Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi lươn (monopterus albus zuiew, 1793) ở huyện long mỹ, tỉnh hậu giang

  • Số trang: 12 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 27 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN NGUYỄN MINH KHA KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI LƯƠN (Monopterus albus Zuiew, 1793) Ở HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN 2014 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THUỶ SẢN NGUYỄN MINH KHA KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI LƯƠN (Monopterus albus Zuiew, 1793) Ở HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ts. BÙI MINH TÂM Ths. NGUYỄN THANH HIỆU 2014 KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM NUÔI LƯƠN (Monopterus albus Zuiew, 1793) Ở HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG Nguyễn Minh Kha, Bùi Minh Tâm và Nguyễn Thanh Hiệu Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ. ABSTRACT Swamp eel (Monopterus albus) is one of the aquatic species that is high economic value. Swamp ell culture has been developed with small area and using live foods. The objectives of this study are invertigating the states of eel culture and conducting a trial on adopting commercial pellet of swamp eel. From these results, which are evaluating eel model and expanding area in the MeKong delta Hau Giang, An Giang, Can Tho. The sudy was carried out through a survey of 30 farmer households who have the eel culture in the Long My district, Hau Giang province. The results showed that 100% of households used fresh food (freshwater trash fish, yellow snails) of which there is about 27.3 % of one using pellet commercial combined with fresh foods to feed the eel. Major source of fresh food are exploited from fields, canals. The feed cost accounted 44.96 to 54.98% of total investment. The trial feeding pellet combined with live food for feed 5 months and totally pellet for next 6 months. After 6 months, the eel had slowly growth and average weight was of 59.06 to 99.06 g/individual. Average survival rate was of between 68 – 80%, the highest was in B households in the lowest was in A household. The production from A households was 30 kg/tank and from B household was 47 kg/tank. Profit from B households was highest 1.302 million/tank/crop with profitable rate of 38.3%. TÓM TẮT Lươn đồng (Monopterus albus) là loài hải đặc sản có giá trị kinh tế cao. Nghề nuôi lươn đồng đang ở giai đoạn phát triển nhưng chủ yếu nuôi với diện tích nhỏ và sử dụng thức ăn tươi là chính. Đề tài nhằm tìm hiểu hiện trạng nghề nuôi và thử nghiệm nuôi trong bể bạt bằng thức ăn viên công nghiệp. Qua đó đánh giá mô hình và nhân rộng diện tích cũng như quy mô ở một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như Hậu Giang, An Giang,Cần Thơ. Đề tài được thực hiện qua cuộc điều tra khảo sát 30 hộ dân nuôi lươn đồng ở địa bàn huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Kết quả điều tra cho thấy 100% hộ nuôi lươn sử dụng thức ăn tươi (cá tạp nước ngọt, ốc bươu vàng)trong đó có khoảng 27,3% sử dụng thức ăn viên kết hợp với thức ăn tươi để nuôi lươn. Nguồn thức ăn tươi chủ yếu do các hộ nuôi tự khai thác, đánh bắt từ ruộng, kênh, chi phí cho thức ăn chiếm 44,96 – 54,98% tổng mức đầu tư. Thực nghiệm nuôi lươn được bố trí ở hai hộ dân gồm hộ A cho ăn thức ăn viên hoàn toàn và hộ B cho ăn thức ăn kết hợp 5 tháng đầu và tháng thứ 6 cho ăn hoàn toàn bằng thức 1 ăn viên. Sau 6 tháng nuôi, lươn cótốc độ tăng trưởng chậm, khối lượng lươn trung bình đạt 59,06 – 94,06 g/con. Tỉ lệ sống trung bình của lươn đạt từ 68 -80%, cao nhất ở hộ B và thấp nhất ở hộ A. Năng suất hộ A đạt 30 kg/bể và hộ B đạt 47 kg/bể. Lợi nhuận từ hộ B là cao nhất đạt 1,302 triệu đồng/bể/vụ với tỉ suất lợi nhuận là 38,3%. Từ khóa: lươn đồng, kỹ thuật nuôi lươn đồng 1. GIỚI THIỆU Hiện nay, ở Việt Nam ngành thủy sản có xu hướng phát triển ngày càng mạnh.Nhiều đối tượng thủy sản quan trọng như tôm sú, cua biển, cá tra, cá thát lát, cá lóc, lươn đồng đã được nuôi. Trong đó, lươn đồng được nuôi ở một số tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long và Tây Ninh (Phan Thị Thanh Vân, 2006). Lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793), phân bố chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt như ao, kênh, các dòng sông lớn, trên ruộng lúa hay đầm lầy (Ngô Trọng Lư, 2002). Lươn có tập tính ăn động vật như tôm, tép, cua, cá tạp, sống chui rút trong bùn. Lươn là loài thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao, thịt lươn ngon và bổ, được nhiều người ưa thích là đối tượng có thể xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế. Lươn sống và đẻ trứng trong hang, chịu được hàm lượng oxy thấp, giàu chất hữu cơ nhờ có cơ quan hô hấp phụ là da. Ở ĐBSCL, lươn đồng được nuôi với nhiều mô hình khác nhau như nuôi trong ao đất, ruộng lúa, bể xi măng, ngày nay các mô hình được cải tiến hơn như nuôi lươn không bùn trong bể lót bạt hoặc bể xi măng giá thể chủ yếu là dây nylon, vỉ tre. Trong nuôi lươn thương phẩm hiện nay thì nguồn thức ăn tươi sống là chủ yếu nên chất lượng thức ăn không ổn định, giá thành cao phải lệ thuộc vào nguồn cung cấp. Vì thế để phát triển các mô hình nuôi lươn hiệu quả giảm chi phí sản xuất, không lệ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên, không ô nhiễm nguồn nước cũng như giảm rủi ro trong quá trình nuôi nên việc thử nghiệm nuôi lươn bằng thức ăn công nghiệp là vấn đề cần thiết nhằm chủ động nguồn thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế và kỹ thuật nghề nuôi lươn. Chính vì lí do trên nên đề tài “ Khảo sát hiện trạng và thực nghiệm nuôi lươn (Monopterus albus Zuiew, 1793) ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài nhằm cung cấp một số thông tin kỹ thuật và đánh giá hiệu quả mô hình nuôi lươn bằng thức ăn công nghiệp làm cơ sở cho việc phát triển mở rộng mô hình này ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nói riêng và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thực nghiệm được bố trí trong bể lót bạt tại 2 hộ dân ở xã Long Bình, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (mỗi hộ một bể, hộ A nuôi bể bạt giá thể nylon, hộ B nuôi bể bạt để đất) có diện tích là 15 m2, cao 1 m khung sườn của bể làm bằng tre hoặc gỗ tạp và được cố định chắc chắn, sử dụng mê bồ bao xung quanh bên trong khung sườn, có hệ thống thoát nước để thuận tiện cho việc thay nước. Cấp nước gần đầy bể sau đó ngâm 5–7 ngày (nếu bạt mới) nhằm tránh 2 ảnh hưởng đến sức khỏe lươn nuôi trước khi đặt giá thể là dây nylon hoặc đất vào bể nuôi. Địa điểm đặt bể nuôi lươn phải thoáng, ít cây cối che xung quanh, đáy bể phải được sang phẳng có độ dốc nghiêng về hướng thoát nước. Lươn giống bố trí nuôi chủ yếu được bắt từ tự nhiên nên chọn lươn đồng cỡ, màu sắc tươi sáng, phản ứng nhanh với tiếng động, không bị tổn thương, mất nhớt.Mật độ thả 50 con/m2, cỡ giống 25-30 con/kg.Thời gian nuôi thí nghiệm là 6 tháng. Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn viên công nghiệp Afiex 40% đạm, cá tạp, ốc. Trong quá trình thí nghiệm lươn được cho ăn 1 lần/ngày (16-18 giờ chiều), khẩu phần ăn 5-7% trọng lượng thân sau khi cho ăn 2-3 giờ kiểm tra sàn ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Đồng thời định kì thu mẫu mỗi tháng một lần các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống, môi trường (nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, NH4+,NH3, PO43-). Khảo sát 22 hộ dân theo bảng điều tra có sẵn, trong đó có 11 hộ nuôi bể lót bạt giá thể là dây nylon, 11 hộ nuôi bể lót bạt có đất để so sánh hiệu quả của hai mô hình. Đánh giá hiệu quả mô hình nuôi Tổng chi phí = chi phí cải tạo + giống + thức ăn + thuốc/hóa chất + chi phí khác Thu nhập = giá lươn x khối lượng lươn thu hoạch Tổng lợi nhuận = tổng thu nhập – tổng chi phí Tỷ suất lợi nhuận (%) = (lợi nhuận x 100)/tổng chi phí Các chỉ tiêu tính toán tăng trọng Tăng trọng (Weigh Gain): WG = Wc – Wđ Tăng trưởng tuyệt đối khối lượng (g/ngày) (Daily weight gain-DWG): DWG = (Wc – Wđ)/∆t Tỉ lệ sống (%) S – survival rate: S =100 x (số lươn thu/số lươn thả) Wc: khối lượng cuối (g) Wđ: khối lượng đầu (g) t: thời gian thí nghiệm (ngày) Số liệu thu thập dùng phần mềm Excel 2010 để tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. 3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả khảo sát tình hình nuôi lươn ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang 3.1.1 Độ tuổi và kinh nghiêm nuôi của các hộ dân được khảo sát 3 Bảng 1Bảng thống kê độ tuổi và kinh nghiệm nuôi Mô hình Bể bạt + đất Bể bạt + nylon (n = 22) Tuổi (năm) Cao nhất Thấp nhất Kinh nghiệm (năm) Cao nhất Thấp nhất 46,45±7,92 62 36 3,64±2,58 12 1 42,36±8,02 50 31 4,27±3,38 10 1 Theo bảng thống kê qua thời gian điều tra cho thấy đa số các hộ nuôi có số tuổi trung bình đều nằm trong độ tuổi lao động từ 42,36 – 46,45 tuổi, thấp nhất là 31 tuổi ở các hộ nuôi bể bạt giá thể nylon và cao nhất là 62 tuổi ở các hộ nuôi bể bạt giá thể là đất. Kinh nghiệm lâu năm nhất là 12 năm ở hộ nuôi bể bạt giá thể đất, thấp nhất là những hộ mới bắt đầu nuôi với kinh nghiệm 1 năm ở cả hai hình thức nuôi trên. Kinh nghiệm ở các hộ nuôi bể bạt giá thể đất là 3,64 năm thấp hơn so với hộ nuôi bể bạt giá thể nylon là 4,27 năm, không có sự khác biệt lớn so với kết quả khảo sát 3,64 năm ở bể bạt có đất và 4,29 năm ở bể bạt giá thể nylon của (Nguyễn Tường Duy, 2010). 3.1.2 Nguồn thông tin kỹ thuật người nuôi lươn tiếp nhận Bảng 2: Nguồn thông tin phục vụ nuôi lươn (n = 22) Nguồn kiến thức Bể bạt + đất (%) Bể bạt + nylon (%) Tự có 54,5 36,4 Tập huấn + hội thảo 9,1 36,4 Báo đài 0 0 Bạn bè 36,4 27,2 Tổng cộng 100 100 Từ bảng 2 cho thấy nguồn thông tin mà các hộ dân tiếp nhận còn hạn chế chủ yếu là do kinh nghiệm bản thân qua quá trình nuôi lâu dài, cao nhất là ở các hộ nuôi bể bạt giá thể bằng đất chiếm 54,5%, thấp nhất vẫn chiếm 36,4% cao hơn so với tỉ lệ tiếp cận các nguồn thông tin khác. Thời gian gần đây, họ mới được tham gia các cuộc hội thảo, tập huấn, chuyển giao kỹ thuật của phòng Kinh Tế huyện Long Mỹ kết hợp với Công ty Ánh Dương để nhân rộng mô hình nuôi và thử nghiệm sản xuất giống nhằm phát triển quy mô cũng như diện tích nuôi ở địa bàn huyện. Nhìn chung, các hộ nuôi ngày càng tiếp cận được với khoa học kỹ thuật và am hiểu sâu về đối tượng nuôi, hình thức nuôi ngày càng tiến bộ thì kiến thức của người nuôi càng được nâng cao, với hình thức nuôi bằng bể bạt giá thể là nylon có tỉ lệ được tập huấn chiếm 36,4% cao hơn so với mô hình còn lại chỉ đạt 9,1%. So với kết quả của (Nguyễn Tường Duy, 4 2010) cho thấy có sự khác biệt khá lớn, mô hình nuôi bể bạt có đất chủ yếu thông qua kinh nghiệm (80%), số hộ tham gia tập huấn kỹ thuật chiếm rất ít (10%). Bên cạnh đó thì nguồn thông tin từ báo đài vẫn chưa được người dân ở địa bàn tiếp nhận. 3.1.3. Diện tích nuôi và thời gian nuôi lươn Bảng 3. Bảng theo dõi diện tích và thời gian nuôi (n = 22) Mô hình Cao nhất Thấp nhất Bể bạt + nylon Cao nhất Thấp nhất Diện tích (m2/hộ) 26,09±20,12 78 8 23,36±15,21 54 8 Thời gian nuôi (tháng/vụ) 5,91±1,30 8 4 6,7±1,90 12 6 Qua cuộc khảo sát cho thấy diện tích nuôi vẫn còn nhỏ lẻ và không tập trung, diện tích ở các hộ nuôi bể bạt giá thể bằng đất trung bình 26,09 m2 cao hơn so với các hộ nuôi bể bạt giá thể nylon là 23,36 m2. Diện tích nuôi nhỏ nhất ở hai mô hình nuôi là 8 m2 và lớn nhất ở mô hình nuôi bể bạt giá thể đất là 78 m2, ở mô hình bể bạt giá thể nylon có diện tích lớn nhất 54 m2. Từ kết quả trên cho thấy mô hình nuôi lươn đồng thâm canh có diện tích bình quân không lớn do có kỹ thuật chưa cao và chất lượng con giống kém, khan hiếm, nguồn thức ăn tươi sống khó tìm. Kết quả điều tra cho thấy thời gian nuôi ngắn nhất là mô hình nuôi bể bạt có đất 5,91±1,30 tháng/vụ và dài nhất là hộ nuôi bể bạt giá thể nylon 6,73±1,90 tháng/vụ cũng không có sự khác biệt so với kết quả của (Nguyễn Tường Duy, 2010). Từ đó cho thấy mô hình nuôi bể bạt có đất thời gian nuôi ngắn, thu hoạch sớm do chỉ sử dụng thức ăn tươi sống không chủ động được thức ăn khi khan hiếm và không quản lí được dịch bệnh. 3.1.4. Thông tin về thức ăn nuôi lươn Bảng 4. Các loại thức ăn sử dụng trong mô hình nuôi lươn (n = 22) Mô hình Bể bạt + đất Bể bạt + nylon Tươi sống (%) Kết hợp (%) 81,80 63,60 18,20 36,40 Theo kết từ bảng trên cho thấy đa số các hộ dân đều sử dụng thức ăn tươi sống làm thức ăn cho lươn cao nhất ở các mô hình nuôi bể bạt có đất chiếm 81,8% và ở bể bạt giá thể nylon là 63,6%. Trong đó, ốc bươu vàng là thức ăn chủ yếu do nguồn cá tạp ngày càng khan hiếm nên một số hộ dân đã sử dụng thức ăn viên kết hợp với ốc bươu vàng để hạn chế được nguồn cá tạp, ngoài ra ốc bươu vàng rẻ tiền dể kiếm, tận dụng nguồn thủy sản gây hại làm thức ăn cho lươn. Các hộ nuôi bể bạt giá thể nylon sử dụng thức ăn kết hợp ngày càng nhiều chiếm 36,4% và thấp nhất là 18,2% ở các hộ nuôi bể bạt có đất, các loại thức ăn viên để kết 5 hợp chủ yếu là thức ăn cho cá da trơn như Cargill, De Heus, Con cò. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có hộ dân nào sử dụng hoàn toàn thức ăn viên để nuôi lươn thâm canh. 3.1.5 Mật độ nuôi, kích cở giống và tỉ lệ sống Bảng 5 các chỉ khảo sát về mật độ, kích cỡ, tỉ lệ sống (n = 22) Các chỉ tiêu Bể bạt + đất Bể bạt + nylon Mật độ(con/m2) 56±28,04 Kích cỡ (g/con) 44,58±11,52 77±48,04 35,42±10,36 Tỉ lệ sống (%) 54±9,09 66±10,2 Mật độ nuôi của mô hình nuôi bể bạt có đất 56±28,04 (con/m2)thấp hơn mô hình nuôi bể bạt giá thể nylon là 77±48,04 (con/m2), nhưng kích cỡ lươn nuôi của hai mô hình thì ngược lại mô hình bể bạt giá thể đất có trọng lượng trung bình cao hơn bể bạt giá thể nylon cụ thể là 44,58±11,52 - 35,42±10,36 (g/con). Tỉ lệ sống mô hình bể bạt có đất thấp hơn bể bạt giá thể nylon cụ thể là 54±9,09 - 66±10,2%. 3.1.6 Năng suất nuôi Bảng 6 Năng suất lươn nuôi ở các mô hình (n = 22) Năng suất (kg/m2) Bể bạt + đất Bể bạt + nylon 5,64±1,62 7,26±3,48 Cao nhất 10 12,8 Thấp nhất 4,63 6,11 Trung bình Năng suất trung bình của hai mô hình nuôi dao động từ 5,64 – 7,26 kg/m2, mô hình nuôi bể bạt giá thể nylon đạt 7,26±3,48 kg/m2 cao hơn mô hình nuôi bể bạt có đất chỉ đạt 5,64±1,62 kg/m2. Giữa hai mô hình nuôi thì mô hình nuôi bể bạt giá thể nyloncó hiệu quả kinh tế hơn và năng suất cao hơn so với mô hình còn lại do thời gian nuôi kéo dài và sử dụng thức ăn kết hợp nên tốc độ tăng trưởng cũng cao hơn. Mật độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất mô hình, mật độ mô hình nuôi bể bạt giá thể nylon cao hơn đồng nghĩa với việc năng suất cũng cao nhất đạt 12,8 kg/m2. 3.1.7 Hiệu quả của mô hình Để làm giảm chi phí nuôi nên sử dụng cá nhỏ hoặc cá rẻ tiền, đồng thời thu gom ốc bươu vàng từ ruộng lúa cho lươn ăn (Lý Văn Khánh và ctv, 2008), tận dụng được thời gian nông nhàn không cần tốntiền mua thức ăn. Ngoài ra, thức ăn tươi còn là nguồn thức ăn giàu đạm, có mùi hấp dẫn kích thích lươn bắt mồi giúp lươn ăn nhiều tăng trọng nhanh, sử dụng thức ăn là ốc bươu vàng còn tiệu diệt địch hại cho cây lúa. Tuy nhiên, việc sử dụng ốc làm thức ăn sẽ dễ bị ô nhiễm nước, mầm bệnh dễ phát sinh và lây lan khi thức ăn dư thừa. Thức ăn công nghiệp bước đầu được một số hộ dân sử dụng để kết hợp với ốc làm thức ăn cho lươn cho tốc độ tăng trưởng nhanh hiệu quả kinh tế cao và chưa có hộ nào trong hai mô hình trên sử dụng thức ăn công nghiệp hoàn toàn để nuôi lươn vì 6 kỹ thuật nuôi của nông dân còn hạn chế, chi phí thức ăn viên cao hơn thức ăn tươi và khó chuyển mồi khi lươn có tập tính ăn mồi sống. Diện tích và quy mô nhỏ lẽ có dấu hiệu thu hẹp dần phù hợp kết quả điều tra của (Nguyễn Tường Duy, 2010), nhưng nguyên nhân không phải do thức ăn tươi bị khan hiếm mà do nguồn giống ngày càng khan hiếm và khó thuần dưỡng trong giai đoạn 20 ngày đầu khi thu mua. Ngoài ra, nguồn giống cũng chỉ được thu gôm từ tự nhiên, chưa có hộ dân nào sử dụng con giống nhân tạo để nuôi, điều này đồi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu sản xuất thành công giống nhân tạo với quy mô lớn cung ứng cho các hộ nuôi để chủ động được con giống, mở rộng quy mô vì đây là đối tượng có tiềm năng phát triển kinh tế bền vững. 3.2Thực nghiệm nuôi lươn bằng thức ăn viên công nghiệp 3.2.1 Yếu tố môi trường Trong thời gian thí nghiệm nhiệt độ trung bình của hộ A là 28,33oC và hộ Blà 29,17oC không có sự khác biệt lớn. Nhiệt độ thích hợp cho cá tăng trưởng là 25 - 30oC (Trương Quốc Phú, 2006). Hộ B có nhiệt độ cao hơn do bố trí nơi thông thoáng có nhiều ánh sáng nên nhiệt độ luôn cao hơn hộ A nhưng không khác biệt lớn. Bảng 7: Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nhiệm NH3 + Hộ Nhiệt độ pH Oxy NH4 (Ước PO43lượng) Hộ A 28,33±1,63 7,22±0,25 4,3±0,41 3±2,19 0,04±0,04 0,50±0,00 Hộ B 29,17±1,33 7,13±0,22 4,1±0,38 5,17±2,86 0,08±0,05 1,00±0,00 Trong đó pH ở hai hộ dao động trong khoảng 7,13– 7,22, hàm lượng oxy hòa tan không có sự thay đổi lớn ở mức 4,1 – 4,3 mg/L. pH thích hợp cho hầu hết các loài cá nuôi là 6,5 – 9 và hàm lượng oxy hòa tan lý tưởng cho cá tôm cá là trên 5 mg/L (Trương Quốc Phú, 2006). Ngoài ra, hàm lượng NH3, PO43- rất thấp cụ thể NH3 chiếm 0,04– 0,08 mg/L (ước lượng) và PO43- chỉ có 0,05 – 1,00 mg/L không làm biến động môi trường bể nuôi. Nhìn chung, các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm biến động không lớn và tương đối thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của lươn đồng. 3.2.2 Tỉ lệ sống của lươn qua 6 tháng nuôi thực nghiệm Bảng 8 Tỉ lệ sống của lươn Tỉ lệ sống(%) Hộ A Hộ B Tháng2 Tháng3 Tháng4 Tháng5 Tháng6 89,5 90 81,5 85,5 72 81 70 80 68 80 Qua kết quả nuôi thực nghiệm, cho thấy tỉ lệ sống của hộ nuôi bể bạt có đất cao hơn hộ nuôi bể bạt giá thể nylon cụ thể hộ B đạt tỉ lệ 80% còn hộ A thấp hơn sau 6 tháng nuôi chỉ có 7 68%. Giai đoạn đầu sau khi thả giống tỉ lệ hao hụt ở hộ B cũng thấp hơn hộ A và dần về sau những tháng cuối của vụ nuôi thì tỉ lệ sống của hộ B cũng cao và ổn định hơn so với hộ A. Nguyên nhân hao hụt cao của hộ A chủ yếu do nguồn giống không đạt chất lượng, con giống mua từ các hộ dân đánh bắt bằng mồi thuốc vào mùa nước và trữ lại qua thời gian dài. Chính vì vậy, con giống bị xây xát dễ nhiễm bệnh dẫn tới tỉ lệ hao hụt cao, riêng hộ B do nguồn giống tự thu gôm nên hạn chế được mằm bệnh cho tỉ lệ sống cao. Ngoài ra, việc sử dụng thức ăn kết hợp giai đoạn đầu của hộ B cũng giúp lươn thích nghi dần với thức ăn viên từ đó tỉ lệ sống của lươn cũng được cải thiện phù hợp với nghiên cứu của Lê Ngọc Diện, 2004 trong ương nuôi cá thát lát (Notopterus notopterus) và nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy, 2008 trong ương cá còm (Chilata chilata) giai đoạn bột lên giống là cần thời gian tập ăn để cá quen và chuyển đổi thức ăn. 3.2.3 Tăng trưởng về trọng lượng qua 6 tháng nuôi Bảng 9 Trọng lượng trung bình qua các tháng nuôi (đơn vị tính: gram) Thời gian Hộ A Hộ B Tháng 1 33,13 (10-60) 39,69 (15-70) Tháng 2 39,69 (15-70) 49,38 (20-90) Tháng 3 44,38 (20-90) 60,31 (20-120) Tháng 4 50,94 (25-110) 74,38 (25-170) Tháng 5 55,31 (30-120) 88,44 (30-200) Tháng 6 59,06 (30-140) 94,06 (40-220) Qua sáu tháng nuôi cho kết quả là mô hình nuôi bể bạt có đất có trọng lượng 94,06 g tăng cao hơn so với mô hình bể bạt có giá thể nylon 59,06 g, nguyên nhân do tỉ lệ sống hộ B cao hơn hộ A và điều kiện môi trường tốt hơn, không bị bệnh. Tốc độ tăng trưởng của lươn ở hộ A chậm sau 6 tháng nuôi dao động từ 33,13- 59,06 g, do con giống chất lượng kém kèm theo bệnh vào tháng thứ 4, tỉ lệ phân đàn cao. Ngoài ra, thời gian đầu cho ăn thức ăn công nghiệp sớm hơn hộ B và không có tập cho ăn thức ăn kết hợp nên lươn chậm thích nghi làm lươn tăng trưởng kém đến khi lươn thật sự hoàn toàn chấp nhận được thức ăn viên công nghiệp thì thu hoạch. Riêng hộ B giai đoạn đầu cho ăn thức ăn tươi (ốc, cá tạp), sau tháng thứ 3 mới tập cho lươn ăn thức ăn công nghiệp bằng cách kết hợp (thức ăn tươi + thức ăn viên), đến tháng thứ 6 mới chuyển hoàn toàn sang thức ăn công nghiệp. Chính vì vậy, tốc độ tăng trưởng cao vào tháng thứ 3, thứ 4 và tháng thứ 5 đến tháng thứ 6 tốc độ có tăng nhưng chậm, vì thức ăn công nghiệp có mùi vị không hấp dẫn bằng thức ăn tươi (Lê Ngọc Diện, 2004), cụ thể tháng thứ 5 trọng lượng lươn đạt 88,44 g và đến tháng cuối trọng lượng lươn đạt 94,06 g. Bảng 10 Tăng trưởng tuyệt đối về trọng lượng Tăng trọng Hộ A Hộ B WG (g) 5,19±1,3 10,88±3,51 8 DWG (g/ngày) 0,17±0,04 0,36±0,12 Kết quả trên cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng về trọng lượng cũng có sự khác biệt rõ rệt, hộ nuôi bể bạt có đất cho ăn thức ăn tươi và có sự kết hợp (thức ăn tươi + thức ăn viên) trong 5 tháng đầu tăng trưởng cao gấp đôi đạt 10,88±3,51, trong khi mô hình mô hình còn lại chỉ đạt 5,19±1,3. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của mô hình hộ A áp dụng thấp hơn so với mô hình hộ B cụ thể (0,17±0,04 - 0,36±0,12). Từ đó cho thấy tầm quang trọng của thức ăn sử dụng, thức ăn tươi cho tăng trưởng tốt hơn do đây là thức ăn phù hợp với đặt tính của loài phù hợp với nghiên cứu của (Nguyễn Tường Duy, 2010). Việc tập cho lươn quen dần với thức ăn viên bằng cách kết hợp cho kết quả tốt nhất về tỉ lệ sống cũng như tốc độ tăng trưởng, còn riêng thực nghiệm cho ăn thức ăn viên ngay từ ban đầu có tốc độ tăng trưởng chặm, tỉ lệ hao hụt cao. 3.2.4. Chi phí và lợi nhuận của mô hình Bảng 11. Chi phí sản xuất và lợi nhuận của hai mô hình (đơn vị tính: 1.000 đồng) Khoảng mục chi phí Hộ A Hộ B Con giống (50.000 đ/kg) Thức ăn tươi (10.000 đ/kg) Thức ăn viên (15.000 đ/kg) Chi phí khác (1.000 đồng) Tổng chi phí (1.000 đồng) Thu nhập (1.000 đồng) Lợi nhuận (1.000 đồng) Chi phí cho 1 kg lươn (1.000 đồng) Tỉ suất lợi nhuận (%) 1.250 650 525 174 2.599 3.000 401 87 15,4 1.250 1.500 375 273 3.398 4.700 1.303 72 38,3 Từ bảng chi phí trên cho thấy chi phí sản xuất 1 kg lươn dao động từ 72.000 đến 87.000 đồng/kg, tỉ suất lợi nhuận chiếm 15,4% thấp hơn so với hộ B chiếm 38,3% chính vì vậy lợi nhuận thấp hơn hộ B sau 6 tháng nuôi. Để thật sự nuôi lươn cho hiệu quả tốt nhất cần tập cho lươn quen dần với thức ăn viên bằng cách kết hợp hai loại thức ăn với nhau và cho ăn vào giai đoạn đầu để giảm tỉ lệ hao hụt, ngoài ra còn chủ động nguồn thức ăn và kiểm soát được dịch bệnh qua mô hình nuôi bể bạt giá thể nylon. 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 4.1. Kết luận Các hộ nuôi sử dụng thức ăn tươi (ốc bươu vàng, cá tạp) là chủ yếu chỉ một số hộ sử dụng thức ăn viên kết hợp với thức ăn tươi trong vụ nuôi và chi phí cho thức ăn chiếm phần lớn tổng mức độ đầu tư cho mô hình. Cho lươn ăn thức ăn kết hợp rồi chuyển dần sang thức ăn công nghiệp cho tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn viên ngay lúc đầu mà không có thời gian tập quên dần với thức ăn. 9 4.2. Đề xuất Nên cho lươn ăn thức ăn kết hợp để tập cho lươn quen dần với thức ăn viên đến khi lươn ăn được hoàn toàn bằng thức ăn viên để giảm tỉ lệ hao hụt và tăng trưởng tốt. TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Ngọc Diện, 2004. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và hàm lượng protein trong thức ăn viên vên tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá thát lát (Notopterus notopterus Pallas) giai đoạn ương giống và nuôi thương phẩm. Luận văn tốt nghiệp Cao học Nuôi trồng Thủy sản.Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ. Nguyễn Tường Duy, 2010.Thử nghiệm nuôi lươn đồng (Monopterus albus) bằng thức ăn viên.Luận văn Cao học ngành Nuôi Trồng Thủy Sản. Đại Học Cần Thơ. Ngô Trong Lư, 2002.Kỹ thuật nuôi cá quả, cá chình, chạch, cá bống bớp, lươn.NXB Hà Nội. Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2004.Kỹ thuật nuôi cá trê, lươn, giun đất-NXB Nông Nghiệp. Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy, 2008. Khả năng sử dụng thức ăn chế biến của cá còm (Chilata chilata) giai đoạn bột lên giống. Tạp chí Khoa học 2008, 1:134-140. Trường Đại học Cần Thơ. Lý Văn Khánh, Phan Thị Thanh Vân, Nguyễn Hương Thùy và Đỗ Thị Thanh Hương, 2007. Nghiên cứu đặc điểm sinh họcdinh dưỡng và sinh sản của lươn đồng (Monopterus albus). Tạp chí Khoa học 2008.Trường Đại học Cần Thơ. Phan Thị Thanh Vân, 2006. Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh sản của lươn đồng (Monopterus albus). Luận văn Cao học ngành Nuôi Trồng Thủy Sản. Đại Học Cần Thơ. Trương Quốc Phú, 2008. Giáo trình Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản.Khoa thủy sản.Trường Đại học Cần Thơ. 10
- Xem thêm -