Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi tôm càng xanh (macrobrachium rosenbergii) thâm canh trong ao tại tỉnh hậu giang

  • Số trang: 11 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN DƢƠNG HẢI DƢƠNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) THÂM CANH TRONG AO TẠI TỈNH HẬU GIANG Cán bộ hƣớng dẫn: Ts. LAM MỸ LAN Ths. TRẦN VĂN HẬN 2014 1 KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii) THÂM CANH TRONG AO TẠI TỈNH HẬU GIANG Dương Hải Dương Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ, Email: Duong103086@student.ctu.edu.vn, điện thoại 0939572295. ABSTRACT The “Survey on the status of giant freshwater prawn (Macrobrachium rosenbergii) farming and on farm trial of prawn intensive pond in Hau Giang province” was carried cuture from 12/2013 to 5/2014. The survey was conducted in Nga Bay, Phung Hiep, Long My and Chau Thanh A district. Fourteen farmers were interviewed and the results showed that 40% of them applied form of rotation with rice and prawn, while the other 60% apply form of semi-intensive in the pond, culture area was 0.3 – 1.8 ha, and stocking density was 8 - 12 ind/m2. The average yield was 112 - 780 kg/ha. The profit was 25.3 – 45 millions VN dong/ha with the cost benefit ratio of 75% of farmers was higher than the others. The water quality parameters in prawns weren’t on effect the growth of prawn pond such as the transparenaf (26 – 35 cm), pH (7.5 – 8.5), Oxygen (3.2 – 4.5 mg/l), ammonium (0.3 – 1.2 mg/l), P – PO43- (0.1 – 0.15 mg/L), COD (10.2 – 31.1 mg/L), BOD (2.8 – 12.6 mg/L), expect temperature (19 – 29oC), H2S (0.08 ± 0.21 mg/L) were inappropriate. After 6 months, the final mean weight of prawn was 12 – 81 g/ind. The survival rate was 26.7 %. And the prawn yield was only 1.856 kg/ha did not reach the goal of 2.800 kg/ha. at harvest, prawn famer lost 3.185.000 VND. TÓM TẮT Đề tài “Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thâm canh trong ao tại tỉnh Hậu Giang” thực hiện từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014. Đề tài gồm khảo sát hiện trạng nuôi tôm càng xanh tại 4 huyện của tỉnh Hậu Giang bao gồm Thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, huyện Châu Thành A. Thực nghiệm nuôi được thực hiện tại xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy tỉnh Hậu Giang.Khảo sát điều tra 14 hộ nuôi tôm càng xanh có 57% hộ dân nuôi tôm lúa luân canh, 43% còn lại nuôi tôm bán thâm canh trong ao. Diện tích nuôi dao động 0,3 – 1,8 ha mật độ nuôi dao động từ 8 - 12 con/m2, năng suất trung bình đạt 135 - 980 kg/ha. Lợi nhuận từ nuôi tôm càng xanh là -15,2 – 56,5 triệu đồng/ha, 56% hộ có lời và 44% hộ bị lỗ. Trong quá trình thực nghiệm nuôi, các yếu tố về môi trường nước như độ trong (26 – 35 cm), pH (7,5 – 8,5), Oxy (3,2 – 4,5 mg/L), N-NH4+ (0,3 – 1,2 mg/L), P – PO43- (0,1 – 0,15 mg/L), COD (10,2 – 31,1 mg/L), BOD (2,8 – 12,6 mg/L), đều nằm trong khoảng thích hợp cho tôm càng xanh sinh trưởng và phát triển. Nhiệt độ (19 – 24oC), H2S (0,12 ± 0,21 mg/L) là những yếu gây bất lợi cho hoạt động sống, sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Sau 6 tháng nuôi khối lượng tôm đạt từ 12 – 81 g/con, tỉ lệ sống đạt 26,7 %, năng suất đạt 1.856 kg/ha. Sau khi thu hoạch mô hình nuôi bị lỗ vốn 3.185.000 đồng. 2 1 GIỚI THIỆU Ở nước ta, đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên thuận lợi và diện tích mặt nước rộng là nơi có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm càng xanh đang được chú trọng quan tâm phát triển. Theo thống kê năm 2002 của Bộ Thủy sản nước ta đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, diện tích nuôi tôm càng xanh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đã tăng nhanh trong những năm gần đây và hiện đạt gần 5.000 ha, tăng gấp 10 lần so với trước năm 1997, tập trung lớn nhất tại các tỉnh 2 bên bờ sông Tiền và sông Hậu như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh với các mô hình như: nuôi trong mương vườn, nuôi trên ruộng lúa, nuôi trong đăng quầng. Năng suất tôm đạt trung bình 184 kg/ha/vụ đối với nuôi kết hợp với trồng lúa, 686 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm luân canh kết hợp với trồng lúa, 4.120 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm đăng quầng và 1.200 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm ao (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2003). Tuy nhiên tại tỉnh Hậu Giang mô hình này vẫn chưa được áp dụng nhiều, đặc biệt là hiện nay tình hình nuôi các loài thủy sản như cá tra, cá rô đồng đang gặp nhiều khó khăn, người nông dân muốn chuyển đổi đối tượng nuôi khác tận dụng trên một diện tích ao có sẵn. Xuất phát từ thực tế trên nhằm đa dạng mô hình nuôi, góp phần nâng cao chất lượng tôm thương phẩm, làm tăng thu nhập cho nông dân tại tỉnh Hậu Giang. Nên đề tài “Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi tôm càng xanh thâm canh trong ao tại tỉnh Hậu Giang” là rất cần thiết. Mục tiêu đề tài: Khảo sát hiện trạng nuôi tôm càng xanh tại tỉnh Hậu Giang và thực nghiệm mô hình nuôi tôm càng xanh thâm canh trong ao nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trên một diện tích đất, góp phần đa dạng mô hình nuôi, nâng cao thu nhập cho nông dân. Nội dung nghiên cứu: (1) Khảo sát hiện trạng nuôi tôm càng xanh tại tỉnh Hậu Giang (2) Khảo sát tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, năng suất tôm trong mô hình nuôi tôm càng xanh nuôi thâm canh (3) Phân tích lợi nhuận mang lại từ mô hình nuôi tôm càng xanh thâm canh. 2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2013 đến tháng 5/2014 tại xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. 2.1 Khảo sát hiện trạng nuôi tôm càng xanh Thông tin thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết các năm của các cơ quan ban ngành có liên quan đến hiện trạng nuôi tôm càng xanh của vùng và các tài liệu nghiên cứu có liên quan trước đây. Thông tin sơ cấp được thu thập bằng cách điều tra và phỏng vấn trực tiếp 14 hộ nuôi tôm càng xanh ở 4 huyện của tỉnh Hậu Giang: Thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp, 3 huyện Long Mỹ, huyện Châu Thành A theo phiếu điều tra đã soạn sẵn như: diện tích, mật độ nuôi, chi phí, lợi nhuận. 2.2 Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh trong ao Được thực hiện tại 1 hộ nuôi tại xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Diện tích ao ương là 1.200 m2 và diện tích ao nuôi là 3.000 m2. Thời gian ương nuôi 6 tháng, mật độ thả trong ao ương là 30 con/m2, kích cỡ giống 1,2 – 1,5 cm. Tôm giống được cung cấp từ trại sản xuất giống tôm càng xanh Bình Thủy 2, Thành phố Cần thơ. Thả giống trên ao ương 1200 m2, cho ăn bằng thức ăn công nghiệp dành cho tôm có hàm lượng đạm dao động từ 40 – 42% với liều lượng 1kg/ngày. Bổ sung trùn chỉ trong 2 tuần đầu tiên mỗi ngày 1 lần vào buổi chiều tối với liều lượng là 1kg/90.000 con/ngày, thức ăn được rải đều khắp ao riêng trùn chỉ để trong sàn ăn. Mực nước trong ao dao động từ 1,4 - 1,6 m. Sau 3 tháng ương tôm (lúc này tôm bắt đầu thành thục, tôm đực và tôm cái biểu hiện rõ qua hình dáng bên ngoài), tiến hành kéo lưới thu tôm trứng, tôm càng sào và chọn tôm đực tốt (tôm càng lửa, đồng cỡ) chuyển sang ao nuôi để tiếp tục nuôi. Ở giai đoạn này cho ăn thêm thức ăn tươi sống là cá biển và ốc bươu vàng được cắt nhỏ ra. Tỷ lệ thức ăn được chia ra 40% thức ăn viên công nghiệp và 60% thức ăn tươi. Thức ăn viên được cho ăn chủ yếu vào buổi tối. Riêng thức ăn tươi được chia làm 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều. Mật độ tôm đực chuyển ra ao nuôi thịt 7 con/m2, (có sử dụng quạt nước bổ sung oxy), tiếp tục nuôi thêm 3 tháng (6 tháng tính từ lúc thả tôm post) tiến hành thu hoạch toàn bộ lượng tôm trong ao. Các yếu tố về môi trường nước như nhiệt độ nước, pH, độ trong, DO, NH4+, PO43-, H2S, COD, BOD được thu định kì mỗi tháng 1 lần và được phân tích theo các phương pháp phân tích thông dụng hiện đang ứng dụng tại Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ. Tăng trưởng của tôm được theo dõi suốt quá trình nuôi bằng cách định kỳ mỗi tháng 1 lần tiến hành cân khối lượng của tôm (30 con). • Tính toán kết quả Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (Daily weight gain – g/ngày) DWG  W2  W1 t 2  t1 Trong đó: DWG: tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (g/ngày) W1: khối lượng tại thời điểm t1 (g) W2: khối lượng tại thời điểm t2 (g) Cuối vụ nuôi thông qua quá trình thu hoạch sản phẩm, tỷ lệ sống và năng suất của tôm nuôi sẽ được tính toán xác định. • Tỉ lệ sống (%) = (Số cá thể tôm thu/Số cá thể tôm thả nuôi) x 100 4 • Tỉ lệ phân cỡ (%) = (Số kg tôm thu loại 1, loại 2, loại 3, loại tôm xô/tổng số kg tôm thu) x 100 • Tỉ lệ đực cái (%) = (Số kg tôm đực thu được/tổng số kg tôm thu) x 100 Tổng khối lượng tôm thu hoạch (kg) • Năng suất tôm nuôi (kg/ha) = Diện tích ao nuôi (ha) • Tỉ suất lợi nhuận (%) = (lợi nhuận/chi phí) x 100 • Hiệu quả của mô hình = Tổng thu – Tổng chi Trong đó tổng chi phí bao gồm: chi phí cố định : Công trình ao, máy bơm nước, lưới kéo… và chi phí biến đổi: vôi, dây thuốc cá, lưới, tôm giống, thức ăn, vận chuyển, nhiên liệu, công chăm sóc. Tất cả số liệu được thu thập, phân tích và xử lý bằng chương trình Excel và đánh giá kết quả của hệ thống nuôi. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả điều tra Qua kết quả thu thập số liệu thứ cấp từ Chi cục thủy sản tỉnh Hậu Giang cho thấy giai đoạn 2009-2012, diện tích nuôi tôm càng xanh trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm dần từ 37,2 ha năm 2009 còn 9,5 ha năm 2012. Sản lượng năm 2009 là 19 tấn giảm còn 3,32 tấn năm 2012. Năng suất tôm nuôi trung bình 0,32 - 1 tấn/ha. Hình thức nuôi chủ yếu là luân canh trên ruộng lúa và nuôi bán thâm canh trong ao. 3.1.1 Năng suất mô hình nuôi Bảng 3.1 Năng suất mô hình nuôi (n) = 14 Diện tích (ha) Mật độ (con/m2) Trung bình 0,37 10,2 34,4 316,4 Độ lệch 0,6 1,54 5 211,6 Giá trị lớn nhất 1,8 12 45 980 Giá trị nhỏ nhất 0,3 8 27 135 Nội dung Kích cỡ tôm thu hoạch Năng suất (kg/ha) (con/kg) Thông qua bảng 3.1 cho thấy diện tích nuôi dao động từ 0,3 – 1,8 m, mật độ nuôi 8 – 12 con/m2, kích cỡ thu hoạch tôm dao động từ 27 – 45 con/kg. đây là kích cỡ thu hoạch đảm bảo người nuôi có lợi nhuận. Các hộ nuôi thường thu tôm kích cỡ nhỏ để rút ngắn thời gian nuôi, làm cho năng suất thu hoạch thấp, tôm kích cỡ nhỏ bán giá không cao và lợi nhuận thấp. Hầu hết các hộ nuôi tôm đều thu hoạch theo phương pháp thu tỉa, các hộ tiến hành thu hoạch tôm nuôi vào kỳ con nước cường (nước rong). Năng suất dao động từ 135 - 980 kg/ha trung bình 316,4 kg/ha. 5 3.1.2 Hiệu quả mô hình nuôi Bảng 3.2 Hiệu quả mô hình nuôi (Đơn vị tính: 1.000 đồng/ha/vụ) Nội dung (n) = 14 Tổng thu Tổng chi Lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận (%) Trung bình 53.166 48.728 4,438 3,2 Độ lệch 37.646 21.300 18.208 27,1 Giá trị lớn nhất 171.500 115.000 56.500 49 Giá trị nhỏ nhất 20.925 35.000 -15.275 -42 Qua kết quả cho thấy tổng chi phí bình quân là 48.728 triệu đồng/ha/vụ. chi phí này chủ yếu là tiền con giống, vôi, phân, xăng bơm nước và thức ăn cho tôm. Tổng thu trung bình 53.166 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận trung bình 4,438 triệu đồng/ha/vụ. Tỉ suất lợi nhuận 3,2%. Mô hình nuôi tôm càng xanh tại Hậu Giang chưa mang được lợi nhuận cao do người dân tự phát nuôi riêng lẻ, không có quy hoạch, thời gian nuôi ngắn nên khối lượng tôm thu hoạch nhỏ giá trị không cao, và người dân chưa tiếp cận được nguồn con giống chất lượng, thiếu vốn đầu tư công trình nuôi, tập quán sản xuất cũ chưa áp dụng tốt quy trình kỹ thuật ương nuôi tôm càng xanh. Bên cạnh đó đa phần người nuôi không có ao lắng phải bơm nước trực tiếp từ kênh gạch nên chưa chủ động được nguồn nước, làm tăng chi phí đầu tư trong quá trình nuôi. 3.2 Kết quả thực nghiệm 3.2.1 Các yếu tố thủy hóa và thủy lý Bảng 3.3 Các yếu tố thủy hóa và thủy lý Yếu tố Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 Tháng 1 DO (mg/L) N-NH4+ (mg/L) P-PO4 3- (mg/L) 4,5 0,3 0,1 4,3 0,6 0,15 3,2 0,8 0,1 3,5 1,2 0,15 4 0,9 0,15 3,7 1,1 0,1 H2S (mg/L) 0,08 0,12 0,13 0,15 0,18 0,21 COD (mg/L) BOD (mg/L) pH Nhiệt độ (0C) Độ trong (cm) 10,2 2,8 7,5 28 35 17,0 2,6 8 29 28 21,4 4,9 7,6 27 26 26,6 7,2 7,5 24 37 30,1 10,5 7,8 22 30 31,1 12,6 8,5 19 28 Kết quả khảo sát cho thấy có sự biến động nhiệt độ nước ở mô hình nuôi qua các tháng nuôi dao động từ 19 - 290C, đặc biệt là 3 tháng cuối (tháng 11, 12 năm 2013 và tháng 1 năm 2014) của chu kỳ nuôi nhiệt độ dao động lớn từ 19 – 240C điều này đã ảnh hưởng rất bất lợi cho sự sinh trưởng phát triển của tôm nuôi. Độ trong của ao nuôi và ao ương dao động từ 26 – 37 cm. Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) khoảng giới hạn về độ trong của ao nuôi tôm càng xanh tốt nhất là 25 – 35 cm cho thấy ao nuôi tôm có hàm lượng vật chất hữu cơ, thành phần và số lượng phiêu sinh vật hiện diện 6 trong ao nuôi tôm khá phong phú, phù hợp cho tôm càng xanh phát triển. pH trong ao nuôi có sự biến động nhỏ qua các tháng nuôi (từ 7,5 – 8,5) nằm trong khoảng thích hợp cho tôm càng xanh phát triển. Hàm lượng oxygen qua các tháng nuôi dao động từ 3,2 – 4,5 mg/L trung bình là 3,9 mg/L. Theo Boyd (1990) kết quả trên cho thấy hàm lượng Oxygen trong mô hình nuôi ít biến động do có hệ thống quạt nước nên hàm lượng oxy luôn ở mức thuận lợi cho quá trình sống của tôm nuôi. Hàm lượng NH4+ ở ao nuôi thực nghiệm dao động từ 0,3 – 1,2 mg/L, trung bình 0,8 mg/L, lượng NH4+ tăng dần từ tháng nuôi thứ nhất đến tháng nuôi thứ sáu. Nguyên nhân chính sự gia tăng về hàm lượng dinh dưỡng có trong thức ăn công nghiệp và đặc biệt là thức ăn tươi sống cung cấp cho các ruộng nuôi ở giai đoạn tôm tăng trưởng, kết hợp với chất thải của tôm nuôi thải ra trong quá trình ương nuôi là những yếu tố chính làm gia tăng hàm lượng amonium trong các ruộng nuôi. Hàm lượng P-PO43- dao động từ 0,1 – 0,15 mg/L và trung bình là 0,13 mg/L, hàm lượng P-PO43- này không gây ảnh hưởng đến sự phát triển tôm nuôi trong ao. Hàm lượng COD trong các ao dao động từ 10,2 – 31,1 mg/L. Hàm lượng BOD (mg/L) trong mô hình nuôi biến động, bình quân dao động từ 2,8 – 12,6 mg/L. Riêng hàm lượng H2S ở ao nuôi 0,08 – 0,21 mg/L trung bình 0,14 ± 0,05. Theo Boyd (1990), hàm lượng H2S (mg/L) cho phép trong các ruộng nuôi tôm càng xanh phải nhỏ hơn 0,01 mg/L. Tuy nhiên cũng theo Boyd (1990) trong quá trình nuôi, hàm lượng H2S tăng cao và sự tăng cao được xảy ra từ từ, tạo sự thích nghi dần cho tôm nuôi trong ao nhưng cũng chỉ dừng lại ở giới hạn ngưỡng chịu đựng hàm lượng H2S < 0,09 mg/L. Qua Bảng 3.1 cho thấy hàm lượng H2S tăng dần trong quá trình nuôi từ 0,08 mg/L ở tháng nuôi đầu tiên và tăng lên 0,21 mg/L ở giai đoạn gần thu hoạch, nguyên nhân là do sự tích tụ vật chất hữu cơ trong nền đáy ao trong quá trình nuôi và cũng do đáy ao nuôi cá tra đã bị tích tụ lượng lớn mùn bả hữu cơ nhưng trong quá trình cải tạo không phơi khô đáy ao được nên hàm lượng H2S tồn tại trong ao nuôi luôn ở mức cao là ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. 3.2.3 Khảo sát sự tăng trƣởng của tôm nuôi Tăng trưởng của tôm sau 6 tháng nuôi ta thấy rằng từ tháng nuôi thứ 1 đến tháng nuôi thứ 3 tôm phát triển chậm do mật độ ương lúc này cao, và từ tháng thứ 4 tôm phát triển rất nhanh do lúc này đã tiến hành lựa chọn tôm đực chuyển sang ao mới. Tuy nhiên từ tháng nuôi thứ 5 tôm phát triển chậm lại. Khi thu hoạch tôm thì khối lượng trung bình 28,6 ± 18,5 g/con, khối lượng tôm nuôi nhỏ nhất đạt 11 g/con và lớn nhất đạt 81 g/con. Theo Dương Nhựt Long và ctv. (2012) tăng trưởng của tôm nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường nước ở ao nuôi, chất lượng tôm giống, thức ăn và thời vụ… trong đó thức ăn đóng vai trò rất quan trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của tôm nuôi. So với các kết quả nghiên cứu trước đây của Trần Phùng Ân (2012) được thực hiện nuôi trong ao cá tra tại tỉnh An Giang cùng mật độ thả nuôi 30 con/m2 thì khối lượng trung bình sau 6 tháng đạt 40,44 g/con, qua đó cho thấy tăng trưởng tôm nuôi tại Thị xã Ngã Bảy thấp hơn so với cùng mô hình nuôi tại An Giang. Tôm nuôi tại thị xã Ngã Bảy phát triển chậm do các nguyên nhân sau. Sử dụng ao nuôi cá tra có độ sâu gần 4 m để nuôi tôm nên khi cải tạo ao chỉ có hút bùn đáy ao nhưng không phơi khô được 7 đáy ao, do ao sâu và tính chất đất bùn bị rò rỉ nước đồng thời cải tạo vào mùa mưa (tháng 7) nên khi lấy nước vào ao nuôi lượng bùn lắng đọng lại ở đáy ao rất nhiều làm cho hàm lượng khí độc H2S ở đáy ao cao (0,08 – 0,21 mg/L) ảnh hưởng đến hoạt động sống của tôm càng xanh, ngoài ra lượng bùn ở đáy ao nhiều làm giảm khả năng bắt mồi, làm tôm đóng rong và đen mang ảnh hưởng không tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Ngoài ra khi tôm nuôi đến tháng thứ 4 (tháng 11) thì nhiệt độ môi trường nước giảm rất thấp từ 19 – 24 0C là khoảng nhiệt độ không thích hợp cho tôm càng xanh phát triển tốt. Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) tôm nuôi sẽ phát triển tốt trong khoảng giới hạn nhiệt độ dao động từ 25 - 310C. Đây có thể là nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến sự phát triển của tôm. Hình 1. Tăng trƣởng của tôm càng xanh qua 6 tháng nuôi 3.2.5 Tỉ lệ phân cỡ của tôm nuôi Hình 2: Tỷ lệ phân cỡ tôm càng xanh trong ao nuôi thâm canh lúc thu hoạch 8 Ghi chú: Tỷ lệ tôm phân cỡ bán được tính theo cách phân cỡ thu mua tôm của thương lái năm 2014 tại ao tôm. Loại 2: giá bán 280.000 đồng/Kg; Loại 3: giá bán 160.000 đồng/Kg; Tôm trứng, càng xào, đóng rong: giá bán 80.000 đồng/Kg Qua kết quả từ Hình 3 cho thấy có sự phân cỡ tôm nuôi trong ao rất lớn, kích cỡ tôm nhỏ. Thu hoạch không có tôm đạt loại 1, tôm loại 2 cũng chiếm tỷ lệ khá thấp là 23% và tôm loại 3 chiếm 38%, trong khi đó tôm trứng, tôm càng xào, tôm đóng rong lại chiếm tỉ lệ rất cao 39%. So với kết quả nghiên cứu của Trần Phùng Ân (2012) nuôi cùng mật độ 30 con/m2 trong ao nuôi cá tra tại tỉnh An Giang, thì tỷ lệ phân cỡ như sau: tôm loại 2 > 40 g chiếm ở mức cao 82,6 %, tôm loại 3 từ < 40 g chỉ đạt mức là 12,6 % và tôm trứng, càng xào, đóng rong chỉ chiếm 4,8 %. Từ đó cho thấy rằng mô hình nuôi tôm trong ao tại TX Ngã Bảy tôm sinh trưởng và phát triển không tốt. 3.2.6 Tỷ lệ sống và năng suất Bảng 3.4 Năng suất và tỷ lệ sống của tôm càng xanh trong ao nuôi thâm canh Chỉ tiêu Giá trị Sản lượng (Kg/ao) Năng suất (Kg/ha) Tỷ lệ sống (%) 557 1.856 26,7 Qua 6 tháng nuôi năng suất đạt là 1.856 kg/ha với tỷ lệ sống 26,7%. Theo Lam Mỹ Lan (2006) thì nuôi tôm mật độ càng cao tỉ lệ sống có khuynh hướng giảm dần, mật độ nuôi 4 - 6 con/m2 cho tỉ lệ sống 48,6 - 61,5%. Theo Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Quang Minh, Lâm Quyền (2002) thì mô hình nuôi tôm càng xanh trong ao đất mật độ 19 và 27 PL/m2 sau 7 tháng nuôi, tỉ lệ sống cao nhất chỉ đạt 23%. Từ đó cho thấy tỉ lệ sống tôm nuôi của hai mô hình hoàn toàn phù hợp so với những nghiên cứu trước đó ở cùng hệ thống nuôi. Nguyên nhân dẫn đến kết quả không cao là do trong quá trình nuôi một số yếu tố môi trường và điều kiện đáy ao không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi nên năng suất và tỷ lệ sống của tôm thấp hơn so với các mô hình tương tự khác. 3.2.7 Hiệu quả kinh tế Kết quả hạch toán hiệu quả mang lại từ mô hình cho thấy hộ nuôi bị lỗ 3.185.000 đồng/ao, tỷ suất lợi nhuận -3,5%. Nguyên nhân dẫn đến hộ nuôi bị lỗ do sử dụng ao nuôi cá tra trước đây nên độ sâu 4 – 5 m, có độ dốc cao bị sạc lở bờ ao, sên vét bùn đáy không tốt và không phơi khô được đáy ao nên hàm lượng H 2S trong ao luôn ở mức cao. Xuất hiện nhiều cá tạp, cua trong quá trình nuôi cạnh tranh thức ăn và không gian sống của tôm. Bên cạnh đó ba tháng cuối vụ nuôi (tháng 11, 12 năm 2013 và tháng 1 năm 2014) của chu kì nuôi nhiệt độ thấp (19 – 24oC) gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tôm nuôi nên kích thước của tôm nhỏ năng suất thấp giá trị không cao. Ngoài ra một phần do không có ao lắng nên phải bơm nước trực tiếp từ kênh nên tăng chi phí trong quá trình nuôi. So sánh với kết quả của mô hình nuôi thâm canh trong ao tại tỉnh An Giang với cùng mật độ 30 con/m2 và cùng diện tích là 3000 m2 89.360.000 đồng/ao với tỷ suất lợi nhuận đạt 96,46% (Dương Nhựt Long và ctv., 2012), thì tôm càng xanh 9 thâm canh trong ao tại Thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang thấp hơn nhiều so với mô hình nuôi tại tỉnh An Giang. Bảng 3.5 Phân tích hiệu quả của mô hình Nguyên vật liệu Tổng chi Con giống Thức ăn công nghiệp Thức ăn tươi sống Cải tạo ao Vôi Dây thuốc cá Dàn quạt nước Khấu hao (3 năm) Dầu Đăng lưới Lưới cước Thuốc trị bệnh Công chăm sóc Tổng thu Lợi nhuận/ao 3000m2 Tỉ suất lợi nhuận Đơn vị Số lƣợng Đơn giá Con Kg Kg 90.000 715 1.210 250 35 8 Kg Kg Dàn 500 20 1 2.500 40.000 12.000.000 L m m 300 250 200 Tháng 7 21.000 3.000 5.000 2.000.000 Thành tiền (đồng) 90.305.000 22.500.000 25.025.000 9.680.000 2.000.000 1.250.000 800.000 4.000.000 6.300.000 750.000 1.000.000 3.000.000 14.000.000 87.120.000 -3.185.000 -3,5% 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 4.1 Kết luận Kết quả điều tra cho thấy diện tích nuôi tôm càng xanh tỉnh Hậu Giang ngày càng thu hẹp do hiệu quả từ mô hình mang lại hiệu quả chưa cao (56% hộ có lời và 44% hộ bị lỗ), đồng thời người dân chủ yếu nuôi tự phát không có quy hoạch, người dân chưa tiếp cận được nguồn con giống chất lượng, thiếu vốn đầu tư công trình nuôi, tập quán sản xuất cũ, chưa áp dụng tốt quy trình kỹ thuật ương nuôi tôm càng xanh theo khuyến cáo của cơ quan quản lý thủy sản. Sau 6 tháng nuôi khối lượng tôm đạt dao động từ 12 – 81 g/con, tỉ lệ sống 26,7%, năng suất 1.856 kg/ha. Sau khi thu hoạch mô hình nuôi bị lỗ vốn 3.185.000 đồng. Trong quá trình thực nghiệm nuôi do cải tạo ao không tốt và những tháng cuối của chu kì nuôi là giai đoạn tôm phát triển nhanh nhưng thời tiết lạnh gây bất lợi cho hoạt động sinh trưởng của tôm nuôi làm tôm chậm lớn nên mô hình nuôi bị lỗ vốn. 4.2 Đề xuất Cần nghiên cứu nuôi tôm càng trong mùa vụ thích hợp để thuận tiện cho việc cải tạo ao (sên vét bùn, phơi khô đáy ao và không bị sạt lở bờ ao). Cần nghiên cứu nâng cao tỉ lệ sống, năng suất, nhằm góp phần làm tăng năng suất lợi nhuận cho mô hình nuôi tôm càng xanh cho các nông hộ ở địa phương. 10 LỜI CẢM TẠ Trước hết tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ trong thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô hướng dẫn, Ts. Lam Mỹ Lan đã tận tình dìu dắt, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp. Xin cám ơn ThS. Trần Văn Hận cùng các Thầy, Cô, Anh, Chị trong Bộ Môn Kỹ Thuật nuôi thủy sản nước ngọt - Khoa Thuỷ sản trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đề tài. Tôi xin chân thành cám ơn đến các hộ dân ở Thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã tham gia tích cực và tạo điều kiện giúp cho tôi hoàn thành đề tài này. Xin gởi lời cám ơn đến các bạn lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K36 đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập thực hiện đề tài. TÀI LIỆU THAM KHẢO Boyd, 1990. Water quality in pond for aquaculture. Agriculture Experiment Station, Auburn University. Dương Nhựt Long., 2012. Dự án thực nghiệm xây dựng mô hình nuôi tôm càng xanh thương phẩm trong ao đất ở tỉnh An Giang, Sở Khoa học – Công nghệ tỉnh An Giang. Dương Nhựt Long và Lam Mỹ Lan, 2003. Giáo trình Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt. Khoa thủy sản – Đại học Cần Thơ. Dương Nhựt Long, 2004. Giáo trình Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt. Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ, 200 trang. Lam Mỹ Lan, 2006. Freshwater prawn – rice culture: the development of a sustainable system in the Mekong delta, VietNam. PhD thesis. 159p. Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004. Giáo trình Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi giáp xác. Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ. 162 trang. Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Quang Minh, Lâm Quyền., 2002. Một số kết quả bước đầu mô hình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thâm canh quy mô hộ gia đình ở ĐBSCL. Tuyển tập nghề cá sông Cửu Long. Viện nghiên cứu thủy sản II. Trần Thanh Hải, 2004. Xây dựng mô hình nuôi tôm luân canh trong ruộng lúa tại huyện Ô - Môn, Tp Cần Thơ. Báo cáo đề tài Sở Khoa học Cần Thơ. 54 pp. Trần Thanh Hải, 2007. Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và năng suất của tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) Nuôi luân canh trên ruộng lúa tại TP Cần Thơ. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Nuôi trồng thuỷ sản, Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Cần Thơ. Trần Phùng Ân, 2012. Thực nghiệm nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) thâm canh trong ao đất ở thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang. Luận văn tốt nghiệp đại học. Khoa Thủy Sản – Trường Đại học Cần Thơ 11
- Xem thêm -