Khảo sát hiện trạng và hiệu quả khai thác của nghề lưới cào gần bờ ở kiên hải - kiên giang

  • Số trang: 41 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THÀNH ðƯỢC KHỎA SÁT HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC CỦA NGHỀ LƯỚI CÀO GẦN BỜ Ở KIÊN HẢI – KIÊN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ðẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ 2009 LỜI CẢM TẠ Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường ñại học Cần Thơ ñã tận tình truyền dạy kiến thức cho tôi. ðặc biệt các thầy cô khoa Thủy sản, thầy Nguyễn Văn Thường cố vấn học tập lớp Quản lý nghề các K31 ñã hết lòng truyền ñạt kiến thức và những kinh nghiệm thực tế cho tôi làm hành trang bước vào ñời. Tôi xin chân thành biết ơn các thầy cô và các anh chị thuộc bộ môn Quản lý và kinh tế thủy sản ñã tạo ñiều kiện, ñộng viên tinh thần và hỗ trợ cho tôi trong suốt quả trình thực hiện luận văn Xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến thầy Nguyễn Văn Duyệt ñã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi, ñốc thúc tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn học cùng tôi tại lớp Quản lý nghề cá ñã ñộng viên tinh thần và giúp ñở tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn Sinh viên thực hiện Nguyễn Thành ðược Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Giới thiệu Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới và được thiên nhiên ưu đãi với bờ biển dài 3.260 km, đường bờ biển của Việt Nam kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) đi qua hơn 13 vĩ độ từ 8o23’ đến 21o39’ vĩ độ Bắc, với nhiều vùng sinh thái khác (Viện nghiên cứu Hải Phòng, 2004). Bờ biển dài 3260 km, vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng 1 triệu km2 với hơn 4000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160km2 được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền. Nguồn lợi hải sản Việt Nam rất đa dạng về thành phần loài; hệ cá biển có khoảng 2100 loài (trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế); hệ giáp xác biển có 1647 loài; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, bên cạnh đó còn có rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư, đồi mồi, ngọc trai, v.v… Tuy nguồn lợi hải sản Việt Nam đa loài nhưng phân bổ theo mùa vụ rõ ràng, sống phân tán. (Nguyễn Thị Thu Hương, 2008). Do có sự đa dạng về sản lượng và giống loài nên đã làm cho lãnh hải Việt Nam trở thành địa điểm khai thác chính và chủ yếu của các nghề: cào (lưới kéo), lưới rê, lưới vây, câu mực, câu mồi, v.v... (www.fistenet.gov.vn/), với những điều kiện tự nhiên và nguồn lợi thủy sản phong phú đã làm cho nghề cá ở Việt Nam phát triển nhanh chóng. Kiên Giang là một tỉnh ven biển nằm ở cực Tây Nam của Việt Nam, là tỉnh đồng bằng nhưng có rừng, núi, hải đảo, biển cả. Có tổng diện tích tự nhiên là 6.346,1 km2, bờ biển dài 200 km, vùng biển rộng 63.290 km2 với hai huyện đảo và 140 hòn đảo lớn nhỏ. Do có vị thế giáp biển, trông ra vịnh Thái Lan, là tỉnh rất giàu tiềm năng về thủy sản, khoáng sản, lâm sản và du lịch… Kinh tế thủy sản được coi là một trong những thế mạnh của tỉnh, với tiềm năng phong phú, đa dạng và được đánh giá là vùng biển có tiềm năng hải sản lớn nhất cả nước. Trữ lượng tôm cá ở đây khoảng 464.660 tấn trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn (Tổng quan về Kiên Giang , 2008). Tuy nhiên bên cạnh mặt thuận lợi trên thì cần phải nói đến những khó khăn trong tỉnh Kiên Giang nói riêng và cả nước nói chung, đó là nguồn lợi thuỷ 1 sản ngày một suy giảm do sự khai thác mang tính chất huỷ diệt nền đáy và làm cho cạn kiệt nguồn lợi bởi các nghề khai thác truyền thống như lưới cào, te xiệp, đánh bắt kết hợp ánh sáng v.v… trong đó nghề lưới cào gần bờ gây tác động đến nguồn lợi nhiều nhất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, với những tấm lưới có mắt lưới dày, lưới cào có thể gom sạch tất cả những loài hải sản lớn nhỏ trong vùng khai thác. Trong những năm gần đây tình hình khai thác ở Kiên Giang vùng vốn nổi tiếng với trữ lượng nguồn thủy sản được xếp vào loại bậc nhất cả nước đang trong tình trạng báo động về nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi vì hiện nay đang bị nạn cào bay, xiệp điện hoành hành. Theo con số thống kê của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, năm 2005 tỉnh Kiên Giang có tổng số 2.303 vụ phương tiện khai thác thủy sản vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi, trong đó phương tiện cào bay 1.390 vụ chiếm 60%, cào điện 138 vụ; nghề xiệp 62 vụ... Còn trong tổng số 4.082 lượt vi phạm về khai thác, đánh bắt thủy sản có tới 1.141 vụ khai thác vi phạm vùng cấm (35,8%), khai thác bằng xung điện 163 vụ (4,1%) (Nguyễn Kiểm, 2006 ). Do lưới cào là ngư cụ khai thác phổ biến ở Kiên Giang với các hình thức khai thác như: cào điện, cào bay, cào mé… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản vốn có của khu vực, vì vậy việc “khảo sát hiện trạng và hiệu quả khai thac của nghề lưới cào gần bờ ở Kiên Hải-Kiên Giang” là thật sự cần thiết. 1.2 Mục tiêu đề tài Cung cấp thông tin hiện trạng nghề khai thác nguồn lợi thủy sản bằng nghề lưới kéo ven bờ của tỉnh Kiên Giang nhằm giúp cho địa phương xác định hiện trạng và là cơ sở cho việc khai thác và quản lý nghề cá theo hướng phát triển bền vững. 1.3 Nội dung đề tài - Khảo sát hiện trạng của nghề lưới kéo gần bờ ở huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang. - Khảo sát về thành phần giống loài và sản lượng khai thác của nghề lưới kéo gần bờ ở huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang. - Đánh giá hiệu quả khai thác và ảnh hưởng của nghề lưới kéo gần bờ đến nguồn lợi thủy sản trong vùng khảo sát 2 Phần 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nguồn lợi và hiện trạng nghề cá ở Việt Nam 2.1.1 Nguồn lợi hải sản ở Việt Nam Theo Viện nghiên cứu Hải sản (2007) thì toàn bộ biển Việt Nam được phân chia thành 5 vùng biển chính, bao gồm: vùng biển Vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung bộ, vùng biển Đông Nam bộ, vùng biển Tây Nam bộ và vùng Giữa Biển Đông. Các cuộc điều tra nguồn lợi hải sản ở Việt Nam từ năm 2000 đến 2005 đã xác định được 1255 loài nằm trong 528 giống thuộc 222 họ hải sản, trong đó, vùng biển phong phú nhất về thành phần loài là Đông Nam Bộ với 621 loài thuộc 366 giống, 168 họ và 167 loài/nhóm loài khác chưa xác định; tiếp đến là vùng biển Vịnh Bắc bộ với 429 loài, 278 giống, 135 họ và 124 loài/nhóm loài chưa xác định. Cũng theo kết quả các chuyến điều tra từ năm 2000 đến 2005, tổng trữ lượng hải sản Việt Nam ước tính khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 2,8 tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng; trữ lượng cá đáy khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng; khả năng khai thác hải sản ở biển Việt Nam khoảng 1,8-2,2 triệu tấn (Phan Liên, 2008). Sản lượng (Tấn/năm) Theo tổng cục thống kê (2007) thì sản lượng khai thác thuỷ sản vào năm 2002 sản lượng khai thác thủy sản 1.802.599 tấn sản lượng này không ngừng tăng lên đến 2006 sản lượng khai thác thủy sản là 2.026.600 tấn (Hình 2.1). 2100000 2000000 2026600 2005 2006 1856105 1900000 1800000 1987934 1939992 1802599 1700000 1600000 2002 2003 2004 Hình 2.1 Sản lượng khai thác thủy sản cả nước (Nguồn: tổng cục thống kê, 2007) Nghề cá nước ta là nghề cá qui mô nhỏ, số lượng tàu thuyền nhỏ chủ yếu khai thác ở ven bờ chiếm tỉ lệ cao trong tổng số tàu thuyền, do vậy nguồn lợi thuỷ sản nước ta ngày càng cạn kiệt, kết quả nghiên cứu nguồn lợi hải sản Việt Nam cho thấy khả năng cho phép khai thác ở vùng biển gần bờ là 582.512 tấn, trong khi sản lượng khai thác thực tế ở vùng này đã vượt mức giới hạn trên từ 3 năm 1991. Năm 2000, sản lượng khai thác ở vùng gần bờ đạt 1.050.000 tấn, vượt mức cho phép 1,8 lần. (Đào Văn Tự và Nguyễn Trường Sơn, 2003). Trữ lượng hải sản biển Việt Nam vào khoàng 3,1- 4,2 triệu tấn, khả năng khai thác 1,4- 1,6 triệu tấn; khoảng 0,058 triệu tấn tôm biển và 0,123 triệu tấn mực (Bảng 2.1). Bảng 2.1 Trữ lượng và khả năng khai thác hải sản của vùng biển Vùng biển Trữ lượng (tấn) Vịnh bắc bộ Vùng biển miền Trung 542.730 256.092 622.494 298.998 Đông nam Bộ 908.879 415.952 Tây Nam Bộ 478.689 223.075 Giữa Biển Đông 510.000 230.000 3.072.792 1.426.617 Toàn vùng biển Khả năng khai thác (tấn) (Nguồn: Thông tin KHCN & Kinh tế thủy sản, số 10/2005) Sản lượng khai thác cá biển của cả nước góp phần đáng kể trong sản lượng khai thác thủy sản cả nước, năm 2002 mức sản lượng khai thác cá biển là 1189,6 nghìn tấn và sản lượng tiếp tục tăng đến năm 2006 mức sản lượng là 1396,5 nghìn tấn (Hình 2.2). Sản lượng (Nghìn tấn/năm) Cả nước Đồng Bằng Sông Cửu Long 1367.5 1500 1189.6 1396.5 1333.8 1227.5 1000 493.8 498.7 532.3 529.1 539 500 0 2002 2003 2004 2005 2006 Hình 2.2 Sản lượng khai thác cá biển cả nước (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007) Vào năm 2008 sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 4582,9 nghìn tấn, tăng 9,2% so với năm 2007, trong đó khai thác 2134 nghìn tấn, tăng 2,9% (khai thác biển 1938 nghìn tấn, tăng 3,3%). Khai thác thuỷ sản cũng bớt khó khăn hơn do những tháng cuối năm giá xăng dầu giảm và chính sách của Chính phủ về hỗ 4 trợ tiền xăng dầu, tiền mua mới, đóng mới và thay máy tàu đã khuyến khích ngư dân tăng cường bám biển. (Nguồn: Thông cáo báo chí về số liệu thống kê kinh tế-xã hội năm 2008) 2.1.2. Hiện trạng khai thác thủy sản ở Việt Nam Theo Bộ Thủy sản (1981) cả nước mới chỉ có 29.584 tàu gắn máy thì đến cuối năm 2004 chúng ta đã có 85.430 chiếc tàu gắn máy, nghề cá Việt Nam đang đối mặt với những thách thức từ chính tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành. Với hơn 84% số lượng tàu cá công suất nhỏ hơn 90 CV, các hoạt động đánh bắt tập trung chủ yếu ở vùng nước ven bờ, gây ra áp lực quá lớn đối với nguồn lợi hải sản ở vùng biển Việt Nam... Thống kê cho thấy, trong 10 năm từ 1994 - 2004, tổng công suất máy tàu tăng từ 1.443.950 CV lên 4.723.264 CV (3,27 lần) trong khi sản lượng khai thác chỉ tăng từ 878.474 tấn lên 1.724.200 tấn (1,96 lần). Điều này có nghĩa là sản lượng khai thác của một mã lực máy tàu bị giảm liên tục từ 0,61 tấn xuống còn có 0,36 tấn/CV/năm (Thông tin KHCN & Kinh tế thủy sản, số 10/2005). Mặt khác trong giai đoạn 2000-2005 số lượng ngư dân trực tiếp khai thác hải sản tăng bình quân 23.155 người/năm, điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh trong khai thác ven bờ với cường độ cao, ráo riết hơn. Vì cuộc sống trước mắt, nhóm ngư dân này dùng mọi biện pháp để đánh bắt: Giảm kích thước mắt lưới, tăng cường độ khai thác hoặc dùng những biện pháp khai thác mang tính hủy diệt, như: Sử dụng chất nổ, chất độc, xung điện…. Tỷ lệ cá tạp, cá con trong các mẻ lưới ngày càng cao, chiếm 40-95% sản lượng đánh bắt, tùy theo loại ngành nghề khai thác, kéo theo doanh thu các hoạt động khai thác có xu hướng thấp dần (Thanh Minh, 2008). Năm 2007 số lượng tàu thuyền có công suất dưới 90 CV là 72.727 chiếc chiếm 84% còn lại là nhóm có công suất từ 90 đến < 400 và trên 400 số lượng và tỷ lệ thấp (Hình 2.3). Công suất 150 - < 400 cv, 8% Công suất >= 400 cv, 2% Công suất 90 - <150 cv, 6% Công suất < 90 cv, 84% Hình 2.3 Tỷ lệ số lượng tàu theo nhóm công suất máy (Nguồn: Bản tin điện tử viện nghiên cứu hải sản) 5 Hiện tại, cả nước có trên 40 nghề khai thác thủy sản tập trung tại 5 họ nghề chính (lưới kéo, lưới rê, lưới vây, câu và lồng bẫy cố định) với hơn 95.600 tàu hoạt động nghề cá, trong đó tàu khai thác thủy sản nội đồng là 10.210 chiếc, tàu khai thác hải sản là 83.250 chiếc; tổng công suất máy đạt trên 5,4 triệu CV, tăng trung bình 18,3%/năm trong suốt thập niên vừa qua; công suất máy trung bình của 1 tàu đạt 57CV trong năm 2007 (Phan Liên, 2008). Theo tổng cục thống kê Việt Nam năm 2007 số lượng tàu đánh bắt xa bờ của cả nước không ngừng tăng lên, năm 2002 cả nước chỉ có 15.988 phương tiện đánh bắt xa bờ thì đến 2006 số lượng này là 21.232 phương tiện đánh bắt xa bờ, số tàu đánh bắt xa bờ tăng nhanh trong giai đoạn 2002-2004, từ 2004-2006 có xu hướng tăng chậm (Hình 2.4). Số lượng tàu (Chiếc) Cả nước Đồng Bằng Sông Cửu Long 25000 20000 20537 20071 17303 Kiên Giang 21232 15988 15000 10000 5000 4440 1517 5383 4727 2028 1752 5539 5516 2075 2038 0 2002 2003 2004 2005 2006 Hình 2.4 Số lượng tàu đánh bắt xa bờ của cả nước. (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007) Trong những năm gần đây tình hình nguồn lợi suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân là do sự khai thác vượt mức sản lượng thuỷ sản gần bờ, 72% số lượng tàu thuyền có công suất dưới 45 CV và sản lượng khai thác dưới độ sâu 50m chiếm tới trên 82% tổng sản lượng khai thác (Hà Yên, 2008). 2.2 Tình hình nguồn lợi và khai thác thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố, dân số gần 17 triệu người, có nhiều sông rạch, nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông và biển Tây. Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000km2 với 750 km chiều dài bờ biển. Toàn vùng có 65.589 tàu thuyền đánh cá, tổng công suất trên 1,7 triệu mã lực. Tiềm năng nuôi trồng, đánh bắt và chế biến xuất khẩu thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long là rất lớn (Bùi Quang Huy, 2004). Hàng năm Đồng Bằng Sông Cửu Long đóng góp khoảng 50% sản lượng thuỷ sản cả nước, 60% sản lượng xuất khẩu, đặc biệt 80% sản lượng tôm cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Thám, 2006). 6 Đồng Bằng Sông Cửu Long nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa chính: mùa khô và mùa mưa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5–10 và mùa khô từ tháng 11– 4 năm sau lượng mưa hàng năm biến động theo khu vực. Gió thịnh hành là gió Đông và Đông Bắc (mùa đông), gió Tây–Tây Nam (mùa hè), hình thành nên hai vụ cá là vụ cá Bắc và vụ Cá Nam. Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng là nơi ít xảy ra thiên tai, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất lượng thực và thuỷ sản lớn nhất của cả nước. Trữ lượng cá biển ở 2 ngư trường Đông và Tây Nam bộ khoảng 2.582.568 tấn, chiếm 62% của cả nước. Khả năng cho phép khai thác tối đa khoảng trên 1.000.000 tấn, trong đó cá đáy khoảng 700.000 tấn, cá nổi trên 300.000 tấn. Nguồn lợi hải sản phong phú với khả năng khai thác đáng kể so với cả nước: cá 62%, tôm sú và tôm he - 66%, tôm sắt và tôm chì - 61%, mực ống - 69% và mực nang - 76% (Diển Đàn Phát Triển Bền Vững Ở ĐBSCL, 2008). Ngoài ra với 8/13 tỉnh giáp biển, vùng ĐBSCL đóng vai trò quan trọng trong khai thác thủy sản nước mặn, nước lợ cũng như nước ngọt. Sản lượng thuỷ sản khai thác của một số tỉnh ven biển ở ĐBSCL (Hình 2.5). Sản Lượng (Nghìn tấn) Sóc Trăng 350 300 250 200 150 100 50 0 Bạc Liêu Cà Mau Kiên Giang 286 271 295 256 127 3355 2001 121 131 66 68 33 33 2002 2003 134 66 31 2004 Hình 2.5 Sản lượng khai thác của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSCL (Nguồn: Mai Viết Văn, 2006. Bài giảng môn học ngư trường và nguồn lợi thủy sản). Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (2007) số tàu đánh bắt hải sản xa bờ của Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2000 là 3.426 chiếc với tổng công suất đánh bắt 905.871 CV, đến năm 2006 thì số lượng tàu tăng lên đến 5.539 chiếc, với tổng công suất là 1.527.008 CV. . .Số lượng tàu đánh bắt xa bờ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2004 đến 2004-2006 có xu hướng tăng chậm (Hình 2.6). 7 Số lượng tàu (Chiếc) 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 3426 4211 2000 2001 4440 4727 2002 2003 5383 5516 5539 2004 2005 2006 Hình 2.6 Số lượng tàu đánh bắt hải sản xa bờ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2007) 2.3 Tình hình và hiện trạng khai thác thủy sản ở Kiên Giang 2.3.1 Vị trí địa lý Kiên Giang là vùng tận cùng ở phía Tây Nam của Việt Nam. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang và Cần Thơ, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Bắc giáp Campuchia. Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.269 km2. Dân số gần 1,7 triệu người. Trong đó dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,23%; Hoa: 2,97%. Dân số phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và một số đảo (Tổng quan về Kiên Giang). Điều kiện khí hậu thời tiết ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản: ít thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không rét (nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27-27,50C) ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào rất thuận lợi cho cây trồng vật nuôi sinh trưởng. Tài nguyên đất và nước: Đến năm 2001 tổng diện tích đất tự nhiên 629.905 ha, trong đó đất nông nghiệp 411.974 ha chiếm 65,72% đất tự nhiên, riêng đất lúa 317.019 ha chiếm 76,95% đất nông nghiệp. Đất lâm nghiệp có 120.027 ha chiếm 19,15% diện tích đất tự nhiên. Nguồn nước mặt khá dồi dào, do là một tỉnh ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại là tỉnh ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá. Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km). Tài nguyên thủy sản: Kiên Giang là tỉnh có nguồn lợi thủy sản đa dạng, phong phú bao gồm: tôm, cá các loại và có nhiều đặc sản quí như: Đồi mồi, hải sâm, sò huyết, nghêu lụa, rau câu…Trữ lượng tôm cá ở đây khoảng 464.660 tấn trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng 8 cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn. Tài nguyên khoáng sản: Qua thăm dò điều tra địa chất tuy chưa đầy đủ nhưng đã xác định được 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sản thuộc các nhóm như: Nhóm nhiên liệu (than bùn), nhóm không kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét…), nhóm kim loại (sắt, Laterit sắt…), nhóm đá bán quý (huyền thạch anh - opal…), trong đó chiếm chủ yếu là khoáng sản không kim loại dùng sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng. Tiềm năng du lịch: Kiên Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng và điều kiện để phát triển du lịch so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, bởi có nhiều địa danh thắng cảnh và địa danh di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi MoSo, bãi biển Mũi Nai, Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh đảo Phú Quốc…(Nguồn: www.kiengiang.gov.vn). 3.3.2 Tình hình khai thác ở Kiên Giang Số lượng (Chiếc) Về cơ cấu ngành nghề đội tàu Kiên Giang đã tăng mạnh từ năm 2000-2005, tuy nhiên đội tàu này đa số hoạt động khia thác gần bờ, số tàu đánh bắt xa bờ có số lượng nhỏ (Hình 2.7). 10000 8000 T ổng số tàu đánh bắt Số tàu đánh bắt xa bờ 7030 6635 7390 7500 7700 6835 6000 4000 2000 1054 1517 1422 1752 2028 2075 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Hình 2.7 Số tàu thuyền biến động qua các năm của tỉnh Kiên Giang (Nguồn: Sở thuỷ sản Kiên Giang, 2005) Trong cơ cấu ngành nghề đội tàu khai thác thủy sản Kiên Giang thì số phương tiện nghề cào chiếm tỷ lệ lớn . Theo số liệu sở thuỷ sản Kiên Giang năm 2005, số lượng phương tiện nghề cào tăng liên tục từ 2000-2005, số phương tiện tăng nhanh trong giai đoạn 2000-2003 trong giai đoạn 2003-2005 có xu hướng tăng chậm. Theo ngư dân cho biết thì do hiệu quả của nghề khai thác truyền thống này đã không còn như những năm trước kia nên một số ngư dân đã chuyển đổi nghề cào thành các nghề khác trong khai thác như: Câu mồi, Câu 9 Số lượng (Chiếc) mực, … hoặc đã không còn hoạt động trong lĩnh vực khai thác hải sản (Hình 2.8). 5000 4000 3396 3548 3874 3970 4090 2001 2002 2003 2004 2005 3329 3000 2000 1000 0 2000 Hình 2.8 Số nghề cào biến động qua các năm của tỉnh Kiên Giang (Nguồn: Sở thuỷ sản Kiên Giang, 2005) Trong năm 2006 số tàu khai thác xa bờ tỉnh Kiên Giang là 2.075 phương chiếm 36,8% số lượng tàu đánh bắt xa bờ của Đồng Bằng Sông Cửu Long (Hình 2.9). Kiên Giang 37% ĐBSCL 63% Hình 2.9 Phần trăm số lượng tàu đánh bắt xa bờ ở Kiên Giang so với Đồng Bằng Sông Cửu Long vào năm 2006 ( Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2007) Kinh tế thủy sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của Kiên Giang, trong đó khai thác, đánh bắt, chế biến thủy sản chiếm vị trí hàng đầu trong nghề cá. Theo tổng cục thống kê năm 2007 sản lượng khai thác thủy sản Kiên Giang tăng, đặc biệt tăng nhanh trong những năm 2002-2005 (sản lượng 2002 là 270.000 tấn/năm, năm 2005 308.827 tấn/năm), nguyên nhân trong giai đoạn này số lượng đội tàu tỉnh tăng đáng kể. Đến 2006 sản lượng tăng nhưng chậm chỉ tăng 2.791 tấn/năm so với 2005 (Hình 2.10). 10 Sản lượng (Tấn/năm) 311618 320000 302437 300000 280000 308827 286043 270000 260000 240000 2002 2003 2004 2005 2006 Hình 2.10 Tổng sản lượng thủy sản trong các năm 2000-2006 (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2007) Sản lượng (Nghìn tấn/năm) Trong tổng sản lượng thủy sản của tỉnh thì sản lượng cá biển khai thác cũng đóng vai trò quan trọng trong thu nhập, sản lượng khai thác cá biển cũng tăng nhanh 2002-2005 (Hình 2.11). 300 250 200 150 100 50 0 189.4 201 2002 2003 231.3 238.3 246.9 2004 2005 2006 Hình 2.11 Sản lượng cá biển kiên Giang (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2007) Tuy nhiên thơi gian gần đây do khai thác quá mức và sử dụng những loại ngư cụ khai thác mang tính hủy diệt làm cho nguồn lợi suy giảm nghiêm trọng. Do từ năm 1991 Kiên Giang đã có chủ trương không cho đăng ký mới đối với các phương tiện hành nghề xiệp mé và cào ven bờ, đồng thời khuyến khích ngư dân chuyển đổi ngành nghề khác nhằm đảm bảo sự sinh sản và tái tạo nguồn lợi thủy sản ven bờ. Theo số liệu thống kê năm 1995, sản lượng khai thác bình quân 0,49 tấn/CV/năm, đến năm 1997 đạt 0,42 tấn/CV/năm; năm 1999 đạt 0,38 tấn/CV/năm và năm 2001 với sản lượng khai thác 275.179 tấn thì bình quân CV đạt 0,42 tấn/CV/năm. Như vậy chứng tỏ sản lượng hải sản khai thác từ khi chưa có chủ trương cấm cào bờ, xiệp mé tính bình quân trên CV/năm có 11 xu hướng giảm dần qua các năm, bên cạnh đó các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao giảm xuống, các loại thủy sản có giá trị kinh tế thấp lại tăng so với các năm trước (Nguyễn Văn Hoàng, 2006). Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, năm 2005 tỉnh Kiên Giang có tổng số 2.303 vụ phương tiện khai thác thủy sản vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi, trong đó phương tiện cào bay 1.390 vụ chiếm 60%, cào điện 138 vụ; nghề xiệp 62 vụ... Còn trong tổng số 4.082 lượt vi phạm về khai thác, đánh bắt thủy sản có tới 1.141 vụ khai thác vi phạm vùng cấm (35,8%), khai thác bằng xung điện 163 vụ (4,1%) (Nguyễn Kiểm, 2006). Theo Lưu Quốc Thắng, trên báo Nhân Dân ngày 31.07.1997 thì trong hồ sơ đăng kiểm nghề cá tại vùng biển Kiên Giang có 7133 tàu thuyền đánh bắt hải sản với tổng công suất 414664 CV, trong đó loại tàu thuyền có sức kéo dưới 56 CV chiếm 80%, tàu thuyền có sức kéo dưới 20 CV chiếm khoảng 50%. Đó là chưa kể hơn 1000 chiếc ghe nhỏ chuyên cào bờ, xiệp mé. Khu vực khai thác chủ yếu là vùng ven bờ từ 20 m trở vào, trong đó 80% phương tiện đánh bắt ở độ sâu 0-10 m. Toàn tỉnh chỉ có 7% số tàu thuyền khai thác ở độ sâu 30 - 50 m nhưng đã có được sản lượng tương đương với sản lượng của số tàu hoạt động ven bờ. Điều này chứng tỏ nguồn lợi cá ở vùng biển xa bờ vẫn còn là một tiềm năng có thể khai thác đạt sản lượng cao (Kim Oanh, 2008). 2.3.3 Tổng quan về huyện Kiên Hải Kiên Hải là một trong hai huyện đảo của tỉnh Kiên Giang, với 23 hòn đảo lớn nhỏ, nằm trải dài trong vùng biển Tây Nam Bộ, trong đó có hai xã đảo Hòn Tre và Lại Sơn là hai đảo riêng biệt, 21 đảo còn lại thuộc hai xã An Sơn và Nam Du. Về tổng thể địa hình tự nhiên, chủ yếu là núi đảo, với diện tích đất nổi 2.615 ha. Huyện đảo Kiên Hải là ngư trường khai thác rộng lớn, thuận lợi cho khai thác, nuôi trồng hải sản, với nguồn con giống tự nhiên, đa dạng chủng loại, nhiều loại đặc sản tươi ngon... Đặc biệt, quanh các đảo có nhiều bãi cát, eo biển, cảnh quan đẹp, có độ sâu và môi trường nước rất tốt, thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch trên biển. Tuy cơ sở hạ tầng giao thông đi lại trên huyện đảo còn khó khăn, nhưng từ năm 2001 trở lại đây, Kiên Hải đã biết khai thác tốt tiềm năng của địa phương, tập trung mọi nguồn vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông, điện, nước, viễn thông và kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực nuôi trồng hải sản, hậu cần nghề cá, thương mại - dịch vụ - du lịch, chế biến hải sản... (Nguồn: http://kehoach.kiengiang.gov.vn/index2.jsp?menuId=30&articleId=5525) 12 Trong năm 2007, ngành thủy sản tiếp tục được giữ vững, ổn định và duy trì sản xuất, đã có những đóng góp rất lớn và tiếp tục chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của huyện - Sản xuất và quản lý tàu thuyền : đến thời điểm 2007, toàn huyện có 674 tàu cá, với tổng công suất 93.764 cv, giảm 8 phương tiện và 5.596 cv so với cùng kỳ năm trước, trong đó cào đôi là 139 chiếc với 63.160cv, giảm 17 chiếc với 6.575cv so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra còn khoảng 500 phương tiện nhỏ với 6.000 cv hoạt động các nghề thủ công quanh các đảo. - Sản lượng thủy sản ước đạt 51.634 tấn, đạt gần 94% kế hoạch năm, giảm 1,26% so cùng kỳ 2006 (Bảng 2.2), trong đó : Khai thác cả năm ước đạt 51.374 tấn hải sản các loại, đạt 93,82% kế hoạch năm và giảm 1,71% so với năm trước. Ước tính giá trị sản xuất (thực tế) 442,060 tỷ đồng. Sản lượng nuôi được 260 tấn (sò và các cá loại), vượt 8,33% kế hoạch. Ước giá trị (thực tế) là 9,22 tỷ đồng. Đội tàu cào đôi hiện có 139 chiếc (giảm hơn so với những năm trước. Năm 2005 : 168 chiếc, năm 2006 : 156 chiếc), nhưng hoạt động chất lượng hơn, sản lượng tính trên đầu phương tiện tăng hơn (trung bình 439,8 tấn/cặp/năm, tăng 17 tấn so năm 2006). Giá trị sản xuất cao hơn so với những năm trước, ước đạt 263,202 tỷ, tăng 2,93% so cùng kỳ. Cùng với sự ổn định đội tàu xa bờ, thì các phương tiện cào tôm (công suất từ 30-45cv) trong năm qua cũng đã khẳng định hiệu quả sản xuất rất khá và nhanh nhạy trong hoạt động. Bảng 2.2 Thống kê sản lượng đánh bắt 2008 ở Kiên Hải Chủng loại Đơn vị Ước tháng 12 Cả năm Cá các loại Tấn 3.174 35.934 Tôm Tấn 390 4.466 Mực Tấn 807 10.167 Cua, ghẹ Tấn 79 807 Tấn 4.450 51.374 Tổng cộng (Nguồn: Phòng Nông Nghiệp Huyện Kiên Hải) 13 Phần 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện -Vị trí nghiên cứu: Huyện Kiên Hải (Xã Nam Du và Lại Sơn) -Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 05 năm 2009 Khu vực nghiên cứu Hình 3.1 Bản đồ tỉnh kiên Giang 3.2 Phương pháp thu nhập thông tin 3.2.1 Thông tin thứ cấp Số liệu thứ cấp được thu nhập thông qua nghiên cứu, báo cáo của các cơ quan, địa phương, sách báo tạp chí và các website có liên quan, các thông tin bao gồm:  Xác định điều kiện tự nhiên  Hiện trạng khai thác thủy sản  Số tàu, cơ cấu ngành nghề 14  Hiện trạng khai thác và sản lượng khai thác qua các năm  Thành phần giống loài, mùa vụ khai thác và hiệu quả kinh tế của nghề lưới kéo gần bờ 3.2.2 Thông tin sơ cấp Thông tin có được từ điều tra bằng phiếu phỏng vấn của 50 hộ khai thác lưới kéo ở huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. - Hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo gần bờ huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. - Mùa vụ, ngư trường, thành phần giống loài, hiệu quả khai thác chuyến biển của nghề lưới kéo gần bờ Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. 3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft excel 2003 15 Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình khai thác biển ở Kiên Giang 4.1.1 Số lượng tàu thuyền đánh bắt hải sản ở Kiên Giang Theo thống kê của Sở Nông Nông Nghiệp tỉnh Kiên Giang cuối 2008 số lượng tàu cá theo nghề tăng so với 2007, số lượng tàu có công suất dưới 90 cv chiếm 72% tổng số loại hình đánh bắt toàn tỉnh (Hình 4.1), nghề lưới kéo 2.626 chiếc bao gồm lưới kéo đơn và kéo đôi chiếm 23% tổng số loại hình đánh bắt (Hình 4.2), trong đó lưới kéo công suất dưới 90 cv chỉ còn 383 chiếc, chiếm 15% tổng số nghề lưới kéo toàn tỉnh (Hình 4.3). Điều này cho thấy số lượng tàu thuyền của nghề lưới cào dưới 90 CV ở Kiên Giang giảm nhiều so với 2007 (Năm 2007 lưới cào dưới 90 CV chiếm 43% tổng số loại hình lưới kéo toàn tỉnh), đây cũng là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu đánh bắt trong việc đẩy mạnh khai thác xa bờ của tỉnh nhằm hạn chế ảnh hưởng nguồn lợi trong vùng. Tàu > 90 cv, 28% Tàu < 90 cv, 72% Hình 4.1 Cơ cấu tàu thuyền phân theo công suất của nghề khai thác thủy sản ở tỉnh Kiên Giang (Nguồn: Sở Nông Nghiệp Kiên Giang, 2008) Lưới vây, 7% Các nghề khác, 10% Lưới rê, 39% Câu, 21% Lưới kéo, 23% Hinh 4.2 Tỷ lệ phần trăm số lượng tàu của nghề lưới kéo tỉnh Kiên Giang. (Nguồn: Sở Nông Nghiệp Kiên Giang, 2008) Lưới kéo < 90 cv, 15% Lưới kéo > 90 cv, 85% Hình 4.3 Cơ cấu tàu thuyền của nghề lưới cào theo công suất (Nguồn: Sở Nông Nghiệp Kiên Giang, 2008) 16 4.2 Tình hình khai thác biển ở huyện Kiên Hải Kiên Hải là một huyện đảo của tỉnh Kiên Giang nằm ngoài khơi vùng biển Tây Nam. Huyện có diện tích khoảng 2.615,39 km² và dân số khoảng 21.534 người, sinh sống trên các đảo trong quần đảo Kiên Hải. Huyện Kiên Hải có 4 xã là Hòn Tre (trung tâm), An Sơn, Lại Sơn và quần đảo Nam Du. Các đảo của huyện Kiên Hải vẫn còn sơ khai, nhiều phong cảnh đẹp mang đậm nét thiên nhiên. Hòn Tre - Trung tâm hành chính của huyện, cách Thành phố Rạch Giá 30 km. Người dân ở đây chủ yếu sinh sống bằng nghề biển. Họat động chính của vùng là khai thác thủy sản, số lượng lao động trong khu vực khảo sát tham gia vào khai thác thủy sản khá đông chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số lao động trong các nghành khác, theo Hình 4.4 số lượng lao động trong khai thác thủy sản chiếm 49% lao động trong toàn huyện. Ngành thủy sản, 49% Các ngành khác, 51% Hình 4.4 Tỷ lệ lao động ở Kiên Hải đang làm việc trong các nghành kinh tế (Nguồn: Niên Giám Thống Kê Huyện Kiên Hải, 2007) Theo báo cáo của phòng Nông Nghiệp huyện Kiên Hải khai thác cả năm 2007 ước đạt 51.374 tấn hải sản các loại, đạt 93,82% kế hoạch năm và giảm 1,71% so với năm 2006. Số lượng tàu thuyền đến cuối 2007 toàn huyện có 674 tàu cá, với tổng công suất 93.764 cv, giảm 8 phương tiện và 5.596 cv so với cùng kỳ năm trước, trong đó cào đôi là 139 chiếc với 63.160cv, giảm 17 chiếc với 6.575cv so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra còn khoảng 500 phương tiện nhỏ với 6.000 cv hoạt động các nghề thủ công quanh các đảo. Số lượng (chiếc) 700 678 680 660 638 685 679 674 645 640 620 600 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Hình 4.5 Số lượng tàu thuyền đánh bắt ở huyện Kiên Hải (Nguồn: Niên Giám Thống Kê Huyện Kiên Hải, 2007) 17 Theo phòng thống kê huyện Kiên Hải năm 2007 số phương tiện tàu thuyền đánh bắt thủy sản tăng nhanh trong giai đoạn 2002-2005, đến 2005-2007 số phương tiện đánh bắt giảm (Hình 4.5). Cuối năm 2008 thì toàn huyện Kiên Hải có 731 phương tiện khai thác hải sản, trong đó tàu có công suất dưới 90 cv chiếm 68% số tàu khai thác hải sản trong toàn huyện (Hình 4.6), các nghành nghề được thống kê qua hình 4.7, nghề lưới kéo là nghề truyền thống chiếm 32% số lượng tàu khai thác trong huyện, lưới rê chiếm 21% hai nghề này chiếm tỷ rất cao trong tất cả các nhóm nghề, các nghề còn lại chiếm tỷ lệ thấp hoặc không đáng kể. Điều này nói lên rằng hai nghề khai thác là lưới rê và lưới kéo là nghề khai thác chủ yếu đem lại nguồn thu nhập chủ lực cho người dân vùng ven biển huyện này. Mặt dù nghề Lưới Kéo còn số lượng khá lớn trong tỉnh Kiên Giang nhưng qua kết quả khảo sát đã cho thấy nghề này đang có xu hướng giảm về sản lượng và năng suất. Theo thống kê của sở thuỷ sản Kiên Giang thì tàu lưới kéo dưới 90 CV còn rất nhiều ở Kiên Hải, Theo khảo sát là ở huyện Kiên Hải còn rất nhiều tàu lưới kéo dưới 90 CV không đăng ký mà vẫn ngày đêm hoạt động tuy vậy nhưng hiệu quả mang lại cho ngư dân vẫn không cao mà trái lại đã làm cho nguồn lợi suy giảm dẫn đến hiện trạng khai thác của nghề lưới kéo dưới 90 CV ngày càng đi ngược với sự phát triển của hội. Công suất > 90 cv, 32% Công suất < 90 cv, 68% Hình 4.6 Tỷ lệ phần trăm số tàu phân theo công suất huyện Kiên Hải (Nguồn:Phòng Nông Nghiệp huyện Kiên Hải, năm 2008) Các nghề khác, 18% Lưới rê, 21% Lưới vây, 15% Câu, 14% Lưới kéo, 32% Hình 4.7 Tỷ lệ phần trăm số lượng tàu của nghề lưới kéo tỉnh Kiên Hải. (Nguồn:Phòng Nông Nghiệp huyện Kiên Hải, năm 2008) 18
- Xem thêm -