Khảo cứu văn bản du hiên thi thảo của bùi văn dị

  • Số trang: 142 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 5 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 5 2. Lịch sử nghiên cứu. ....................................................................................... 6 2.1. Các công trình thư mục học, từ điển ..................................................... 7 2.2. Một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các sáng tác của Bùi Văn Dị. ........................... 9 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ..............................................................10 4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................10 5. Những đóng góp của luận văn ....................................................................11 6. Bố cục của đề tài .........................................................................................11 PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ..............................................................................................................13 1.1. Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị.....................................................13 1.1.1. Tiểu sử Bùi Văn Dị ...........................................................................13 1.1.2. Trước tác của Bùi Văn Dị .................................................................21 1.2. Tổng quan tình hình văn bản Du Hiên thi thảo........................................27 Chương 2 ..............................................................................................................50 TÌM HIỂU GIÁ TRỊ TÁC PHẨM DU HIÊN THI THẢO...................................50 2.1. Giá trị về nội dung của tác phẩm .............................................................50 2.1.1. Du Hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân và ý chí căm thù giặc của nhà chí sĩ họ Bùi.............................................................50 2.2.2. Du Hiên thi thảo là lời ca về tình yêu thiên nhiên của nhà thơ ........64 3 2.2.3. Giá trị sử liệu và những hạn chế trong nội dung tư tưởng của tác phẩm............................................................................................................73 2.2. Giá trị nghệ thuật của Du Hiên thi thảo ..................................................82 2.2.1. Thể thơ .............................................................................................82 2.2.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ ..............................................................90 2.3.3. Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố ..............................................95 KẾT LUẬN CHUNG .........................................................................................101 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................105 TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT .................................................................................105 TÀI LIỆU CHỮ HÁN CỦA TÁC GIẢ............................................................107 TỪ ĐIỂN........................................................................................................108 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong nền văn học của dân tộc Việt Nam, văn học viết bằng chữ Hán chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Trong suốt khoảng thời gian kéo dài hàng nghìn năm, chữ Hán đƣợc sử dụng nhƣ một loại văn tự quốc gia. Chữ Hán đã đƣợc sử dụng trong tất cả các lĩnh vực đời sống nhƣ chính trị, văn hóa, khoa học, xã hội, lịch sử,...và cũng chính là công cụ để các bậc thi nhân, văn sĩ ghi lại cảm xúc của mình. Chính vì vậy, ngày nay chúng ta đã đƣợc thừa hƣởng một kho tàng văn hóa thành văn vô giá đƣợc ghi chép bằng chữ Hán do ông cha để lại. Trong đỉnh cao của nền văn học trung đại đó, chúng ta đã rất quen thuộc với những tên tuổi nhƣ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, , Nguyễn Du, v.v...; đến các vị vua say mê văn học nhƣ Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mạng, Tự Đức... Trong số những bậc thi nhân, văn sĩ đã từng cầm bút, có rất nhiều tác phẩm của họ còn đƣợc lƣu giữ lại và trở nên quen thuộc ngƣời đời sau nhƣng cũng có không ít tác phẩm của những con ngƣời tài hoa vẫn chƣa đƣợc biết đến, đó vẫn là những vấn đề còn bỏ ngỏ, là những mảng màu còn trống trong bức tranh toàn cảnh của nền văn học Việt Nam đang cần đƣợc các nhà nghiên cứu, tìm hiểu, khai thác và khám phá. Những tác phẩm thi ca của Tiến sĩ Bùi Văn Dị là một trong những trƣờng hợp nhƣ thế. Tên tuổi của ông thƣờng đƣợc biết đến nhƣ một một vị quan thanh liêm có lòng yêu nƣớc thƣơng dân...Tấm gƣơng hiếu học và yêu nƣớc của ông nhƣ một dấu son trong danh sách những nhà khoa bảng của mảnh đất Hà Nam nói riêng, nƣớc Việt Nam nói chung, nhƣng ngƣời đời sau ít ngƣời biết đến ông còn là một nhà thơ tài hoa, uyên bác. Trong cuộc đời 29 năm làm quan (1866-1895) của ông đã trải 7 đời vua (Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái), ông luôn đƣợc đánh giá cao và nắm giữ nhiều vai trò quan trọng trong triều đình. Dựa trên tài năng thơ văn và công lao của ông, Bùi Văn Dị đƣợc đặc cách nhận học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1865). Xuất phát từ một trái tim ƣu thời 5 mẫn thế và một tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống, ông đã sáng tác rất nhiều thơ ca. Những tác phẩm của ông đƣợc tập hợp trong các tập thơ, tùy bút nhƣ: Du Hiên thi thảo 輶軒詩草, Tốn Am thi thảo 遜庵詩草, Tốn Am thi sao 遜庵詩抄, Trĩ Chu thù xướng tập 雉舟酬唱集, ... Nhƣng do điều kiện lịch sử, mãi đến những năm đầu thế kỉ XX, một số tác phẩm của ông mới đƣợc dịch và trích dẫn trong một số sử sách viết về lịch sử, văn học, tƣ tƣởng triều Nguyễn. Cho đến nay vẫn chƣa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về con ngƣời, sự nghiệp và giá trị các tác phẩm của ông. Đó cũng chính là lí do chính khiến chúng tôi lựa chọn tác phẩm của ông làm đối tƣợng nghiên cứu cho đề tài. Tuy nhiên, trong khuôn khổ, phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không thể tham vọng giới thiệu hết đƣợc những trƣớc tác của tác giả mà chỉ Nghiên cứu văn bản Du Hiên thi thảo - một trong những tập thơ tiêu biểu của ông. Việc lựa chọn đề tài này không chỉ phù hợp với mã ngành đào tạo Hán Nôm mà đề tài nghiên cứu thành công sẽ trở thành một nguồn tƣ liệu tham khảo quan trọng cho những ai quan tâm đến vấn đề tác phẩm, giá trị nội dung tƣ tƣởng, văn bản của tác giả, cũng nhƣ góp phần tìm hiểu diện mạo thơ văn, lịch sử triều Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng và đầy biến động trong lịch sử Việt Nam. 2. Lịch sử nghiên cứu. Đối với bất kì một công trình nghiên cứu nào, việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, từ đó tổng kết những giá trị và hạn chế của việc nghiên cứu trƣớc khi đƣa ra những kiến giải của bản thân ngƣời nghiên cứu là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết. Nhƣ chúng ta đã biết, Bùi Văn Dị là một nhà nho, đƣợc đào tạo chính quy, theo con đƣờng khoa bảng. Ông đỗ đạt cao (đỗ cử nhân năm Ất Mão, niên hiệu Tự Đức năm thứ 8 (1855), và thi đỗ Phó bảng năm Ất Sửu (1865), đƣợc trúng cách làm Tiến sĩ trong khoa thi này). Tài năng thơ ca của ông đƣợc vua Tự Đức ban lời khen tặng: 狀元宰相以安排了 “Trạng nguyên Tể tướng dĩ an bài liễu” (Tài Trạng nguyên Tể tƣớng đã định sẵn rồi), ông trở thành ngƣời bạn luôn cùng 6 đàm luận thi ca với đức vua. Những tác phẩm thi ca của ông đƣợc trích dẫn và in trong nhiều tác phẩm văn học đƣơng thời nhƣ: 表 詔 賦 合 選 Biểu chiếu phú hợp tuyển, 舉業詩集 Cử nghiệp thi tập, 諸名家詩 Chư danh gia thi, 外 國 來 文 集 Ngoại quốc lai văn tập, 國 朝 名 人 墨 痕 Quốc triều danh nhân mặc ngấn, 詩歌雜編 Thi ca tạp biên, 詩討雜編 Thi thảo tạp biên…Tuy nhiên, cho đến ngày nay, theo tìm hiểu của chúng tôi, tên tuổi và các tác phẩm của ông mới chỉ đƣợc chọn dịch và giới thiệu một cách sơ lƣợc trong một số tác phẩm. Có thể chia các loại tài liệu đề cập đến Bùi Văn Dị và các tác phầm của ông thành hai loại: Các công trình thƣ mục học, từ điển và một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các tập thơ của Bùi Văn Dị. 2.1. Các công trình thư mục học, từ điển - Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa - Francois Gros, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993. Tác phẩm giới thiệu khái quát về Bùi Văn Dị, các bút danh và các sáng tác của ông, bao gồm tập văn xuôi Du hiên tùng bút – tập văn xuôi ghi chép những thắng cảnh trên đƣờng đi sứ Yên Kinh, những di tích, danh lam thắng cảnh của Việt Nam. Trong đó còn có hai bài văn bia phân định địa giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Phần giới thiệu về tập thơ Du hiên thi thảo chủ yếu điểm qua về kí hiệu văn bản, đồng thời khái quát về tình hình văn bản của tác phẩm hiện đƣợc lƣu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (trang 35 - 36). - Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Nguồn tƣ liệu văn học, sử học Việt Nam), Trần Văn Giáp, Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1984, Giới thiệu sơ lƣợc về tên tuổi, quên quán, chức danh, bút danh và các tác phẩm của Bùi Văn Dị (trang 283 – 284). 7 - Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1991. Viết khái quát về tác giả Bùi Văn Dị và các sáng tác của ông (trang 45- 46) - Tên tự, tên hiệu các tác gia văn học Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002, Giới thiệu về tác giả Bùi Văn Dị, tên tự, tên hiệu và các tác phẩm của ông (ở các trang 13, 67, 142, 253, 854). - Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam (Hội Khoa học lịch sử Việt Nam), Trần Hồng Đức (chủ biên), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2003, (trang 187). - Khoa bảng Thăng Long Hà Nội qua mộc bản triều Nguyễn (Cục văn thƣ và lƣu trữ Nhà nƣớc, Trung tâm lƣu trữ quốc gia IV), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2009 (trang 457). - Mộc bản triều Nguyễn – Đề mục tổng quan (Cục văn thƣ và lƣu trữ Nhà nƣớc, Trung tâm lƣu trữ quốc gia IV), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2009, ghi chép rất cụ thể các chức vụ của Bùi Văn Dị trong triều đình nhà Nguyễn qua các triều vua, nhƣ Quang Lộc tự khanh, Sung biện Các vụ, …(trang 891). - Từ điển văn học Việt Nam, Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cƣờng (biên soạn), Nhà xuất bản Giáo dục, 1994. Tác phẩm giới thiệu sơ lƣợc về tác giả văn học Bùi Văn Dị (trang 35 - 36). - Từ điển văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), cùng các soạn giả Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Nhà xuất bản thế giới, 2004. Trong công trình này đã có những đánh giá khái quát khá xác đáng và có phần chi tiết về bản thân con ngƣời và các sáng tác của tác giả Bùi Văn Dị. Trong đó có đoạn viết: “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác trên mọi nẻo đƣờng công cán, trong nhiều cƣơng vị, công chức khác nhau. Trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc, ông có Vạn lí hành ngâm, (Ngâm vịnh trên con đƣờng vạn dặm). Trong Bùi Văn Dị, con ngƣời chức năng không hề che lấp con ngƣời thi nhân. Ông hầu nhƣ rất 8 ít làm những bài thơ về thuyết giáo, về đạo trung hiếu, về nghĩa vụ bề tôi, về nghĩa vụ với xã tắc, nghĩa là những bài về thuyết lí khô khan, trái lại, thơ ông vang lên âm ba của cuộc sống thật….” (trang 183). 2.2. Một số sách có tính chất giới thiệu, điểm qua hoặc tuyển chọn và trích dẫn một số tác phẩm trong các sáng tác của Bùi Văn Dị. - Những công trình thuộc nhóm này hiện nay còn rất ít. Qua tìm hiểu đƣợc của chúng tôi, hiện nay, các công trình có tuyển chọn, biên dịch và trích dẫn các tác phẩm này chỉ đƣợc giới thiệu qua một số các tác phẩm sau: - Văn học yêu nước và cách mạng Hà Nam Ninh, Hội văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, gồm hai tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981. Trong công trình này, các soạn giả có khái quát tên tuổi, quên quán, chức vụ và trích dẫn một số các sáng tác của 14 tác gia văn học Việt Nam nổi tiếng ngƣời Hà Nam Ninh. Phần viết về tác giả Bùi Văn Dị từ trang 123 đến 125. Các bài thơ đƣợc tuyển dịch và giời thiệu trong tác phẩm này chủ yếu thuộc hai tập Du Hiên thi thảo và Tốn Am thi sao. - Thơ văn yêu nước Hà Nam Ninh (1958 - 1990), Nguyễn Văn Huyền (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1982. Trong công trình này cũng giới thiệu sơ lƣợc về tên tuổi, quê quán, bút danh và trích dẫn một số bài thơ trong các sáng tác của Bùi Văn Dị. - Tuyển tập thơ văn Việt Nam (giai đoạn 1858 - 1920), Huỳnh Lý (chủ biên), Nhà xuất bản Văn học, năm 1985, - Tổng tập văn học Việt Nam, (42 tập), Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2000. Trong đó, tập 19 của bộ sách này có giới thiệu sơ lƣợc về tác giả tác phẩm và tuyển dịch một số bài thơ tiêu biểu trong các sáng tác của ông. Nhìn chung, có thể thấy, tất cả những công trình nghiên cứu trên, phần lớn chỉ giới thiệu một cách sơ lƣợc vể tác giả, quê quán, các bút danh, chức danh và các sáng tác của ông, đồng thời trích dẫn một số bài thơ tiêu biểu để làm rõ 9 những nhận định mà ngƣời viết đánh giá về Bùi Văn Dị. Cho đến nay, chƣa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về tác giả, các sáng tác của ông. Đặc biệt là về vấn đề văn bản của Du Hiên thi thảo - một trong những sáng tác quan trọng thể hiện tâm tƣ, tình cảm của một nhà nho yêu nƣớc trong hoàn cảnh đất nƣớc bị thực dân Pháp xâm lƣợc. Đó cũng chính là một hạn chế đáng kể trong việc nghiên cứu nền văn học chữ Hán của Việt Nam thời trung đại nói chung và vấn đề nghiên cứu thi ca triều Nguyễn nói riêng. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài Khảo cứu văn bản Du Hiên thi thảo của Bùi Văn Dị làm luận văn nghiên cứu tốt nghiệp. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Khi nghiên cứu một vấn đề, việc xác định đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó góp phần định hƣớng cho đề tài trong suốt quá trình giải quyết vấn đề. Đối tƣợng nghiên cứu trong đề tài này là văn bản 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo đƣợc lƣu trữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm với 7 dị bản: A. 2554, A.355, A.1441, VHv.1127, VHv.1128, VHv.1993, VHv.248. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thân thế và sự nghiệp tác gia Hán Nôm Bùi Văn Dị và những bài thơ của ông đƣợc chép trong tập 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo, từ đó bƣớc đầu nghiên cứu giá trị thơ của Bùi Văn Dị trong nền thơ ca Việt Nam nói chung và thời Nguyễn nói riêng. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài này chúng tôi sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau, trong đó tiêu biểu nhƣ: Phƣơng pháp văn bản học nhằm sƣu tầm, phân loại, đối chiếu, so sánh để chọn ra bản đáng tin cậy nhất. Kết hợp một số phƣơng pháp phƣơng pháp hỗ trợ nhƣ thống kê định lƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu văn học sử và những thao tác 10 nghiên cứu chung trong nghiên cứu khoa học xã hội liên ngành,… để giải quyết các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài. 5. Những đóng góp của luận văn 1. Giới thiệu tóm tắt những thƣ mục, từ điển, các công trình nghiên cứu có đề cập đến vấn đề tác giả và các sáng tác của tác gia Hán Nôm Bùi Văn Dị. 2. Chỉ ra các vấn đề về văn bản học, giải quyết một phần các vấn đề đó, đóng góp cho công tác văn bản học Hán Nôm nói chung. 3. Nghiên cứu toàn diện về thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị. 4. Lần đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu mảng thơ chữ Hán của Tiến sĩ Bùi Văn Dị đƣợc chép trong 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo. 5. Thông qua khảo sát, thống kê và phân tích số liệu văn bản, luận văn bƣớc đầu tìm hiểu giá trị thơ của Tiến sĩ Bùi Văn Dị đƣợc chép trong Du Hiên thi thảo. 6. Gợi mở những vấn đề khoa học cho những nghiên cứu chuyên sâu về tác giả, các trƣớc tác của Bùi Văn Dị nói chung và tác phẩm Du hiên thi thảo nói riêng. 6. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 2 chƣơng: Chương 1: Bùi Văn Dị và tác phẩm Du Hiên thi thảo 1.1. Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị 1.1.1. Tiểu sử Bùi Văn Dị 1.1.2. Trƣớc tác của Bùi Văn Dị 1.2. Tổng quan tình hình văn bản Du Hiên thi thảo 11 - Mô tả các dị bản: Tác phẩm 輶 軒 詩 草 Du Hiên thi thảo ở Viện nghiên cứu Hán Nôm có các dị bản mang kí hiệu: A. 2554, A.355, A.1441, VHv.1127, VHv.1128, VHv.1993, VHv.248. - Đối chiếu, so sánh giữa các dị bản. 1.3. Chọn bản đáng tin cậy để công bố 1.4. Hoàn cảnh sáng tác và niên đại tác phẩm * Tiểu kết Chương 2: Tìm hiểu giá trị tác phẩm Du Hiên thi thảo 2.1. Giá trị về nội dung của tác phẩm 2.1.1. Du Hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu nƣớc, thƣơng dân và y chí căm thù giặc của Bùi Văn Dị 2.1.2. Du Hiên thi thảo là lời ca về tình yêu thiên nhiên của nhà thơ 2.1.3. Giá trị sử liệu và những hạn chế trong nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm 2.2. Giá trị nghệ thuật của Du Hiên thi thảo 2.2.1. Thể thơ 2.2.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 2.2.3. Nghệ thuật sử dụng điển tích, điển cố *Tiểu kết PHẦN KẾT LUẬN PHỤ LỤC: - Phiên âm và dịch nghĩa một số bài thơ trong Du hiên thi thảo 輶 軒 詩 草. - Nguyên bản chữ Hán, bản photocopy tác phẩm Du hiên thi thảo 輶 軒 詩 草, bản kí hiệu VHv.1128 12 Chương 1 BÙI VĂN DỊ VÀ TÁC PHẨM DU HIÊN THI THẢO 1.1. Thân thế và sự nghiệp của Bùi Văn Dị 1.1.1. Tiểu sử Bùi Văn Dị Tên tự, tên hiệu và quê quán Bùi Văn Dị 裴文異(1833 - 1895), còn đƣợc gọi là Bùi Dị 裴異, tự: Ân Niên 殷年, các tên hiệu của ông bao gồm: Tốn Am 遜 庵, Du Hiên 輶 軒, Hải Nông 海農, Châu Giang 珠江… Ông là nhà thơ, nhà giáo và là một đại thần trải 7 đời vua Nguyễn: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái trong lịch sử Việt Nam. Trƣớc đây, có một thời, danh tính và quê quán của tác giả còn đặt ra nhiều câu hỏi cho các nhà nghiên cứu. Nhân dân địa phƣơng chỉ biết có ông sứ Dị, còn ở các nơi khác, ngƣời ta thƣờng gọi ông là Bùi Dị, Bùi tƣớng. Trong chính sử triều Nguyễn, chỉ thấy có ghi là Bùi Ân Niên. Các sách về khoa cử chép là Bùi Văn Dị. Trong thơ của tác giả có chỗ đề là Tốn Am, Có khi kí là Châu Giang, có khi ghi là Hải Nông…Về quê quán, có chỗ ghi là huyện Kim Bảng, có chỗ ghi là huyện Thanh Liêm. Còn cái tên làng Châu Cầu có chăng chỉ còn lại trong kí ức của những ngƣời già cả, các bậc tiền bối. Thực ra, Bùi Văn Dị mới là tên chính thức, tên gốc của ông. Khi ra làm quan, vì kiêng quốc húy nên mới dùng tên chữ Ân Niên làm danh xƣng (tên này do vua Tự Đức đặt cho ông). Vì vậy, trong chính sử triều Nguyễn mới nhất loạt đều ghi theo tên này. Việc ghi các tên tự của Bùi Văn Dị cũng luôn gắn liền với đức tính và các chặng đƣờng trong cuộc đời của ông. Vốn là con ngƣời luôn khiêm tốn, và trong tâm niệm, ông cũng luôn đề cao, coi trọng đức tính này nên ông lấy tên hiệu là Tốn Am. Sinh ra ở làng Châu Cầu, bên cạnh bờ sông Châu hiền hòa, nên ông lấy tên hiệu khác là Châu Giang. Tên hiệu này thể hiện tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hƣơng của Bùi Văn Dị. Ngƣời dân nơi đây vẫn 13 gọi ông với cái tên thân thuộc “ông sứ Châu Cầu”. Khi đất nƣớc đã bị thực dân Pháp xâm lƣợc, ông bỏ quan, tỵ địa ở xã Hải Quật (huyện Yên Định, Thanh hóa). Ở đây, ông cày cấy sinh nhai, vì vậy còn có hiệu là Hải Nông. Làng Châu Cầu xƣa kia nằm trên đƣờng thiên l‎í từ Huế ra Thăng Long, là nơi giao nhau của ba con sông: sông Đáy, sông Nhuệ và sông Châu, lại là nơi địa đầu của hai huyện là Kim Bảng và Thanh Liêm. Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, đất này đƣợc chuyển đổi thuộc huyện Thanh Liêm, sau đổi thành đất của thị xã Phủ Lý, nay là đất của thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam. Do vậy khi tìm hiểu về quê quán và tên tự, tên hiệu của Bùi Văn Dị đã gây ra không ít những băn khoăn cho những ngƣời làm công tác nghiên cứu. Nguồn gốc gia đình, dòng họ Tổ tiên của họ Bùi, quên gốc ở xã Triều Đông, huyện Thƣợng Phúc, phủ Thƣờng Tín (nay thuộc thành phố Hà Nội). Đến cuối thời Lê mới chuyển về Hà Nam. Đến Bùi Văn Dị đã đƣợc sáu đời. Tuy không thuộc dòng dõi danh gia thế phiệt, song đến đời thứ hai, khi ông rời về Châu Cầu, trong dòng họ đã có ngƣời giữ một chức quan võ nhỏ dƣới thời Lê. Đến đời thứ 3 dƣới triều Nguyễn, đã có ngƣời làm huyện thừa. Các đời về sau, trong dòng họ đều có ngƣời theo con đƣờng Nho nghiệp. Cha của Bùi Văn Dị là Bùi Văn Hy đã đỗ tú tài. Thời niên thiếu Bùi Văn Dị sinh ngày 17 tháng 5 năm 1833 (tức ngày 28 tháng 3 năm Qu‎y Tỵ), tại quên nhà. Ngay từ thủa thiếu thời, chàng thanh niên họ Bùi này đã bộc lộ rõ tƣ chất thông minh, trí nhớ tốt. Năm 13 tuổi đã vƣợt qua đƣợc kỳ thi khảo hàng xứ để lều chõng đi dự thi Hƣơng. Những mẫu chuyện về sự thông minh, hiếu học của cậu bé họ Bùi còn đƣợc các cụ trong làng kể cho con cháu nghe nhƣ một tấm gƣơng sáng về đạo hiếu học của quê nhà. Đỗ đạt và chặng đường làm quan 14 Hai khoa thi năm 1850 và 1852, Bùi Văn Dị đều đỗ Tú tài khi ông mới 18 và 20 tuổi. Đến năm 1855, thi đỗ Cử nhân. Năm 1865, mới vào Huế dự thi Hội, đạt học vị Phó bảng cùng ngƣời em họ là Bùi Văn Quế. Ngƣời đƣơng thời có đôi câu đối mừng họ Bùi còn đƣợc truyền tụng đến ngày nay: 裴氏同科双副榜 Bùi thị đồng khoa song Phó bảng 珠球壹日两榮歸 Châu Cầu nhất nhật lƣỡng vinh quy Họ Bùi hai người cùng đỗ phó bảng một khoa Làng Châu Cầu, một ngày đón vinh quy hai cuộc. Câu đối trực tiếp biểu dƣơng một trƣờng hợp hiếm có, hai anh em thúc bá cùng đỗ đại khoa một lần. Dù Phó bảng cũng là bậc đại khoa, xong theo thể chế khoa cử đƣơng thời, Phó bảng chƣa phải là Tiến sĩ, chƣa đƣợc hƣởng lệ “vinh quy” và các ân điển khác. Trong câu đối của ngƣời xƣa ban tặng có phần ƣu ái. Nhƣng thực chất lại đúng nhƣ sự thật. Trƣờng hợp thi cử của Bùi Văn Dị là một uẩn khúc. Qua kì thi Hội, ông đã đƣợc “trúng cách”, tức là đỗ loại chính thức. Bình thƣờng, theo nguyên tắc thi Hội, đã đạt trúng cách thì khi vào thi Đình nhất thiết sẽ phải đỗ Tiến sĩ, chỉ trừ những trƣờng hợp có sai phạm nghiêm trọng phải hủy bỏ toàn bộ kết quả của các kì thi trƣớc đó. Ở đây, Bùi Văn Dị đƣợc công nhận là đậu Phó bảng mà không cho đỗ Tiến sĩ. Đây là một trƣờng hợp hy hữu chƣa từng có trong lịch sử thi cử triều Nguyễn. Mãi gần đến cuối đời, nỗi oan khuất của ông mới đƣợc sáng tỏ, điều này chúng ta sẽ có dịp nói đến ở phần sau. Sau khi thi đỗ, ông lần lƣợt đƣợc bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang. Sau một thời gian về quê cƣ tang, năm 1771, ông đƣợc tiến cử vào Nội các. Ngay khi ông mới ra làm quan, năm 1867, quan Pháp đã đánh chiếm đƣợc cả Nam kỳ. Đến năm 1873, lại kiếm cớ gây hấn xâm lƣợc Bắc kỳ. Tự Đức chọn một số quan chức ngƣời Bắc nhƣ Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Thƣợng Phiên, Bùi Văn Dị… vốn quen thuộc với phong thổ đất Bắc phối hợp với các quan lại 15 địa phƣơng để giải quyết các vụ rắc rối. Lúc này, quân Pháp lực lƣợng còn mỏng, không dám manh động. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, sau hiệp ƣớc Giáp Tuất (còn gọi là hiệp ƣớc Philastre), quân Pháp buộc phải rút quân đội ra khỏi bốn tỉnh Bắc kỳ. Bùi Văn Dị đƣợc cử làm Án sát Ninh Bình, cùng với Bố chánh Đặng Văn Huấn tiếp quản tỉnh này. Năm sau, tức năm 1875, ông đƣợc rút về triều và tăng chức Quang lộc tự khanh, lại sung vào Nội các. Năm ấy, mở thi Hội, thi Đình, Nguyễn Tƣ Giản, Nguyễn Văn Tƣờng đƣợc cử làm Độc quyển. Trần Văn Chuẩn cùng Bùi Văn Dị làm Duyệt quyển. Khoa thi đó chọn đƣợc 11 Tiến sĩ. Trong đó, có hai ngƣời sau này là những nghĩa sĩ nổi tiếng của phong trào Cần vƣơng là Tống Duy Tân và Vũ Hữu Lợi (con rễ thứ hai của Bùi Văn Dị). Đến năm 1876, đến kì tuế cống nhà Thanh, tuy chức hàm của ông lúc này còn thấp, song do nhiều năm làm ở Nội các, nhiều lần tháp tùng vua Tự Đức đi du ngoạn, cùng nhà vua xƣớng họa, vua Tự Đức biết tài thơ văn của ông nên thăng chức Thị lang Bộ Lễ, đƣợc cử làm Chánh sứ cùng hai Phó sứ là Lâm Hoàng và Ngô Cát đi sứ Yên Kinh. Trong chuyến đi này, Chánh sứ Bùi Văn Dị đã gây đƣợc sự khâm phục của một số quan lại nhà Thanh. Viên quan nhị phẩm Nghê Mậu Lễ đƣợc cử đi hộ cống đã nhận xét: “Sứ thần Việt Nam là Tôn bá Châu Giang – Bùi Văn Dị là một con ngƣời thung dung, phong nhã khó ai bằng. Ngoài lúc bút đàm ra, nghe giọng nói thanh cao, biết rằng sự am hiểu về lễ, nhạc đã đạt đến độ uẩn khúc tinh tƣờng” [7, tr14]. Thời gian đoàn sứ bộ đi vừa hết hai mƣơi tháng, cuối năm 1878, ông lại sung công việc Nội các, đƣợc cử làm Duyệt quyển cùng với Phạm Thận Duật, Lê Điều làm Độc quyển thi Hội, thi Đình. Tự Đức nhận thấy Bùi Văn Dị là ngƣời có thực tài nhƣng mãi quanh quẩn với việc bút nghiên, từ hàn. Do vậy, năm đó, ông vẫn có chân trong Nội các nhƣng đồng thời ông đƣợc giao thêm chức Tham tri Bộ Lại. Năm 1881, ông đƣợc tách hẳn sang quản lí Nha thƣơng 16 bạc – một cơ quan chuyên giao thiệp với Pháp và trông coi các thuyền buôn qua lại. Năm 1882, quân Pháp lại mở rộng đánh chiếm Bắc kỳ. Đầu tiên, chúng đánh chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tử tiết cùng thành. Bùi Văn Dị đã dâng sớ cực lực phản đối xu hƣớng nhân nhƣợng Pháp và thể hiện chí khí quyết tâm, cƣơng quyết đánh Pháp. Những tâm tƣ, tình cảm của ông trong thời gian này thể hiện rất rõ trong tập thơ Du Hiên thi thảo. Song phải đến khi giữ chức Khâm sai Phó kinh lƣợc sứ Bắc kỳ, dẫn một đội quân nhỏ đi kiểm tra, đôn đốc tình hình quan binh ở các tỉnh, phối hợp tổ chức phòng thủ. Ngựa ông rong ruổi ở nhiều tỉnh Trung du và đồng bằng xung quanh Hà Nội, từ Ninh Bình, Nam Định, Hải Dƣơng, Hƣng Yên đến Bắc Ninh, Sơn Tây. Ông đã trực tiếp tham ra trận đánh trong hai ngày 27 và 28 tháng 3 năm 1883, chặn quân Pháp lấn ra ngoại vi Hà Nội. Khi quân Pháp ở Hà Nội, chúng đã chia một bộ phận đánh chiếm Nam Định, Bùi Ân Niên cùng với Trƣơng Quang Đản – Tổng đốc Bắc Ninh chọn vài đạo quân tinh nhuệ đi ứng cứu Nam Định. Trong trận giao tranh này, ông cùng với quân lính đã chiến đấu hết sức anh dũng, lập đƣợc chiến công và giết đƣợc gần ba chục tên địch. Sau trận này, Bùi Văn Dị đƣợc thƣởng quân công và một đồng tiền vàng. Đồng thời, đƣợc cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh. Tháng 10, ông có chiếu đƣợc cử đi làm tổng đốc Ninh – Thái (Bắc Ninh – Thái Nguyên), nhƣng một phần vì ông mang bệnh nặng, một phần vì phải bãi binh, ông xin từ dịch về quê dƣỡng bệnh. Cơn bạo bệnh đó đến với ông không chỉ vì phải lăn lộn, vất vả ngoài chiến trận mà còn vì một nỗi mất mát, đau thƣơng quá lớn, đó là việc vua Tự Đức đột ngột mất đi giữa lúc đất nƣớc đang trong cơn rối loạn, nguy cấp. Trong triều đình diễn ra cảnh 四月三王 “tứ nguyệt tam vƣơng” (Bốn tháng ba vua – Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc). Pháp nhân cơ hội đất nƣớc rối ren đánh úp vào 17 Thuận An, uy hiếp kinh đô Huế. Triều đình phải kí hiệp ƣớc Harmand với những điều khoản vô cùng nghiệt ngã. Theo hiệp ƣớc này, Nam kỳ là thuộc địa, Trung kỳ và Bắc kỳ là sứ bảo hộ của thực dân Pháp. Nam triều phải gọi về toàn bộ số quân đã gửi ra Bắc Kỳ và đình chỉ mọi hoạt động quân sự. Việc này đã khiến cho ông suy sụp tinh thần đến phát bệnh. Ông đã lấy cớ đó để từ chối nhận Tổng đốc Ninh – Thái. Tƣởng nhƣ ông đã về quê ở ẩn, tránh xa mọi thế sự, nhƣng tấm lòng ƣu thời mẫn thế của một nhà Nho vẫn canh cánh bên lòng tấm lòng với nƣớc non. Trong Đại Nam thực lục còn ghi chép rõ: Năm đầu Kiến Phúc (1884), ông đƣợc triệu về kinh làm Tả Tham tri Bộ Lại. Khi mở kinh diên ở điện Vũ Hiển, Nguyễn Văn Tƣờng, Phạm Thận Duật sung làm Giảng quan, Bùi Văn Dị sung làm “nhật Giảng quan” (thƣờng trực giảng dạy hàng ngày) để giảng dạy sách vở cho vua Kiến Phúc [7, tr21]. Khi vua Hàm Nghi lên ngôi, ngày 6 tháng 6 năm 1884, ông làm Tả Tham tri Bộ Lại, kiêm sung Biện sự vụ Viện Cơ mật vì đƣợc coi là “ngƣời am luyện”. [7, tr22]. Đáng lƣu ý, đây là thời gian mà phe chủ chiến trong triều đình Huế, chủ chốt là bộ ba nhân vật trong Viện cơ mật là Nguyễn Văn Tƣờng, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật chia nhau cầm đầu các bộ quan trọng trong triều đình đó là Bộ Lại (tổ chức), Bộ Binh (quân sự), và bộ Hộ (kinh tế), đang tập hợp lực lƣợng để kháng chiến. Chủ yếu là các quan chức văn võ đã từng phen sát cánh chiến đấu chống phỉ Thanh, đánh giặc Pháp ở vùng trung du, thƣợng du Bắc kỳ nhƣ Trƣơng Quang Đản, Trần Xuân Soạn...Chính Bùi Văn Dị cũng ở trong số này, vì ông vừa làm Tham tri Bộ Lại và nằm trong Viện Cơ mật. Khi thực dân Pháp xâm chiếm kinh thành, cũng nhiều sĩ phu đƣơng thời, Bùi Văn Dị cũng chọn con đƣờng lui về ở ẩn. Thời gian này, ông chọn lui về xã Hải Quật, một xã hẻo lánh ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 1877, một bƣớc ngoặt lớn lại đến với ông. Ông đƣợc gọi trở về kinh thành trong tâm 18 trạng rối bời. Vốn biết ông là ngƣời ngay thẳng và có văn học, vua Đồng Khánh muốn trọng dụng ông. Từ chức quan Tham tri Bộ Lại, Ông đƣợc chuyển sang làm Tham tri Bộ Binh, kiêm Thƣơng tá Viện Cơ mật, đồng thời vẫn là Kinh diên Giảng quan. Ông lƣờng trƣớc là sẽ không ổn với chính quyền bảo hộ, vì một thời ông đã là đối thủ của họ. Vì vậy ông chỉ xin một công việc nào đó ở sử quán. Ông đã trình bày nguyện vọng với vua Đồng Khánh, nhƣng vua không nghe và vẫn để ông nắm quyền ở Bộ Binh. Quả đúng nhƣ ông tiên liệu, Thống sứ Bắc kỳ can thiệp ngay với Nam triều: “không nên dùng lại Ân Niên, yêu cầu cho về hƣu”[7, tr26]. Sự can thiệp này, một phần do quá khứ của ông, một phần cũng có thể vì sự vụ con rể của ông là Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi mƣu đồ dấy nghĩa Cần vƣơng ở Nam Định, bị kết án sử tử. Nam triều lúc đó không chịu tuân theo triệt để những yêu cầu của Pháp, vẫn giữ Bùi Văn Dị ở triều là một ngoại lệ duy nhất. Điều đó đã thể hiện sự kính trọng ông của triều đình Nam triều. Tuy buộc phải tạm điều ông sang Nội các, nhƣng chỉ sang đầu năm sau, ông đã đƣợc thăng quyền Thƣợng thƣ Bộ Lễ, kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán, cùng biên soạn cuốn Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ (dƣới triều vua Tự Đức) [7, tr26]. Đến khi vua Thành Thái lên ngôi, ông lại càng đƣợc trọng dụng. Ông không chỉ làm Kinh diên Giảng quan bình thƣờng mà là Phụ đạo đại thần. Và trong bốn năm sau, ông đã lần lƣợt thăng các chức Lại bộ Thƣợng thƣ, Phụ chính đại thần. Trong dịp này, ông đề nghị xét lại học vị Phó bảng trƣớc đây đối với ông là xử oan, không đúng với thể lệ hiện hành. Vì vậy, ông đƣợc đặc cách truy phục học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1886). Dù rằng, việc yêu cầu sửa sai để giữ lẽ công bằng là một việc làm chính đáng, song dù sao cũng gây ra dƣ luận xôn xao trong giới sĩ phu, nhất là trong kinh thành Huế, cho đó là một trƣờng hợp xƣa này chƣa từng có trong lịch sử. Một số nhà Nho đƣơng thời chê trách việc làm của ông, trong đó có Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến - một trong những ngƣời bạn thân của ông. Họ chê trách ông đã không giữ đƣợc cái chí cũ về ở ẩn, mà cuối đời còn ham cái 19 danh vị hão. Lời trách cứ ấy cũng là tâm lí quen thuộc của các nhà Nho có khí tiết – vẫn rất đáng trân trọng. Vì các nhà Nho đƣơng thời vẫn coi trọng và lấy cách xử sự của Bá Di, Thúc Tề làm chuẩn mực. Xong, đối với chúng ta, từ cái nhìn thời đại khác nhau, chúng ta không nên có cái nhìn khắt khe, nên có sự nhìn nhận và đánh giá công bằng hơn. Chúng ta nên căn cứ vào những hành động cụ thể để đánh giá và nhận xét. Trong lòng ông luôn cánh cánh tấm lòng với non nƣớc. Ông quay trở lại quan trƣờng không phải vì mục đích vinh thân, phì gia, mà vẫn mong có thể góp chút sức mọn để rửa nhục cho đất nƣớc. Tâm sự này, chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu qua những dòng giãi bày trong từng trang thơ của ông. Chí khí của ngƣời xƣa, hậu thế không dám lạm bàn, nhƣng cũng có thể thấy rằng, khác với Nguyễn Khuyến. Tuy cùng một thời, nhƣng những ngày tháng cuối đời, ông Tam nguyên Yên Đổ đã có lúc kêu lên thật tuyệt vọng 道喪我安歸! “Đạo táng, ngã an quy” (Đạo mất rồi, ta về đâu đây). Còn đối với Bùi Văn Dị, ông già bến Châu Giang vẫn có niềm tin rằng 斯文猶未喪“Tƣ văn do vị táng” (Cái văn này còn chƣa mất hẳn). Tức là ông vẫn tin vào nền văn hóa truyền thống. Ông tin rằng, gặp con mƣa gió, cuồng phong, cái tƣ văn, cái oai linh của tổ tiên chỉ có thể bị che lấp, song nó chƣa bao giờ bị tuyệt duyệt. Do vậy, ông vẫn cam tâm, nhận mình là ngƣời trồng hoa, trồng hoa thật và cũng là ngƣời vun trồng tinh hoa của con ngƣời. Riêng việc ông là thầy dạy học cho vua Thành Thái từ lúc còn ở tiềm cho đến lúc trƣởng thành, trở thành một ông vua có chí hƣớng cứu nƣớc đó chẳng đáng ghi nhận là một việc làm vun trồng tinh hoa của dân tộc đó sao? Số phận đã gắn đời ông với gần 20 năm dƣới triều vua Tự Đức, mà hơn nửa thời gian đó, ông là cận thần thân tín, năm lần đƣợc giao trọng trách đảm nhiệm công việc ở Nội các, lại là một bạn thơ tâm đầu ý hợp của vị vua yêu văn học này. Về cuối đời, khi sức đã đuối, suốt tám năm trời làm Phó Tổng tài Quốc 20 sử quán chuyên trách bộ Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ (về triều Tự Đức) [7, tr29], đồng thời trong suốt ba năm đã dành thời gian biên tập, hoàn chỉnh bộ thơ sử của vị Tiên đế ấy. Đến năm 1890, ông đã xin từ chức Thƣợng thƣ Bộ Lại và Phụ chính đại thần, chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần, kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán. Đến năm 1894, ông hoàn thành Đại Nam thực lục đệ kỷ tứ. Trong lòng nhƣ trút đi bao gánh nặng. Công việc vừa hoàn thành thì ngày 22 tháng 9 năm 1895, ông mất tại Quốc sử quán. [7, tr27] Hơn sáu mƣơi tuổi, cuộc đời lăn lộn với việc nƣớc. Tấm lòng canh cánh cùng chính sự, tuổi đã cao, sức đã kiệt. Vậy nhƣng, ông sứ Châu Cầu vẫn miệt mài làm việc, vẫn cố gắng vun trồng tinh hoa cho đời cho đến hơi thở cuối cùng vì ông vẫn tin rằng, oai linh của tổ tiên, cái tƣ văn chƣa hề mất hẳn. Những việc làm và lẽ sống đó của ông thật đáng cho chúng ta trân trọng 1.1.2. Trước tác của Bùi Văn Dị Bùi Văn Dị đƣợc biết đến là một vị Tiến sĩ có tên tuổi, một nhà chí sĩ yêu nƣớc của Việt Nam dƣới triều Nguyễn, đồng thời là một tấm gƣơng sáng về đạo hiếu học của đất Hà Nam. Ông còn là một nhà thơ, một nhà văn tài hoa uyên bác. Các sáng tác của Bùi Văn Dị luôn gắn liền với các chặng đƣờng của lịch sử dân tộc. Trong con ngƣời ông, luôn tồn tại hai nửa khác nhau, một con ngƣời ƣu thời mẫn thế, luôn trăn trở trƣớc mọi thay đổi của thời cuộc, trƣớc những biến động của chính sự. Nhƣng bên cạnh đó là một tâm hồn rất tinh tế, nhạy cảm. Những suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, những thay đổi trƣớc cảnh vật, đất trời, thời cuộc đều đƣợc ngòi bút giàu cảm xúc ghi lại một cách tinh tế. Cả chặng đƣờng đời của Bùi Văn Dị, bên cạnh con đƣờng hoạn lộ, quan trƣờng cũng chính là con đƣờng sáng tác thơ văn không mệt mỏi. Thật đúng nhƣ nhận xét khái quát về nhân vật này trong Từ điển Văn học (bộ mới): “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác trên mọi nẻo đƣờng công cán, trong nhiều cƣơng vị, trong nhiều quan chức khác 21 nhau. Ở ông, con ngƣời chức năng, con ngƣời phận vị không hề che lấp đi con ngƣời thi nhân…” [54, tr166]. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ. Cho đến nay, theo tìm hiểu của chúng, các sáng tác cả ông hầu hết là các trƣớc tác thơ văn chữ Hán. Cụ thể nhƣ sau: 1. TỐN AM THI SAO 遜庵詩抄 Tốn Am thi sao là tập thơ bao trùm cả đời thơ của tác giả. Tập thơ bao gồm những bài đƣợc viết từ thời kì thi cử, thời kì làm quan, cho đến những năm tháng cuối đời. Khoảng từ năm 1850 đến 1894 (không kể thời kì đi sứ và thời kì cầm quân đánh pháp). Tốn Am thi sao đƣợc lƣu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm bao gồm ba bản in mang kí hiệu: VHv.701, VHv.702, A.1428: bao gồm 186 trang, khổ giấy 26 x 16; và một bản viết tay mang kí hiệu A.196: bao gồm 166 trang, khổ giấy 31.5 x 22.5. Trong tập thơ này, tác giả lấy tên hiệu là Châu Giang 珠 江 và Hải Nông 海 農, sáng tác và viết lời tựa năm Thành Thái Giáp Ngọ (1894). Hai con trai là Hƣớng Thành 向 誠 tự Cơ Thiện 幾 善, và Hƣớng Lập 向立 tự Nhu Trai 懦 齋 hiệu chỉnh. Tuy Lí Quận Vƣơng, 綏 理 郡 王 hiệu Vi Dã 葦 野 bình và đề từ năm Thành Thái Quý Tị (1893). Văn Đào Tử 文陶子 viết lời bình bằng son đỏ. Kì Sơn tàng bản. Tập thơ này bao gồm 185 bài, đƣợc chia làm 4 quyển, đại thể, bốn quyển đó ứng với các chặng đƣờng đời của tác giả: Quyển 1: 54 bài, đƣợc làm trong khoảng thời gian thi cử và bƣớc đầu làm quan ở tỉnh (1850 - 1871) Quyển 2: 40 bài ứng chế, họa vần với vua Tự Đức vào khoảng thời gian làm việc ở Viện Hàn lâm và tòa Nội các ( 1871 - 1883) Quyển 3: 48 bài, đƣợc làm trong thời gian tị địa ở Thanh Hóa và trở lại làm quan dƣới triều Đồng Khánh. (1885 - 1888). 22
- Xem thêm -