Khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế

  • Số trang: 144 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 6
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG ---------------- HOÀNG LÊ THUÝ NGA KHẢO SÁT NGÔN NGỮ PHỎNG VẤN TRÊN TRUYỀN HÌNH Ở THỪA THIÊN HUẾ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC MÃ SỐ : 60.32.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Trọng Phiến HÀ NỘI - 2008 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT DCT : Người dẫn chương trình HVTV : Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại phành phố Huế TH : Truyền hình SP1 : Speaker 1 ( Người DCT) SP2 : Speaker 2 ( Người được phỏng vấn) TRT : Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Thừa Thiên Huế TTH : Thừa Thiên Huế VD : Ví dụ VTV : Đài Truyền hình Việt Nam MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................... 5 4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 6 5. Đóng góp của đề tài .............................................................................. 7 6. Kết cấu của luận văn ............................................................................ 7 Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung có liên quan đến đề tài .......... 8 1.1. Phỏng vấn và phỏng vấn báo chí ....................................................... 8 1.1.1. Khái niệm ................................................................................... 8 1.1.2. Đặc trưng của thể loại phỏng vấn ............................................... 11 1.1.3. Phỏng vấn-một thao tác nghiệp vụ báo chí ................................. 13 1.1.4. Sự khác nhau của thể loại phỏng vấn trong các loại hình báo chí ..... 17 1.2. Giao tiếp hội thoại trên truyền hình ................................................... 21 1.2.1. Khái niệm hội thoại ........................................................................ 22 1.2.2. Các yếu tố cấu trúc của hội thoại ................................................ 23 1.2.3. Những quan hệ liên cá nhân trong giao tiếp ............................... 24 1.2.4. Nguyên lý lịch sự ....................................................................... 26 1.2.5. Các yếu tố phi lời trong hội thoại ............................................... 28 1.3. Tiểu kết ............................................................................................. 29 Chương 2. Giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ........................................................... 30 2.1. Các nhân tố của cuộc phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế .... 30 2.1.1. Người phát, người nhận ............................................................. 30 2.1.2. Thoại trường của cuộc phỏng vấn trên TH ở TTH ..................... 34 2.2. Hội thoại trong phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ....... 34 2.2.1. Cấu trúc khái quát của một cuộc phỏng vấn trên TH .................. 34 2.2.2. Cặp thoại trong hội thoại phỏng vấn .......................................... 40 2.3. Các hành vi nghi thức trong phỏng vấn trên truyền hình.................... 50 2.4. Câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ................. 56 2.6. Các yếu tố phi ngôn ngữ trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ............................................................... 61 2.7. Tiểu kết ............................................................................................. 64 Chương 3. Đặc điểm về ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ........................................................... 65 3.1. Các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng trong phỏng vấn ................ 65 3.1.1 Về ngữ âm .................................................................................. 65 3.1.2. Về từ vựng ................................................................................. 79 3.1.3. Về ngữ pháp .............................................................................. 81 3.2. Văn hóa ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ....................................... 96 3.2.1. Ưu điểm ..................................................................................... 96 3.2.2. Hạn chế ...................................................................................... 97 3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và tính hấp dẫn của các cuộc phỏng vấn trên Truyền hình ở Thừa Thiên - Huế ................. 102 3.4. Tiểu kết ............................................................................................. 108 KẾT LUẬN ............................................................................................. 109 TÀI LIỆU KHAM KHẢO ..................................................................... 112 PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giao tiếp đại chúng, ngôn ngữ là phƣơng tiện hết sức quan trọng, không có phạm vi giao tiếp đại chúng nào có thể hoạt động nếu thiếu ngôn ngữ-một trong những yếu tố chính tạo nên sự hoạt động đó. Vì vậy, hiệu quả của các phƣơng tiện giao tiếp đại chúng phụ thuộc trực tiếp vào ngôn ngữ và phong cách diễn đạt. Giao tiếp trên truyền hình cũng không nằm ngoài yếu tố đó. Theo quan niệm của ngữ dụng học, hoạt động giao tiếp trên truyền hình là hoạt động không chỉ đơn thuần là đơn thoại, một chiều, một phía mà về cơ bản là quan hệ tƣơng tác, trong đó phải kể đến giao tiếp hội thoại-đối thoại, tức là trao đổi giữa hai bên tham gia giao tiếp, luân phiên và tác động lẫn nhau đến công chúng. Dạng giao tiếp này xuất hiện rất nhiều ở các chƣơng trình truyền hình nhƣ: Trò chơi truyền hình, giao lƣu, tọa đàm, đàm thoại, các chuyên mục đƣợc thể hiện dƣới hình thức đối thoại...Trong tất cả các chƣơng trình đó, giao tiếp hội thoại đƣợc thể hiện rõ nét nhất là ở các cuộc phỏng vấn. Với sự kết hợp giữa lời nói và những hành động phi ngôn ngữ, phỏng vấn truyền hình đƣợc xem là cuộc nói chuyện sống động và hấp dẫn. Đây là cách khai thác thông tin trực diện dƣới dạng đối thoại, trong đó nhà báo nêu câu hỏi và đối tƣợng trả lời nhằm cung cấp thông tin cho đối tƣợng thứ bacông chúng xem truyền hình. Thông qua cuộc trao đổi đó, ngƣời xem có thể nhận thấy đƣợc phong cách, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử ngôn ngữ của ngƣời dẫn chƣơng trình và các đối tƣợng đƣợc phỏng vấn. Do vậy, phỏng vấn với tƣ cách vừa là một thủ pháp vừa là một thể loại phải gắn liền với kỹ năng nghệ thuật sử dụng câu hỏi, chiến lƣợc giao tiếp ngôn ngữ chuẩn mực và văn hóa ngôn từ. 1 Hiện nay, có một thực tế, các cuộc phỏng vấn ở một số đài truyền hình khu vực và địa phƣơng có chất lƣợng chƣa cao. Nhiều cuộc phỏng vấn đƣợc xây dựng chỉ mang tính hình thức, diễn biến cuộc đối thoại đơn điệu, nhàm chán. Các đài truyền hình ở Thừa Thiên Huế (TTH) cũng có tình trạng nhƣ thế . Những ngƣời dẫn chƣơng trình (DCT) chƣa có nghệ thuật điều hành một cuộc đối thoại trên truyền hình. Các cuộc phỏng vấn trên đài thƣờng kém hấp dẫn, đi theo lối mòn. Công chúng có cảm giác xem các cuộc phỏng vấn nhƣ xem một cái khuôn đã đƣợc đúc sẵn, chỉ có thay đổi chất liệu ở mỗi cuộc phỏng vấn. Có ngƣời dẫn chƣơng trình thƣờng xuyên sử dụng lối nói không chuẩn mực, kém lịch sự...gây khó chịu cho ngƣời nghe, ngƣời xem. Do đó, vấn đề đặt ra là để một cuộc phỏng vấn “trực diện” trên truyền hình hấp dẫn, lôi cuốn và đạt hiệu quả giao tiếp cao thì mỗi ngƣời DCT không chỉ thực hiện tốt khâu chuẩn bị mà còn thực hiện một nghệ thuật phỏng vấn trong đó nghệ thuật ứng xử ngôn ngữ, ứng xử giao tiếp là rất quan trọng. Từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu ngôn ngữ của phỏng vấn trên truyền hình là một điều cần thiết. Do vậy chúng tôi chọn “Khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở TT-Huế” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần nâng cao chất lƣợng hiệu quả của các cuộc phỏng vấn ở Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Huế (HVTV) và đài Phát thanh-Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT). 2. Lịch sử vấn đề Từ nhiều năm nay, khi nghiên cứu về truyền hình, các nhà khoa học đã quan tâm nhiều về cách thức, quy trình, nghiệp vụ để xây dựng các chƣơng trình truyền hình nhƣ cách làm tin, phóng sự, các chƣơng trình giao lƣu trò chơi, phim tài liệu, dàn dựng các chƣơng trình giao lƣu giải trí… Việc nghiên cứu ngôn ngữ thể hiện trên truyền hình chỉ mới bắt đầu từ khoảng mấy năm gần đây. Có thể đánh giá sơ bộ một vài công trình khoa 2 học, các bài báo... nghiên cứu ngôn ngữ ở phƣơng tiện giao tiếp truyền thông này nhƣ sau: Nếu bắt đầu từ 1999 thì có lẽ phải kể đến các bài viết của Nguyễn Thế Kỷ nhƣ: “Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình” (tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 8/99), “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ vai giao tiếp với công chúng” (Tạp chí ngôn ngữ, số 4/1999) và rất nhiều bài viết của các tác giả khác nhƣ: Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Thị Thanh Bình, Vũ Bá Hùng, Nguyễn Đức Tồn... đƣợc đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tiếng Việt trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng” Bài viết “Mấy nhận xét về nói và viết trên đài truyền hình” của tác giả Nguyễn Thế Kỷ chủ yếu nêu những “hạt sạn” khi sử dụng ngôn ngữ trên đài truyền hình. Từ đó, tác giả đƣa ra yêu cầu cần phải có một sự lựa chọn trong cách nói, cách viết nhƣ thế nào để diễn tả chính xác tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời chuyển tải thông tin và giúp ngƣời tiếp nhận hiểu đúng ý đồ của nhà đài. Trong bài “Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ vai giao tiếp với công chúng”, Nguyễn Thế Kỷ cũng đã nêu một cách khái quát về hình thức giao tiếp đối thoại trên truyền hình cùng với các nhân tố giao tiếp tƣơng ứng. Đồng thời tác giả cũng đã xác định đƣợc phong cách ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên đài truyền hình là phong cách khẩu ngữ văn hóa. Để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này, năm 2004, tác giả đã thực hiện công trình luận án Tiến sĩ Ngữ văn của mình với tên gọi “Dạng thức nói trên truyền hình”. Công trình này là một đóng góp đáng ghi nhận về mặt khoa học và thực tiễn. Khi chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn của mình cũng đã kế thừa những phát hiện của tác giả. Liên quan đến tìm hiểu cách sử dụng ngôn ngữ trên truyền hình còn phải kể đến tác giả Nguyễn Đức Tồn với bài viết “Hoạt động ngôn ngữ phát thanh và truyền hình từ cách nhìn của tâm lý ngôn ngữ học” (Tiếng Việt trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, Hội ngôn ngữ học TP-Hồ Chí 3 Minh, Viện ngôn ngữ học Việt Nam, Trƣờng ĐHKHXH & NV TP.HCM, 1999), Nguyễn Thị Thanh Bình với bài “Suy nghĩ về hệ quả của ngôn ngữ trên vô tuyến truyền hình” cũng đƣợc đăng trong kỷ yếu trên. Năm 2002, trong Hội nghị khoa học “Những vấn đề ngôn ngữ học”, tác giả Thanh Bình cũng đã nhận xét về sự đa dạng của phong cách ngôn ngữ trên truyền hình đó là: nói, đọc, viết theo cách thức đặc trƣng của giao tiếp trên truyền hình thông qua bài “Vài nét về sự đa dạng của các phong cách ngôn ngữ trên truyền hình” Bài viết “Đặc trưng giao tiếp lời nói truyền hình” của T.S. Phạm Văn Thấu đăng trên tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 5 (tháng 9+10)/2003 lại tìm hiểu vấn đề về hoạt động giao tiếp có sự tƣơng tác ngôn ngữ đó là hội thoại đứng ở góc độ ngữ dụng học. Theo tác giả này thì trên truyền hình “những người giao tiếp không nhìn thấy khán giả đích thực của mình” cho nên “về phía người nói dù không nhìn thấy ánh mắt đáp lại nhưng anh ta lại phải luôn ý thức được mình đang nói với ai” [ 52, 33] . Do đó, lời nói trên truyền hình phải là những lời nói mẫu mực và chuẩn hóa cao. T.S Phạm Văn Thấu cũng đã có bài “Phỏng vấn báo chí nhìn từ góc độ giao tiếp”. Tác giả cho rằng “giao tiếp trong phỏng vấn là quá trình tương tác, cho nên nó có những yêu cầu, đặc trưng gần với hội thoại, bên cạnh tính chất đơn thoại” [3, 152]. Vì vậy, bài viết cũng đã bàn về quan hệ giao tiếp trong phỏng vấn, mục tiêu, đối tƣợng, hình thức của phỏng vấn và phép lịch sự trong giao tiếp trên truyền hình. Ở mức độ luận văn cử nhân và thạc sĩ, khi nghiên cứu về cách sử dụng ngôn ngữ trên truyền hình cũng đã có Mai Thị Minh Thảo bàn về “Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin thời sự Đài Truyền hình Việt Nam” (2004), Vũ Thị Kim Dung “Tìm hiểu những dạng lỗi thường gặp về ngôn ngữ trong chương trình thời sự của truyền hình Hà Nội” (2004) và Hà Nguyên Sơn “ Ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình”(2006) . Luận văn của 4 tác giả Minh Thảo nêu các đặc trƣng về ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và lời bình trong bản tin thời sự của đài THVN. Về phƣơng diện ngôn ngữ, mặc dù luận văn chƣa có đóng góp gì nhiều nhƣng cũng đã nêu đƣợc một số lỗi về cách dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong chƣơng trình. Tác giả góp một tiếng nói đề nghị khắc phục những nhƣợc điểm trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhà đài. Luận văn của Vũ Thị Kim Dung nêu rõ những hạn chế về phƣơng tiện diễn đạt ngôn từ trên đài truyền hình Hà Nội . Gần đây, nghiên cứu về ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đã có luận văn thạc sĩ của Hà Nguyên Sơn. Đóng góp của công trình này là đã tìm hiểu diễn tiến ngôn ngữ trong các chƣơng trình thời sự, thể loại chân dung, Gameshow và sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đối với vấn đề tác nghiệp, nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời. Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi đi sâu khảo sát các cuộc phỏng vấn ở các đài truyền hình ở TTH. Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi không phân chia theo từng chuyên mục, chƣơng trình nhƣ tác giả Hà Nguyên Sơn mà nghiên cứu một cách tổng quát. Bởi vì tất cả các cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình TTH đều giống nhau về hình thức và tính chất. Hƣớng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là: cấu trúc cuộc thoại, câu hỏi phỏng vấn, hành vi nghi thức cuộc thoại, các yếu tố phi ngôn ngữ, các phƣơng tiện ngôn ngữ, văn hoá ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp truyền hình. Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi chọn các cuộc phỏng vấn trên truyền hình mang tính chất giao tiếp đối thoại đặc thù thông qua hình thức hỏi-đáp. Từ đó tìm tòi các nét khu biệt địa phƣơng Huế trong phỏng vấn truyền hình. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Nhƣ tên gọi của đề tài, đối tƣợng khảo sát của luận văn là một số cuộc phỏng vấn ở các chuyên mục, các cuộc tọa đàm đƣợc thể hiện dƣới hình thức hội thoại-đối thoại. Về cơ bản đây là những cuộc phỏng vấn mang tính chất song thoại. Cơ sở ngữ liệu mà chúng tôi sử dụng là 50 cuộc phỏng vấn ở đài 5 Phát thanh-Truyền hình Thừa Thiên Huế (TRT) (không nghiên cứu lĩnh vực phát thanh) và Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Huế (HVTV). Khi tìm hiểu các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, chúng tôi không đi sâu tìm hiểu quy trình để thực hiện các cuộc phỏng vấn nhƣ: xác định đề tài, xây dựng kịch bản, chuẩn bị hậu trƣờng, công tác tìm hiểu và mời đối tƣợng phỏng vấn, ghi hình, biên tập… nhƣ thế nào mà chỉ nghiên cứu cuộc phỏng vấn đƣợc diễn ra một cách “trực diện” trên đài mà ở đó công chúng có thể “mắt thấy tai nghe” diễn biến của cuộc trao đổi, nói chuyện giữa hai bênngƣời dẫn chƣơng trình và ngƣời đƣợc mời tham dự cuộc phỏng vấn. Nghĩa là tìm hiểu một cuộc hỏi-đáp đƣợc tổ chức nhƣ thế nào và các phát ngôn hỏi đƣợc thể hiện bằng hình thức ngôn ngữ ra sao. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Nếu nhƣ ở báo in công tác tìm kiếm và lƣu giữ tƣ liệu dễ dàng thì với truyền hình công việc đó quả thật là khó khăn, phức tạp. Để có đƣợc ngữ liệu khảo sát, thống kê, phân loại, ngƣời nghiên cứu dùng phƣơng pháp ghi âm hoặc là chuyển từ băng hình sang đĩa VCD, biến chúng từ ngôn bản (nói) về dạng văn bản (viết). Trong quá trình khảo sát những cuộc phỏng vấn đƣợc thể hiện bằng văn nói đó chúng tôi đã quay trở lại so sánh, đối chiếu những kịch bản đã đƣợc soạn sẵn ở dạng văn viết (để nói), từ đó rút ra sự giống và khác nhau giữa chúng. Trên cơ sở tƣ liệu đã thu thập, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp thống kê, phân loại, phân tích, so sánh, …nhằm đƣa ra những nhận định có tính lý luận và thực tiễn Ngoài ra, để có một cái nhìn khách quan về ƣu điểm và hạn chế của các cuộc phỏng vấn truyền hình ở TTH chúng tôi đã có so sánh với những cuộc phỏng vấn trong chƣơng trình “Ngƣời đƣơng thời” của đài Truyền hình Việt Nam. 6 Tất cả những phƣơng pháp trên xuất phát từ lý luận báo chí học và dụng học ngôn ngữ. Về thao tác phân tích, chúng tôi dùng cách phân tích ngôn ngữ hội thoại, quan hệ liên nhân giữa các vai tham gia cuộc phỏng vấn. 5. Đóng góp của đề tài Về mặt lý luận, luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận báo chí và dụng học Việt ngữ, cho nên những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm rõ thêm về giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn truyền hình. Ngoài ra, luận văn cũng muốn khẳng định việc vận dụng lý thuyết hội thoại trong ngữ dụng học để nghiên cứu cuộc phỏng vấn báo chí là hợp lý, khoa học. Đây là cách tiếp cận liên ngành. Ở một góc độ nào đó, chính sự vận dụng khảo sát này gia tăng phạm vi nghiên cứu, phạm vi ứng dụng của lý thuyết hội thoại nói riêng và ngữ dụng học nói chung. Về mặt thực tiễn, luận văn góp thêm tƣ liệu cho những nhà nghiên cứu, giảng dạy, sinh viên chuyên ngành báo chí quan tâm đến cách sử dụng ngôn ngữ của các nhà đài. Đồng thời, ở phạm vi tỉnh TT-Huế, luận văn là cứ liệu để giúp cho những ngƣời làm báo nâng cao chất lƣợng và tính hấp dẫn của các cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình địa phƣơng. 6. Kết cấu của luận văn Luận văn gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong phần nội dung, luận văn trình bày làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung có liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn trên truyền hình ở TTH Chƣơng 3: Đặc điểm về ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở TTH 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. PHỎNG VẤN VÀ PHỎNG VẤN BÁO CHÍ 1.1.1. Khái niệm Phỏng vấn (tiếng Anh-Interview có nghĩa là gặp gỡ để trao đổi)- đó là cuộc trò chuyện, trao đổi về vấn đề nào đó giữa ngƣời này với ngƣời kia bằng hình thức giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp. Thuật ngữ phỏng vấn là một khái niệm rộng, có thể hiểu ở ba góc độ: Phỏng vấn là hình thức giao tiếp xã hội (trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa ngƣời này với ngƣời kia về một vấn đề mà hai bên quan tâm (chủ yếu mang tính cá nhân). Hình thức này xảy ra trong cuộc sống hàng ngày hết sức phong phú và đa dạng. Ví dụ: A: Tối qua anh có xem phim cuối tuần trên VTV1 không? B: Có A: Anh nhận xét thế nào về nhân vật chính? B: Diễn xuất tốt Phỏng vấn là một phƣơng thức, phƣơng pháp nhằm thu thập bất cứ thông tin nào mà con ngƣời cần biết về các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Trong hoạt động báo chí, phỏng vấn là phƣơng pháp khai thác, thu thập thông tin thông qua phƣơng thức hỏi. Thực chất, đây là vừa là một chiến thuật giao tiếp và cũng vừa là nghệ thuật sử dụng câu hỏi. Thao tác nghiệp vụ báo chí này nhằm tìm kiếm thông tin và phản ứng hiện thực trong các thể loại báo chí nhƣ: tin, phóng sự, ghi nhanh, phỏng vấn, tƣờng thuật … Phỏng vấn đƣợc xem là một thể loại báo chí độc lập đƣợc thể hiện dƣới hình thức đối thoại thông qua các hệ thống câu hỏi (của nhà báo) và 8 câu trả lời (của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn) nhằm làm rõ một vấn đề, sự kiện hiện tƣợng nào đó trong đời sống xã hội có tính thời sự, thoả mãn nhu cầu “đƣợc biết” của công chúng. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, các thể loại báo chí luôn vận động biến đổi cùng với sự phát triển sôi động của đời sống báo chí. Bởi vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau trong hệ thống lý luận chung về phỏng vấn. Có quan niệm cho rằng: phỏng vấn chỉ cần hỏi và trả lời đơn thuần. Một sự kiện, một hiện tƣợng chỉ cần “xới xáo” bằng vài câu hỏi là xong một cuộc phỏng vấn. Quan niệm này quá đơn giản, thật chƣa ổn. Lại có quan niệm cho rằng phỏng vấn là một cuộc hỏi đáp giữa những ngƣời làm báo với một nhân vật có danh tiếng. Quan niệm này đã thu hẹp vai trò, chức năng chuyển tải nội dung của phỏng vấn. Trong cuốn “Phỏng vấn trong báo viết” của Trƣờng Đại học báo chí Lille (ESJ), Cộng hoà Pháp do Hội Nhà báo Việt Nam dịch và xuất bản năm 2002 có viết “mọi bước thu thập thông tin trong báo chí đều là một dạng phỏng vấn. Phỏng vấn là một thể loại viết báo cơ bản bởi nó tồn tại: - Như một thực hành chuyên nghiệp; (Phóng viên gặp một con ngƣời cụ thể để đặt những câu hỏi và sau đó đăng nội dung của cuộc gặp gỡ đó, cô đọng hơn, dƣới dạng câu hỏi và câu trả lời) -Như một thực hành cơ bản (Tất cả phóng sự, điều tra, câu hỏi nhân chứng đều đƣợc tạo nên từ một loạt tiểu phỏng vấn) [37, 9] Nhƣ vậy, thuật ngữ phỏng vấn cần đƣợc hiểu đúng trong từng trƣờng hợp và tình huống cụ thể với các mục đích và mức độ khác nhau. Cũng trong cuốn“Phỏng vấn trong báo viết”, ở lời giới thiệu, nhà báo Phan Quang cho rằng “Phỏng vấn là sự tiếp xúc giữa người với người, là sự 9 truyền thông giữa người với người-trong trường hợp này là giữa người được phỏng vấn và nhà báo nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thông tin của người thứ ba-là độc giả-về một chủ đề nào đó” [37, 6]. Quan niệm này gắn với tam thoại. Ngƣời hỏi, ngƣời đáp hƣớng cuộc thoại vào ngƣời thứ bathính khán giả Cuốn sách“Nghề nghiệp và công việc của nhà báo”, Hội nhà báo Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992 đã tiếp cận thể loại phỏng vấn là “Một hình thức đối thoại, trong đó nhà báo nêu các câu hỏi và người được phỏng vấn trả lời. Mục đích của bài phỏng vấn trên báo chí là đem lại cho bạn đọc những thông tin và lý lẽ về một vấn đề thời sự, chính trị, kinh tế, xã hội…Thể loại phỏng vấn đáp ứng yêu cầu của bạn đọc muốn có sự giải thích một sự kiện hoặc muốn được biết ý kiến không phải của nhà báo mà là của một nhân vật, do địa vị xã hội hoặc nghề nghiệp chuyên môn của mình, họ có một sự hiểu biết sâu sắc hơn về các sự việc…Phỏng vấn còn để giới thiệu những con người để họ nói lên những hoạt động và những động cơ thầm kín theo quan điểm riêng của họ” [36, 109]. Trong cuốn “Sản xuất các chương trình truyền hình” Trần Bảo Khánh quan niệm: “Phỏng vấn là thể loại báo chí, trong đó nhà báo làm rõ sự kiện, sự việc từ người có thẩm quyền hoặc được chứng kiến sự việc bằng các câu hỏi được chuẩn bị từ trước hoặc ngay trong quá trình phỏng vấn. Phỏng vấn không chỉ đem lại thông tin mà còn đưa lại toàn bộ tiến trình diễn ra cuộc hỏi chuyện, làm cho người đọc, người xem, người nghe thấy được cả tính cách của người hỏi, người trả lời”. [24, 127] Tác giả Đinh Văn Hƣờng trong cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn” đã đƣa ra định nghĩa khái quát và phản ánh đƣợc bản chất của phỏng vấn nhƣ sau: “Phỏng vấn báo chí là một trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội quan tâm, có ý nghĩa 10 chính trị-xã hội nhất định, được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng”. [22, 57] Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại phỏng vấn. Điều này chứng tỏ sự sôi động của làng báo nƣớc ta và sự quan tâm của các nhà lý luận báo chí. Các quan niệm trên tuy chƣa hoàn toàn đầy đủ, chính xác nhƣng đã góp phần không nhỏ vào việc định hình và phát triển của hệ thống thể loại báo chí nói chung, phỏng vấn nói riêng. Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của thể loại trong đời sống báo chí hiện nay, chúng tôi đƣa ta một khái niệm về phỏng vấn nhƣ sau: Phỏng vấn là một thể loại thuộc nhóm thông tấn báo chí sử dụng hình thức trao đổi, hỏi -đáp giữa phóng viên và đối tượng được lựa chọn để trao đổi về một vấn đề thời sự có ý nghĩa xã hội nhất định nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin mà công chúng quan tâm. Qua các ý kiến, quan điểm trên cho thấy khái niệm, định nghĩa về phỏng vấn rất đa dạng, phong phú. Cũng nhƣ các định nghĩa về các thể loại báo chí khác, định nghĩa về phỏng vấn là một định nghĩa “mở” phù hợp với sự phát triển của bản thân thể loại, của báo chí và sáng tạo của ngƣời làm báo. Vậy là, đối với nhà báo thì phỏng vấn, một mặt, là phƣơng pháp thu thập thông tin bằng cách giao tiếp trực tiếp với ngƣời sở hữu thông tin đó, và mặt khác, đó còn là thể loại thông tấn báo chí dƣới hình thức đối thoại, cuộc trao đổi trong đó nhà báo sử dụng hệ thống các câu hỏi để giúp ngƣời đƣợc phỏng vấn (nguồn thông tin) làm rõ chủ đề đã định một cách hết sức đầy đủ, theo trình tự lôgích. 1.1.2. Đặc trƣng của thể loại phỏng vấn Là một thể loại thuộc nhóm thông tấn báo chí nên đặc trƣng chính của phỏng vấn là phản ánh sự kiện hiện tƣợng, vấn đề thời sự nóng hổi, có ý nghĩa xã hội. Nó phải đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin nhanh, khách quan những vấn đề mà dƣ luận xã hội quan tâm. 11 Tính ngắn gọn, súc tích, cô đúc, mới mẻ và hấp dẫn cao là yêu cầu không thể thiếu đƣợc đối với phỏng vấn. Trong một thời gian ngắn nhất, với một lƣợng ngôn từ ít nhất, phỏng vấn phải làm thế nào chuyển tải đƣợc một lƣợng nội dung thông tin nhiều nhất, mới mẻ nhất, phong phú và sâu sắc về vấn đề đang đề cập, giải đáp rõ ràng những gì công chúng đang thắc mắc và quan tâm. Nhà báo phải biết sử dụng phỏng vấn nhƣ là một vũ khí lợi hại để định hƣớng dƣ luận. Phải làm thế nào mà cuộc phỏng vấn luôn cô đúc, ngắn gọn mà vẫn sinh động, hấp dẫn. Là một thể loại của nhóm thông tấn báo chí, phỏng vấn phải mang tính thời sự cao. Vấn đề đƣợc hỏi phải nằm trong dòng thời sự chủ lƣu, cơ bản mang tính bức xúc và đang đƣợc công chúng quan tâm. Thông tin cần thoả mãn cho công chúng phải đáp ứng kịp thời, nhanh và chính xác, có độ tin cậy cao. Yêu cầu phỏng vấn không dừng lại ở việc cung cấp thông tin cho công chúng mà còn nhiệm vụ cao hơn là giải đáp thoả đáng những gì công chúng đang nghi ngờ, và có nhu cầu cần biết rõ hơn. Đây là một đòi hỏi tất yếu về giá trị nội dung của một tác phẩm báo chí. Hình thức biểu hiện của phỏng vấn phải mang đặc trƣng của một cuộc hỏi- đáp. Ngƣời phóng viên phải tổ chức một cuộc hỏi- đáp với ngƣời biết rõ sự kiện, vấn đề mà mình định hỏi. Điều đáng lƣu ý là trong phỏng vấn, nội dung thông tin không chỉ nhằm thoả mãn thông tin cho chính ngƣời phỏng vấn mà chính là đông đảo quần chúng. Ở phỏng vấn, phóng viên chỉ là ngƣời đại diện, thay mặt cho công chúng khai thác thông tin từ những ngƣời có liên quan, có hiểu biết về vấn đề công chúng đang thắc mắc. Nội dung phỏng vấn gồm đủ các chủ đề về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…liên quan đến mọi quan tâm của xã hội và tác động đến đời sống của đông đảo quần chúng. 12 1.1.3. Phỏng vấn- một thao tác nghiệp vụ báo chí Trong một tác phẩm báo chí, tác giả xuất hiện với tƣ cách là cái tôi nhân chứng. Nhƣng trong hoạt động báo chí thực tế, không phải bao giờ nhà báo cũng là ngƣời chứng kiến đƣợc sự kiện. Đa số các trƣờng hợp sự kiện xảy ra rồi, phóng viên nhận thông tin từ một nguồn tin theo một cách nào đó. Những lúc nhƣ vậy, việc tiếp xúc đối tƣợng, những ngƣời trong cuộc, những chính kiến đều thông qua trao đổi, phỏng vấn. Những câu hỏi đƣợc đặt ra chủ yếu là nhằm mục đích khai thác thông tin trƣớc hết là cho chính nhà báo. Vấn đề xảy ra đƣợc nhà báo đánh giá mức độ quan trọng, có ý nghĩa xã hội hay không rồi lựa chọn hình thức để chuyển tải thông tin đến với công chúng. Do đó, để có đƣợc thông tin, thao tác nghiệp vụ quan trọng nhất của ngƣời làm báo là phỏng vấn. Muốn thực hiện phỏng vấn trƣớc hết ngƣời phỏng vấn phải nắm đƣợc tình hình; có kiến thức rộng về các vấn đề của đời sống xã hội; hiểu biết các đƣờng lối, chính sách, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc; có sự chuẩn bị và chủ động trong mọi tình huống; hƣớng câu chuyện theo ý đồ của mình nhằm khai thác thông tin. Nhƣ vậy, phỏng vấn là một trong những nội dung tác nghiệp quan trọng đối với bất kỳ một loại hình báo chí nào. Đây là một hƣớng tiếp cận hiện thực đặc thù, là một “cách khai thác thông tin trực diện”. Phỏng vấn không có gì khó. Nhƣng biến nó thành một kỹ năng thực sự có chất lƣợng, có nghề thì rõ ràng không phải dễ. Hỏi sao cho ra hỏi và đáp sao cho ra đáp thực sự là một vấn đề mang tính nghệ thuật. Thao tác nghiệp vụ phỏng vấn báo chí bao gồm: lựa chọn đối tƣợng phỏng vấn, lựa chọn phƣơng thức phỏng vấn, sử dụng câu hỏi và các thao tác cần thiết khác trong khi tiến hành phỏng vấn. Đó cũng chính là các thao tác chuẩn bị thoại trƣờng của một cuộc phỏng vấn. 13 1.1.3.1. Lựa chọn đối tượng phỏng vấn Việc lựa chọn đối tƣợng để phỏng vấn là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết. Khi một vấn đề xảy ra, phóng viên phải xác định đƣợc đối tƣợng nào sẽ thích hợp để cung cấp cho mình những thông tin cần thiết, chính xác, đầy đủ về sự kiện, vấn đề mà phóng viên thu thập. Ngƣời đƣợc lựa chọn phỏng vấn có thể là ngƣời trong cuộc (đối tƣợng tham gia vào sự kiện, chịu sự tác động của sự kiện…) hoặc có thể ở ngoài cuộc nhƣng có chứng kiến hoặc hiểu biết về sự kiện. Cả hai đối tƣợng đều quan trọng bởi họ sẽ bổ sung, đối chiếu giúp phóng viên vừa thu nhận vừa thẩm tra mức độ tin cậy và độ chính xác của nguồn tin. Đồng thời việc lựa chọn đối tƣợng sẽ quyết định việc thu nhận thông tin có cần thiết không, nó giúp cho phóng viên thu ngắn khoảng thời gian để đi thẳng vào trọng tâm vấn đề cần tìm hiểu. Khi lựa chọn đối tƣợng phỏng vấn, ngƣời phóng viên cần tìm hiểu trƣớc ngƣời đƣợc phỏng vấn. Phóng viên phải tạo đƣợc sự gần gũi, thân mật trong giao tiếp để có thể nắm bắt đƣợc tâm lý, tính cách của ngƣời đƣợc phỏng vấn. Việc tìm hiểu trƣớc đối tƣợng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phóng viên trong việc đặt ra những câu hỏi thích hợp nhằm thu nhận thông tin đƣợc nhanh chóng và chính xác nhất. Điều này tuỳ thuộc vào trình độ, khả năng nghiệp vụ và tài năng giao tiếp của phóng viên. Do đó, mọi trƣờng hợp, đòi hỏi ngƣời phóng viên phải khéo léo, nhạy bén. 1.1.3.2. Lựa chọn phương thức phỏng vấn Để lựa chọn phƣơng pháp tiếp cận thích hợp với đối tƣợng đƣợc phỏng vấn, phóng viên có thể sử dụng các phƣơng tiện kỹ thuật hỗ trợ nhƣ điện thoại, điện báo hoặc đến gặp trực tiếp phỏng vấn đối tƣợng. Tuỳ thuộc vào trình độ, nghề nghiệp, giới tính, sở thích, thói quen…thậm chí cả tâm trạng của đối tƣợng mà phóng viên cần lựa chọn cách hỏi và cách đặt vấn đề để phù hợp với mục đích nhằm thu đƣợc đầy đủ, chính xác và nhanh chóng 14 nhất thông tin. Vì vậy, việc tiếp cận đối tƣợng sẽ giúp ích cho công tác phỏng vấn dễ dàng và đạt hiệu quả nhƣ mong muốn. Điều quan trọng là phải tạo đƣợc mối quan hệ và sự cảm thông, sự gần gũi, tin cậy giữa phóng viên và ngƣời đƣợc phỏng vấn. Phóng viên phải tạo đƣợc cảm giác tự nhiên, thoải mái cho ngƣời trả lời phỏng vấn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực của phóng viên. 1.1.3.3. Về câu hỏi phỏng vấn Phỏng vấn là một nghiệp vụ chuyên môn báo chí có tính độc lập, mặc dù không có nhà báo nào lại không thực hiện nghiệp vụ phỏng vấn. Tuy nhiên, nhiều ngƣời nghĩ đơn giản rằng không có gì dễ cho bằng đặt một vài câu hỏi với một ngƣời nào đó rồi ghi lại những câu trả lời. Thực ra công việc này không kém phần phức tạp. Câu hỏi phỏng vấn phải thiết kế sao cho đúng vấn đề, phải đúng mục đích đã đƣợc xác định, trực tiếp và ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu, kích thích đƣợc ngƣời trả lời. Nếu làm đƣợc điều đó, phóng viên không chỉ nhận đƣợc lời giải thích, câu trả lời mà còn cả quan điểm của đối tƣợng đƣợc phỏng vấn. Ngƣời phóng viên phải tạo cho đối tƣợng sự thoải mái, tự tin để cuộc nói chuyện diễn ra một cách tự nhiên. Lựa chọn câu hỏi xã giao thích hợp, vào đề là bƣớc chuẩn bị cần thiết giúp đối tƣợng dễ dàng bƣớc vào cuộc với sự thoải mái, tự tin cao. Có khi phóng viên phải dùng một số câu hỏi không mấy liên quan đến vấn đề muốn hỏi để khai thác thông tin cần thiết hơn và đạt đến độ khách quan, trung thực hơn. Vì vậy, câu hỏi phỏng vấn phải luôn đạt độ linh hoạt cao. Thực chất các câu hỏi đầu tiên này làm chức năng dẫn nhập cuộc thoại. Nói theo ngôn ngữ học giao tiếp thì đó là chức năng tiếp xúc (contact). Câu hỏi trong phỏng vấn đặt ra phải ở dạng câu hỏi chất vấn chứ không phải khẳng định. Cần tránh đặt ra những câu hỏi chỉ có một từ trả lời “có” và “không”. Phóng viên trong quá trình phỏng vấn phải đặt câu hỏi có hƣớng mở. Đó là câu hỏi để ngỏ cho ngƣời đƣợc phỏng vấn bày tỏ quan 15 điểm của mình một cách hoàn toàn tự do hoặc câu hỏi hàm ý cho phép một số cách trả lời nhất định. Vì vậy, trong quá trình chuẩn bị phỏng vấn các nhà báo phải thận trọng trong việc nghiên cứu hệ thống câu hỏi. Mặt khác, nghệ thuật đặt câu hỏi, đòi hỏi nhà báo phải có kinh nghiệm nhất định,có những hiểu biết về lý luận và hiểu biết các phƣơng tiện biểu hiện hành vi hỏi của tiếng Việt. Thỉnh thoảng nhà báo nên hỏi lại để thẩm tra thông tin cũng nhƣ khẳng định độ chính xác, bổ sung điểm mơ hồ, chƣa rõ ràng trong câu trả lời cho đối tƣợng. Nếu cần, phóng viên có thể hỏi ngƣợc, hoặc phản đề để thẩm tra độ chính xác, tin cậy của thông tin và ngƣời cung cấp thông tin. Nhà báo cũng cần chú ý khi nêu ra câu hỏi sao cho không để bất cứ một câu hỏi nào không đƣợc “đáp lại” hoặc nêu ra những câu hỏi quá khó, phức tạp khiến cho việc trả lời khó khăn và công chúng khó hiểu. 1.1.3.4. Các thao tác cần thiết khi phỏng vấn Sau khi nêu rõ câu hỏi, điều quan trọng khi tiến hành phỏng vấn là phải biết lắng nghe (đối với báo in, truyền hình), ghi chép và ghi âm (đối với báo in, phát thanh)... Để đặt những câu hỏi kế tiếp thích hợp, tạo cho cuộc phỏng vấn có đƣợc tính sống động, mạch lạc, ngƣời phỏng vấn phải biết lắng nghe và ghi chép. Nếu ngƣời trả lời dùng những thuật ngữ khó hiểu hay diễn đạt thiếu chính xác thì phải đƣợc giải thích. Nếu trong câu trả lời có thoáng qua những lời đánh giá, nhận xét hay hạ thấp uy tín của ai đó thì phóng viên không nên bỏ qua mà phải thông minh “lái khéo” theo phƣơng châm “ lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Trong quá trình phỏng vấn, phóng viên không nên ngồi quá gần đối tƣợng đƣợc phỏng vấn, nhƣ thế sẽ cản trở ngƣời đối thoại trả lời tập trung và tự nhiên. Tuy nhiên, cũng không nên ngồi quá xa bởi điều này sẽ tạo ra bầu không khí hơi căng thẳng hoặc nhạt nhẽo.Theo lý thuyết hội thoại, đó là khoảng cách. Chính khoảng cách quy định hiệu lực của hành vi trao-đáp. 16
- Xem thêm -