh thực vật – 5 tảo silic. Tần suất cao nhất là Coscinodiscus, Pleurosigma, Rhizosolenia và Gyrosigma (Phạm Thược, 2003). Có thể nói nếu không có phiêu sinh thực vật sẽ không có sự sống trong môi trường nước. Chúng là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái, là thức ăn của phiêu sinh động vật, các loài ấu trùng tôm, cá, cua, nhuyễn thể,… Trong môi trường nước thì phiêu sinh thực vật là nguồn cung cấp oxy dồi dào thông qua quá trình quang hợp và xử lý hợp chất nitơ trong thủy vực. Phiêu sinh thực vật còn có vai trò là sinh vật chỉ thị môi trường nước, sự có mặt các thành phần loài hay mật độ của chúng giúp chúng ta nhận biết được những mặt hạn chế hay những biểu hiện tốt cho môi trường, từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục hay phát huy để đảm bảo môi trường sống thích hợp cho các loài thủy sản. Ngoài ra, PSTV còn có sự phân bố theo mặt rộng, mật độ và sinh khối cao dần từ sâu trong cửa sông ra cửa sông và ngoài cửa sông. Các khảo sát tại vùng cửa sông Thái Bình trên một mặt cắt khoảng 20 km đã cho kết quả như trên. Tại trạm Phú Hào, mật độ PSTV từ 1 triệu – 14 triệu tế bào/m3, nhưng ra đến cửa sông mật độ lên đến 17 triệu – 44 triệu tế bào/m3. Yếu tố về khí hậu cũng tác động rất lớn đến sự phân bố của phiêu sinh vật nói chung và PSTV nói riêng. Trong mùa mưa các loại hình thuỷ vực đều đầy nước và được bổ sung dinh dưỡng từ nhiều nguồn khác nhau. Điều đó dẫn tới sự phát triển của PSTV, đặc biệt là các thuỷ vực nước đúng như ao, hồ, đầm, ruộng lúa,…. Kết quả khảo sát sự phát triển sinh khối của PSTV tại Hồ Tây ở trên đã xác định điều đó. Tuy nhiên, khi phát triển quá mức lên đến cực đại thì chúng sẽ rơi vào giai đoạn suy tàn (còn gọi là hiện tượng tảo tàn) làm cho các yếu tố môi trường biến động lớn, quá trình phân hủy của xác tảo làm tiêu hao nhiều oxy hòa tan, phóng thích CO2 và tạo ra nhiều khí độc như: H2S, NH3…gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các loài thuỷ sản trong thuỷ vực. Thành phần PSTV trên tuyến sông Hậu, sông Tiền và các nhánh sông đều có sự hiện diện của 5 ngành: Cyanophyta (tảo lam), Bacillariophyta (tảo khuê), Chlorophyta (tảo lục), Dinophyta (tảo giáp) và Euglenophyta (tảo mắt) (Tổng cục Môi trường,2010). Trên sông Hậu có sự khác biệt rất lớn về số lượng và thành phần loài phiêu sinh thực vật giữa các mùa trong năm. Vào mùa khô có sự hiện diện của 39 loài thuộc các ngành: Cyanophyta với 9 loài (chiếm 23.08%), Chrysophyta với 16 loài (chiếm 41.02%), Chlorophyta với 9 loài (chiếm 23.08%), Dianophyta với 3 loài (chiếm 7.69%) và 2 loài thuộc ngành Euglenophyta (chiếm 5.13%). Trong đó, loài Melosira granulata thuộc ngành Chrysophyta và Microcystis sp. thuộc ngành Cyanophyta phân bố rộng khắp tuyến sông Hậu nhưng loài Microcystis chiếm ưu thế về số lượng cá thể và phân bố rộng. Thành phần loài phiêu sinh thực vật trên sông Hậu có tính đa dạng cao nhất vào giai đoạn cuối mùa mưa với sự hiện diện của 96 loài, trong đó ngành Chrysophyta có số loài chiếm 6 tỷ lệ cao nhất (43 loài, chiếm 44.79%), ngành Chlorophyta với 28 loài (chiếm 29.16%), số loài còn lại thuộc các ngành Cyanophyta, Dianophyta và Euglenophyta. Trên sông Tiền vào mùa khô có sự hiện diên của 41 loài thuộc các ngành: Cyanophyta với 8 loài (chiếm 29.51%), Chrysophyta với 17 loài (chiếm 41.46%), Chlorophyta với 9 loài (chiếm 21.08%), Dianophyta với 5 loài (chiếm 12.2%) và 2 loài thuộc ngành Euglenophyta (chiếm 4.88%). Với 61 loài phiêu sinh thực vật xuất hiện vào giai đoạn đầu mùa mưa, bao gồm: Chrysophyta (30 loài, chiếm 49.18%), Cyanophyta (12 loài, chiếm 19.67%), Chlorophyta (11 loài, chiếm 18.11%), còn lại thuộc ngành Dianophyta (4 loài) và Euglenophyta (4 loài). Trong đó, loài Melosira granulata chiếm ưu thế về số lượng cá thể và phân bố rộng khắp tuyến sông Hậu. Thành phần loài phiêu sinh thực vật trên sông vào mùa khô có sự hiện diện của 73 loài thuộc các ngành: Cyanophyta với 16 loài (chiếm 21.29%), Bacillariophyta với 32 loài (chiếm 43.84%), Chlorophyta có 10 loài (chiếm 13.7%), Dinophyta với 6 loài (chiếm 8.22%) và 9 loài thuộc ngành Euglenophyta (chiếm 12.33%). Với 113 loài phiêu sinh thực vạt xuất hiện vào giai đoạn đầu mùa mưa, bao gồm: Bacillariophyta (50 loài, chiếm 44.25%), Euglenophyta (31 loài, chiếm 27.43%), Cyanophyta (12 loài, chiếm 10.62%), Chlorophyta (với 16 loài, chiếm 14.16%) và Dinophyta (4 loài) Vào giai đoạn cuối mùa mưa với sự hiện diện của 84 loài, trong đó ngành Euglenophyta với 29 loài (chiếm 33.72%), Chlorophyta với 22 loài (chiếm 25.28%), Bacillariophyta với 18 loài (chiếm 20.93%), Cyanophyta với 11 loài (chiếm 12.79%) và dinophyta có 4 loài (chiếm 6.98%). 2.3 Vai trò của thực vật nổi Trong nuôi trồng thủy sản tảo được xem là mắc xích đầu tiên và rất quan trọng trong chuỗi thức ăn. Nhiều loài tảo được các động vật phù du sử dụng làm thức ăn và các động vật phù du này lại chính là thức ăn cho tôm cá. Một số loài tảo lục, tảo lam, tảo mắt đã được nghiên cứu để phục vụ cho công tác sản xuất cũng như nuôi thương phẩm các giống loài thủy sản. Không chỉ có vậy, tảo lam còn có vai trò rất lớn trong sinh giới, chúng tạo nên năng suất sơ cấp cho các thủy vực bằng con đường quang tự dưỡng tạo nên một sinh khối khổng lồ góp phần trong việc nuôi trồng thủy sản và tạo nên sự đa dạng, phong phú cho các loài sống trong môi trường nước. Trong thủy vực, tảo là một sinh vật sản xuất oxy tự do rất cần thiết cho các hoạt động sống của các sinh vật khác như các loài giáp xác nhỏ, các loài cá, các loài nhuyễn thể,… ngoài ra, tảo còn là nơi trú ngụ cho một số sinh vật khác. 7 Tuy nhiên, bên cạnh một số loài có lợi thì tảo cũng có một số loài có hại trong thủy vực như một số loài tảo thuộc nhóm Prymnesium khi phát triển mạnh sẽ làm cho nước có màu vàng nâu gây độc làm chết cá trong ao nuôi (Prymnesium saltans, P. parvum, P. minutum). Theo Uitzur và Shilo (1970) thì độc tố của tảo này là một dạng mỡ protein (glucolipid và galacto lipid). Một số loài tảo giáp Gymnodinium, Peridinium, Ceratium, Pyrodinium nếu chúng phát triển mạnh trong thủy vực, khi chết hàng loạt chúng sẽ gây độc cho các thủy vực làm chết tôm cá và một số loài thủy sinh vật khác. Nếu con người ăn phải các loài thủy sinh vật này cũng ngộ độc. Hầu hết các loài tảo khi phát triển quá mạnh trong các thủy vực giàu dinh dưỡng sẽ gây hiện tượng nở hoa nước làm giảm oxy hòa tan trong nước vào ban đêm là nguyên nhân gây ra hiện tượng cá nổi đầu, chết ngạt. Hiện tượng nở hoa nước thường gặp ở một số loài tảo nước ngọt Anabeana, Microcystis… một số loài tảo lục và một số loài tảo giáp ở biển (Gymnodinium, Pyrodinium…). Vì vậy, vai trò của tảo là rất quan trọng trong nghề nuôi trồng thủy sản cũng như đánh bắt thủy sản. 2.4 Các tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu Trước năm 1960 các công trình nghiên cứu về phiêu sinh thực vật ở Việt Nam có rất ít và hầu như chỉ mang tính chất phân loại. M.D.Bosi, P.Petit (1904) công bố 38 loài tảo silic thu được trong các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam. P.Fremy (1927) đã mô tả 2 loài tảo lam từ mẫu thu được của D.Gaumont khi nghiên cứu tảo nổi ở miền Nam VN ( theo Petelot,1944) Từ năm 1960 đến 1975, ở miền nam VN có các công trình nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ, A.Shirota, Nguyễn Thành Tùng. Phạm Hoàng Hộ (1963, 1964,1968) nghiên cứu tảo thuỷ vực ruộng lúa, kênh ao tỉnh Cần Thơ đã đưa ra danh mục 39 loài tảo, trong đó tảo lam - 30 loài, tảo lục - 2 loài, tảo thuộc họ Characeae - 7 loài. Đa số thuộc loài tảo sống ở đáy, sống bám. A.Shirota (1963, 1966) trong chương trình nghiên cứu hải ngoại của Nhật Bản đã công bố quyển sách về sinh vật nổi Nam Việt Nam với 388 taxon loài và dưới loài, trong đó tảo mắt - 57 loài, tảo lục - 152 loài, tảo lam - 29 loài, tảo silic - 103 loài, tảo roi lệch - 4 loài, tảo vàng - 43 loài. Trong khoảng 3 thập niên gần đây có các công trình nghiên cứu của các nhà tảo học như Nguyễn Văn Tuyên (1980), trong luận án phó tiến sỹ sinh học đã giám định 856 loài thực vật thuộc 7 ngành tảo nổi trong một số các thủy vực Bắc Việt Nam. Năm 1982, Dương Đức Tiến trong nghiên cứu điều tra các sinh thái thuỷ vực nước ngọt Việt Nam công bố 1403 các taxon loài và dưới loài trong đó tảo lục - 530, tảo silic - 388, tảo lam - 344, tảo mắt - 78, tảo giáp - 30, tảo vàng ánh - 14, tảo vòng - 9, tảo vàng - 5 và tảo đỏ - 4. 8 Nguyễn Thượng Đào đã nghiên cứu về phân bố và các giống loài phiêu sinh ở Đà Lạt và Nha Trang (1980). Phùng Thị Nguyệt Hồng cùng A. Couté và P. Bourrelly đã nghiên cứu về tảo lam ở vùng châu thổ sông Mê Kong (VN) (1992). Sau đó tác giả nghiên cứu về thanh tảo có dị bào vùng ĐBSCL (1993), tác giả cùng các cộng sự nghiên cứu rong nước ngọt ở ĐBSCL (1996), cùng với Nguyễn Thị Pha tác giả nghiên cứu PSTV ở rạch Săng Trắng (1997). 9 PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu nghiên cứu: Dụng cụ:  Lưới phiêu sinh thực vật, mắt lưới 25 - 27 m .  Xô nhựa 20L, ca nhựa.  Chai nhựa 110mL.  Chai nhựa 1L.  Ống nhỏ giọt.  Giấy thấm.  Bút lông dầu.  Kính hiển vi quang học.  Buồng đếm Sedwick Rafter.  Lame, lamelle.  Ống đong 500mL.  Một số dụng cụ khác trong phân tích. Hóa chất:  Formol thương mại 38 – 40%. 3.2 Phương pháp nghiên cứu: 3.2.1 Địa điểm thu mẫu: Bảng 3.1 Các điểm thu mẫu tại An Giang và Thành phố Cần Thơ STT ĐỊA ĐIỂM THU THỜI GIAN THU 1 Long Bình 8h30h 2 Khánh An 11h 3 Vàm Nao 8h30h 4 Kênh Bình Hòa 11h 5 Nhánh sông Thốt Nốt 14h 6 Thốt Nốt 7 Bến Ninh Kiều 8h 8 Cái Sơn 11h 15h30 10 Long Bình: là nhánh sông thông với sông Hậu và là ranh giới giữa Việt Nam và Campuchia, trên thủy vực có nhiều bè nuôi cá hai bên bờ có nhiều dân cư sinh sống. Khánh An: là đoạn tiếp giáp đầu tiên của sông Mê Kong khi chảy qua Việt Nam và có tên là sông Hậu, dân cư thưa thớt, sông là nguồn nước chủ yếu trong sinh hoạt của dân cư sinh sống dọc hai bên bờ sông. Vàm Nao: là nơi tiếp giáp giữa sông Tiền và sông Hậu, nước có màu phù sa. Kênh Bình Hòa: thông với sông Vàm Nao, sông rộng khoảng 50m, gần chợ và dân cư đông đúc. Nhánh sông Thốt Nốt: là nhánh sông của sông Thốt Nốt, dọc hai bên bờ dân cư thưa thớt, xung quanh có nhiều vườn cây ăn trái. Thốt Nốt: là đoạn sông Hậu chảy qua địa bàn quận Thốt Nốt, xung quanh có nhiều ao nuôi cá. Bến Ninh Kiều: là thắng cảnh du lịch nổi tiếng tại thành phố Cần Thơ, gần chợ và dân cư sinh sống dọc hai bên bờ nên sông bị ảnh hưởng bởi lượng nước thải từ chợ và nước thải sinh hoạt. Cái Sơn: Là nhánh sông chảy từ Cái Răng đi sâu vào Cái Sơn, nước sông có màu xanh lam, nguồn nước bị ô nhiểm nặng do nước thải sinh hoạt của dân cư dọc hai bên bờ và nước cống trong khu dân cư đổ ra. 3.2.2 Thời gian thu mẫu: Từ tháng 07 – 2011 đến tháng 12 – 2011. Chu kỳ 1 tháng thu mẫu 1 lần.  Đợt 1: 26 – 07 đến 30 – 07 – 2011.  Đợt 2: 24 – 08 đến 31 – 08 – 2011.  Đợt 3: 16 – 09 đến 23 – 09 – 2011.  Đợt 4: 26 – 09 đến 29 – 10 – 2011.  Đợt 5:14 – 11 đến 18 – 11 – 2011.  Đợt 6: 14 – 12 đến 18 – 12 – 2011. 3.2.3 Phương pháp thu mẫu:  Thu mẫu định tính: Dùng lưới phiêu sinh thực vật thu xung quanh thủy vực theo hình số 8, cho vào chai nhựa 110ml,sau đó cố định bằng formol 2 – 4%.  Thu mẫu định lượng: 11
- Xem thêm -