Khả năng xử lý môi trường trong bể nuôi tôm sú (penaeus monodon) có bổ sung vi khuẩn hữu ích

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THANH TÂM KHẢ NĂNG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG BỂ NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) CÓ BỔ SUNG VI KHUẨN HỮU ÍCH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN 2009 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN THANH TÂM KHẢ NĂNG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG BỂ NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon) CÓ BỔ SUNG VI KHUẨN HỮU ÍCH LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ths. PHẠM THỊ TUYẾT NGÂN 2009 2 LỜI CẢM TẠ Tôi vô cùng biết ơn cha mẹ, anh chị và những người thân của tôi đã chia sẽ, động viên và dành những gì tốt đẹp nhất cho tôi có được thành công như ngày hôm nay. Xin trân trọng gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Phạm Thị Tuyết Ngân đã dành thời gian tận tình hướng dẫn, động viên, cung cấp nhiều kiến thức quý báo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn . Xin cám ơn thầy Trương Quốc Phú, thầy Vũ Ngọc Út, thầy Lê Minh Trường phòng thí nghiệm phân tích chất lượng nước, Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng – Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện, tận tình chỉ bảo tôi trong việc phân tích các chỉ tiêu thuỷ lý, hóa trong luận văn này. Cảm ơn Thư viện khoa thủy sản, Trung tâm học liệu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian viết luận văn nay. Xin chân thành cảm ơn! 3 TÓM TẮT Sự phát triển nghề nuôi tôm công nghiệp trong nhiều năm qua đã tạo áp lực lên môi trường nước và sự tự ô nhiễm, nó đã góp phần phá hủy hệ sinh thái ven biển, nghề nuôi tôm đang đương đầu với những vấn đề dịch bệnh do nước thải từ các ao nuôi thâm canh đổ ra với hàm lượng dinh dưỡng cao. Nuôi tôm cá theo hướng bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng, vi sinh đóng vai trò quan trọng trong xu thế này. Tuy nhiên hiện nay còn quá ích thông tin về hiệu quả của vi khuẩn hữu ích. Vì vậy mà đề tài: “Khả năng xử lý môi trường trong bể nuôi tôm sú (Penaeus monodon) có bổ sung vi khuẩn hữu ích” được thực hiện nhằm cung cấp thông tin và đưa ra giải pháp quản lý môi trường hiệu quả các vật chất dinh dưỡng hữu cơ tích lũy trong quá trình nuôi. Một thí nghiệm được bố trí trong 12 bể 500L nhằm đánh giá hiệu quả xử lý nước của vi khuẩn Bacillus đã dược thực hiện tại trại cua Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ. Thí nghiệm bao gồm 4 nghiệm thức với 3 lần lặp lại. Trong đó 3 nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn hữu ích Bacillus được phân lập và chọn lọc từ ao nuôi tôm sú và một nghiệm thức đối chứng (DC) không bổ sung vi khuẩn. Các yếu tố theo dõi chủ yếu TAN, NO2, NO3, TSS, COD và một số yếu tố khác. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quá trình tích lũy vật chất hữu cơ ở những bể có vi khuẩn giảm rõ rệt, TSS (363 – 174), TN bùn (1,44 – 0,05), COD (12,17 ± 4)…. Ngoài ra tỉ lệ sống (94,87 ± 2,1), tốc độ tăng trưởng (8,99 ± 1,5) của tôm trong các nghiệm thức có bổ sung vi khuẩn cũng cao hơn nhiều so với nghiệm thức đối chứng đặc biệt là nghiệm thức có bổ sung Bacillus 9 (B_9). Như vậy hiệu quả xử lý nước của vi khuẩn hữu ích đã đựơc khẳng định nhất là nghiệm thức Bacillus 9 trong thí nghiệm này. 4 MỤC LỤC LỜI CẢM TẠ............................................................................................................... i TÓM TẮT ................................................................................................................... ii MỤC LỤC .................................................................................................................. iii DANH SÁCH BẢNG ..........................................................................................v DANH SÁCH HÌNH...........................................................................................vi Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ .......................................................................................... 1 Mục tiêu ...........................................................................................................2 Nội dung...........................................................................................................2 Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ........................................................................ 3 2. 1 TÌNH HÌNH NUÔI TÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM ..................3 2.1.1 Trên thế giới.........................................................................................3 2.1.2 Việt Nam..............................................................................................4 2.1.3 Đồng bằng sông Cửu Long...................................................................4 2.2 Những giải pháp và vấn đề môi trường ......................................................5 2.2.2 Giải pháp hóa học.................................................................................5 2.2.3 Giải pháp sinh học................................................................................5 2. 3 BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG. ................................6 2.3 .1 Nhiệt độ...............................................................................................6 2.3.2 pH .......................................................................................................6 2.3.3 TSS ......................................................................................................7 2.4.6 Oxy hòa tan (DO – Dissolved Oxygen) ................................................7 2.3.5 Ammonia tổng cộng(TAN - Total Ammonia Nitrogen) ........................8 2.3.6 Nitrite (NO2-)........................................................................................8 2. 3.7 TN (Total Nitrogen) ............................................................................9 2.3.8 PO43- và TP (Total Phosphorus)..........................................................9 2.3.9 Chất độc từ đáy ao (H2S và NH3).........................................................9 2.4. BIẾN ĐỘNG CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẤT.................................10 2.4.1. Đặc tính môi trường đất trong ao nuôi tôm .......................................10 2.4.2. Đặc tính lớp bùn đáy trong ao tôm.....................................................10 Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................. 13 3. 1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU .........................................13 3.1.1 Thời gian nghiên cứu..........................................................................13 3.1.2 Địa điểm nghiên cứu ..........................................................................13 3. 2 Phương pháp nghiên cứu..........................................................................13 3.2.1 Vật liệu và phương pháp bố trí thí nghiệm..........................................13 3. 3 Phương pháp nuôi tăng sinh vi khuẩn.......................................................14 3. 4 Cách cho ăn và quản lý tôm nuôi thí nghiệm............................................14 3. 5 Nhịp thu mẫu ...........................................................................................14 3. 6 Phương pháp phân tích chất lựơng nước (Andrew, 2005).........................14 3.8 Xử lý số liệu .............................................................................................16 Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN............................................................... 17 5.1 CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG.................................................................17 5.1.1 Nhiệt độ: ............................................................................................17 5 4.1.2 pH ......................................................................................................17 4.1.3 DO .....................................................................................................18 4.1.4 COD...................................................................................................18 4.1.5 TSS ....................................................................................................19 4.1.6 H2S.....................................................................................................20 4.1.7 NO2 ....................................................................................................20 4.1.8 NO3 ....................................................................................................21 4.1.9 TAN ...................................................................................................22 4.1.10 TN NƯỚC........................................................................................22 4.1.11 TP NƯỚC ........................................................................................23 4.1.12 TN BÙN...........................................................................................24 4.1.13 TP BÙN...............................................................................................24 4.2.1 Đánh giá tỉ lệ sống và tỉ lệ tăng trưởng của tôm .....................................25 Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ................................................................. 27 5.1 Kết luận ....................................................................................................27 5.2 Đề xuất .....................................................................................................27 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 28 PHỤ LỤC .......................................................................................................... 31 Phụ lục 1: Nhiệt độ .........................................................................................31 Phụ lục 2: pH..................................................................................................31 Phụ lục 3: DO.................................................................................................31 Phụ lục 4: COD ..............................................................................................31 Phụ lục 5: TSS................................................................................................32 Phụ lục 6: H2S ................................................................................................32 Phụ lục 7: NO2................................................................................................33 Phụ lục 8: NO3................................................................................................33 Phụ lục 9: TAN...............................................................................................33 Phụ lục 10: TN NƯỚC ...................................................................................34 Phụ lục 11: TP nước .......................................................................................34 Phụ lục 12: TN bùn.........................................................................................34 Phụ lục 13: TP bùn .........................................................................................34 Phụ lục 14: Tỉ lệ sống .....................................................................................34 Phụ lục 15: Tỉ lệ tăng trưởng ..........................................................................35 6 DANH SÁCH BẢNG Bảng 3.1 Phương pháp thu và phân tích các chỉ tiêu .......................................16 Bảng 4.1 Tỉ lệ sống.........................................................................................25 Bảng 4.2 Tỉ lệ sinh trưởng ..............................................................................26 7 DANH SÁCH HÌNH Hình 4.1 Biến động nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm ..........................17 Hình 4.2 Biến động pH trong suốt quá trình thí nghiệm ..................................18 Hình 4.3 Biến động DO trong suốt quá trình thí nghiệm .................................18 Hình 4.4 Biến động COD trong suốt quá trình thí nghiệm...............................19 Hình 4.5 Biến động TSS trong suốt quá trình thí nghiệm ................................20 Hình 4.6 Biến động TSS trong suốt quá trình thí nghiệm ................................20 Hình 4.7 Biến động NO2 trong suốt quá trình thí nghiệm................................21 Hình 4.8 Biến động NO3 trong suốt quá trình thí nghiệm................................21 Hình 4.9 Biến động TAN trong suốt quá trình thí nghiệm...............................22 Hình 4.10 Biến động TN nước trong suốt quá trình thí nghiệm.......................23 Hình 4.11 Biến động TP nước trong suốt quá trình thí nghiệm .......................23 Hình 4.12 Biến động TN bùn trong suốt quá trình thí nghiệm.........................24 Hình 4.13 Biến động TP bùn trong suốt quá trình thí nghiệm .........................25 8 Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, thủy sản đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Sản lượng thủy sản không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn xuất khẩu sang thị trường các nước như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Năm 2007, xuất khẩu thủy sản nước ta đạt 3,7 tỷ USD, vượt 2,78% so với kế hoạch, tăng 10,45% so với năm 2006 (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2007). Trong đó tôm sú (Penaeus monodon) là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực, chiếm 39,9% tổng sản phẩm thủy sản xuất khẩu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), kế hoạch năm 2009, cả nước sẽ giảm 35.000 ha diện tích nuôi trồng thuỷ sản, xuống còn 1.065.000 ha với sản lượng ước đạt là 2,3 triệu tấn; trong đó, cá tra: 1,2 triệu tấn; tôm sú: 280.000 tấn; tuy nhiên so với năm 2000 diện tích này vẫn tăng khỏang 10 lần và dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh trong những năm sắp tới (www.fistenet.gov.vn). Để tăng năng xuất và lợi nhuận, người nuôi đã không ngừng tăng mật độ thả giống, sử dụng thuốc và hóa chất trong phòng và trị bệnh chưa hợp lý, thiếu sót trong quản lý môi trường…vấn đề trên không chỉ làm xáo trộn sự cân bằng sinh học của hệ sinh thái trong ao nuôi mà còn tạo điều kiện cho dịch bệnh bùng phát ảnh hưởng tới sức khỏe vật nuôi mà còn làm ô nhiễm môi trường. Do đó phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững với môi trường đang được nhiều nước quan tâm trong đó có Việt Nam, để giảm rủi ro về kinh tế cho người nuôi (www.vietlinh.com) Vi khuẩn hữu ích đóng vai trò quan trọng trong xu thế này: chúng phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước, chuyển hóa các khí độc như NH3, NO2-… sang các dạng không độc hại khác. Trong nuôi trồng thủy sản hiện nay, những vi khuẩn hữu ích tiềm năng được phân lập trực tiếp từ môi trường nuôi có kết quả tốt (Burford et al., 1998).Tác giả này cũng chứng minh được hệ vi sinh vật đa dạng trên trứng cá sẽ bảo vệ vật chủ chống lại mầm bệnh tốt hơn. Phần lớn vi khuẩn đã được định danh bằng quan sát hình dạng, đặc điểm sinh hóa và sinh học phân tử. Hầu hết những loài Bacillus không độc hại đối với động vật, kể cả con người và nó có vai trò quan trọng trong thương mại vì khả năng sinh sản nhiều sản phẩm biến dưỡng thứ cấp như kháng sinh, thuốc trừ sâu sinh học, hóa chất và enzim (Ferarri et al., 1993). Ngày nay, sử dụng sinh vật hữu ích trong nuôi trồng thủy sản công nghiệp đang tăng lên ở mức công nghiệp (Havennaar & Huys., 2003). 9 Chính vì những lợi ích của vi sinh vật hũu ích đó nên đề tài: “Khả năng xử lý môi trường trong bể nuôi tôm sú (Penaeus monodon) có bổ sung vi khuẩn hữu ích” được thực hiện với: Mục tiêu Đánh giá khả năng làm sạch môi trường của vi khuẩn hữu ích trong bể nuôi tôm sú (Penaeus monodon). Nội dung Xác định ảnh hưởng của ba dòng vi khuẩn Bacillus lên khả năng làm sạch môi trường dựa trên các chỉ tiêu chất lượng nước và đối chiếu với bể không bổ sung Bacillus. Đánh giá khả năng xử lý đạm của ba dòng vi khuẩn Bacillus chọn lọc. 10 Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. 1 TÌNH HÌNH NUÔI TÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Trên thế giới Ở các quốc gia Đông Nam Á nghề nuôi tôm phát triển mạnh từ những năm cuối của thập niên 80, bắt đầu thâm canh hóa từ thập niên 90, không những nâng cao sản lượng tôm nuôi thế giới mà còn tạo việc làm và tăng thu nhập đáng kể cho nhiều địa phương ven biển (Yi, 2002). Theo FAO, (2003), giai đoạn 1984-1997 sản lượng tôm tăng bình quân 14% mỗi năm, sản lượng tôm nuôi gần 941.000 tấn năm 1997 và đạt giá trị 6.1 tỉ USD. Năm 2004 sản lượng tôm nuôi của Việt Nam đạt hơn 150.000 tấn và góp phần đưa kim nghạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đạt khoảng 1.8 USD (Nhường & Hà, 2005). Sự thành công của người nuôi tôm ở các nước châu Á và Nam Mỹ, đã khẳng định sự tiến bộ của nghề nuôi thủy sản thế giới. Tôm sú là loại tôm được nuôi nhiều ở Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam, Philippinse chiếm khoảng 52% sản lượng toàn cầu. Ở Trung Quốc nuôi tôm thẻ (Penaeus chinesis), tôm thẻ chân trắng (Litopeneaeus vanamei) là loài nuôi chủ yếu ở Ecuador và các nước Mỹ La Tinh chiếm khoảng 18% sản lượng tôm nuôi (FAO, 2003). Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) công bố tại một cuộc họp liên chính phủ vào ngày 2/6, năm 2006, giá trị xuất khẩu thuỷ sản thế giới tăng 9,5% so với 2005, đạt 86 tỉ USD. Năm 2007, giá trị xuất khẩu thuỷ sản thế giới đạt 92 tỉ USD, tăng 7 % so với năm 2006. Tài liệu trên được phát cho 60 nước tham gia cuộc họp lần thứ 11 của Tiểu ban Thương mại thủy sản của FAO diễn ra từ ngày 2-6/6. Năm 2007, tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu ước đạt 145 triệu tấn, trong đó thủy sản xuất khẩu chiếm 38% tổng sản lượng. Các nước đang phát triển chiếm khoảng 50% tổng sản lượng xuất khẩu toàn cầu, còn các nước phát triển chiếm khoảng 80% tổng sản lượng nhập khẩu về mặt giá trị (www.việtlinh.com.vn) Tuy nhiên theo FAO, (2003) sản lượng tôm giảm mạnh do dịch bệnh và thời tiết không thuận lợi ở nhiều quốc gia như Ecuador, Peru, Mexico, Bangladesh và Ấn Độ. Sự sụp đổ của nghề nuôi tôm công nghiệp ở Đài Loan do sự ô nhiểm môi trường làm phát bệnh gây sản lượng giảm 90.000 tấn xuống 20.000 tấn trong năm 1997-1989, sản lượng tôm của Ecuador từ 70.000 tấn vào năm 1988 xuống 40.000 tấn vào năm 1989 mà nguyên nhân chủ yếu là vấn đề môi trương và bộc phát của bệnh (FAO, 2002). Sản lượng tôm ở Thái Lan giảm từ 60% vào năm 1988. Nguyên nhân gây ra sự giảm sục này là do môi trường bị suy thoái, nước có 11 chất lượng kém và do nạn phá rừng (Macitosh et al., 1992). Diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tăng nhanh chóng trong thời gian qua nhưng năng suất giảm trên một đơn vị diện tích đất sử dụng (Johson et al., 2000). Trong thực tế nguồn nước thải trong các trang trại hay ao nuôi đều đổ trực tiếp ra kênh rạch không qua xử lý là rất phổ biến ở Việt Nam, Philippin, Indonesia,…. Ngoài ra các khu vực nuôi tôm đều tập trung ven biển do đó có sự hạn chế về công trình thủy lợi ảnh hưởng tới quá trình trao đổi nước dẫn tới ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bộc phát (FAO, 1998). Sự thâm canh và tăng diện tích hiện nay trong nuôi tôm ở nước ta là vượt ngoài tầm kiểm soát của Nhà Nước, sự phát triển cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp, phần lớn hệ thống kênh rạch là hệ thống thủy lợi phục vụ cho nông nghiệp trước đây. Ngoài ra các trang trại tôm thường tập trung và dùng chung nguồn nước cấp từ sông, kênh, rạch là nơi hòa trộn giữa nước cấp và nước thải nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra và tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng (Boyd et al., 2001). 2.1.2 Việt Nam Việt Nam với bờ biển trải dài 3.260 km từ Quảng Ninh đến Cà Mau vòng qua Kiên Giang nên rất có tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản nước lợ phát triển. Diện tích nuôi tôm gia tăng nhanh chóng từ 50.000 ha (1985) lên đến 295.000 ha (1998) với 30 tỉnh nuôi tôm sú và tăng lên 449.275 ha (2001). Đến năm 2004 diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước khoảng 600.000 ha, với mô hình nuôi quãng canh cải tiến là chủ yếu, ngoài ra còn có các mô hình bán thâm canh, thâm canh chiếm diện tích nhỏ trong đó nuôi thâm canh đạt được năng suất cao khoảng 5 -7 tấn/ ha. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích nuôi lớn nhất cả nước có khoảng 680.000 ha (2005). Sản lượng tôm cùng tăng theo từ 65.282 tấn (1999), tăng lên 103.845 (2000) đến năm 2001 sản lượng tôm nuôi là 162.713 tấn và sản lượng tiếp tục tăng đến 210.000 tấn (2003) (Nguyễn Văn Hảo, 2004). Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản năm 2005 là 2,65 tỷ USD (Tạp chí khuyến ngư Việt Nam số 45). Năm 2007, xuất khẩu thủy sản của cả nước đã đạt khoảng 925 nghìn tấn trị giá 3,756 tỷ USD, tăng 12,2% về khối lượng và 14% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, trị giá xuất khẩu trên khi được bổ sung đầy đủ số liệu luỹ kế của cả năm, rất có thể đạt đến mức 3,8 tỷ USD. (Báo thương mại, 2008). Việc xuất khẩu thủy sản được xem là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn ở Việt Nam. 2.1.3 Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu long là vùng nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước và cũng là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn của vùng. Tổng diện tích nuôi tôm của khu vực ở năm 2003 chiếm 88% diện tích nuôi tôm của cả nước, sản lượng 146.000 12 tấn, chiếm 69.5% sản lượng tôm của cả nước, với hình thức nuôi quãng canh cải tiến là chủ yếu như tôm rừng tập trung chủ yếu ở Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, tôm lúa ở Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, bán thâm canh ở Sóc Trăng, thâm canh ở Sóc Trăng, Bạc Liêu. Sóc Trăng là tỉnh có nghề nuôi tôm với tốc độ thâm canh hóa cao, năng suất bình quân cao nhất vùng. Năm 2005, tổng diện tích nuôi tôm của Sóc Trăng là 43.211 ha, sản lượng 42.817 tấn, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh là 17.481 ha, sản lượng tôm nuôi thâm canh là 13.400 tấn, bán thâm canh là 17.850 tấn, quãng canh cải tiến là 11.567 tấn (Sở Thủy Sản Sóc Trăng, 2005). Năm 2005, Bạc Liêu có diện tích nuôi tôm là 116.473 ha, trong đó có 10.929 ha nuôi thâm canh và bán thâm canh, sản lượng đạt 63.616 tấn (Sở Thủy Sản Bạc Liêu, 2005) Cà Mau là tỉnh có diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước mà chủ yếu là thủy sản nước lợ. Do Cà Mau có ba mặt giáp biển, hệ thống sông ngòi chằng chịt, nguồn tài nguyên và nguồn lao động dồi dào nên rất thuận lợi cho thủy sản phát triển. Diện tích và sản lượng nuôi tôm trong những năm 1981 có 14.000 ha đạt 4.500 tấn, năm 1991 tăng lên 60.000 ha, 28.600 tấn, và năm 2000 có tới 153.373 ha với 35.700 tấn (Sở Thủy Sản Cà Mau, 2005) Năm 2001 có 217.898 ha; năm 2002 có 239.398 ha; năm 2003 có 245.338 ha; năm 2004 có 248.174 ha. Năm 2008, Cà Mau có diện tích nuôi tôm 249.000 ha, gồm 35.000 ha rừng - tôm, 40.000 ha lúa - tôm, 1.000 ha tôm - vườn, 900 ha tôm công nghiệp, còn lại là diện tích chuyên tôm dạng sinh thái (Sở Thủy Sản Cà Mau, 2005) Trước sự phát triển cua con tôm sú nói riêng và thủy sàn nói chung đã dẫn tới ô nhiễm môi trường và những giải pháp khắc phục đã đựơc đặt ra. 2.2 Những giải pháp và vấn đề môi trường 2.2.1 Giải pháp cơ học (dùng cát để lọc) Lọc nước bằng cơ học: Được thực hiện thông qua việc cho nước chảy qua một lớp sàng (sử dụng đá, sỏi, san hô, than hoạt tính...), hoặc qua một miếng bọt biển mỏng, hoặc chảy qua một miếng vải sồi (hoặc có thể kết hợp tất cả các loại hình trên) nhằm loại bỏ các mảnh vụn đất cát, chất bẩn... ra khỏi nước (www.nongthon.net). 2.2.2 Giải pháp hóa học (kết tủa, tạo bong trong xử lý nước, phèn nhôm, ozon,…) Lọc nước bằng hoá chất: Được thực hiện bằng việc cho nước chảy qua các mẩu than (carbon) hoặc zô-lit (zeolit = một loại đất khoáng) nhỏ, đây là những loại 13 khoáng sản tự nhiên. Than hoặc zô-lit sẽ loại bỏ các phân tử như ammonia ra khỏi nước (www.nongthon.net). Hai loại hình lọc nước trên có ưu điểm là tạo được sự luân chuyển nước khá lớn trên một đơn vị thời gian (kiểm soát qua việc sử dụng các máy bơm với công suất khác nhau) nên quá trình làm trong nước nhanh, tạo Oxi tốt song lại có nhược điểm về độ ồn và khả năng kiểm soát lượng vi chất, chất thải được lọc kém linh hoạt. Ngoài ra 2 loại hình lọc nước trên còn có tác động khá lớn đến kết cấu của bể, đến tính thẩm mỹ và chiếm diện tích tương đối lớn. Vì vậy hiện nay mô hình đang được chú ý tới là lọc sinh học bằng vi sinh vật hữu ích và thực vật thủy sinh. 2.2.3 Giải pháp sinh học 2.2.3.1 Sử dụng hệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ trong chất thải Có một số loài vi sinh vật có khả năng sử dụng các chất hữu cơ và một số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng, sinh trưởng và nhờ vậy sinh khối của chúng tăng lên. Các vi sinh vật này được sử dụng phân hủy các chất ô nhiểm hữu cơ và vô cơ có trong chất thải từ nuôi trồng thủy sản. quá trình phân hủy này được gọi là quá trình phân hủy oxy hóa sinh hóa. Có thể phân phương pháp này thành hai loại (Lin, 1999). Phương pháp hiếu khí: là phương pháp sử dụng các nhóm vi sinh vật hiếu khí. Để đảm bảo hoạt động sống của chúng cần cung cấp oxy liên tục cho chúng và duy trì ở nhiệt độ khoảng 20-400C. Phương pháp yếm khí: là phương pháp sử dụng các nhóm vi sinh vật yếm khí. Trong xử lí nước thải công nghiệp, phương pháp xử lí yếm khí được sử dụng rộng rãi. Lọc sinh học: Hệ lọc sinh học bao gồm cột lọc tầng sôi và cột lọc nhỏ giọt với chất mang khác nhau cho hiệu quả xử lí amon trung bình khác nhau: lô nhựa đạt 47,77%; sỏi nhẹ đạt 75,25%, san hô đạt 70,75%. Kết quả thử nghiệm cho thấy sử dụng sỏi nhẹ làm vật liệu cố định vi sinh vật trong hệ lọc có triển vọng nhất. Hệ lọc sinh học với cột lọc tầng sôi và cột lọc nhỏ giọt cải tiến sử dụng sỏi nhẹ đã thực hiện quá trình nitrat hóa NO2, NO3 cao, đạt hàm lượng NO2 trong môi trường nước ở mức 0,1-0,79 mg/L; NO3 ở mức 0,61-21,2 mg/L (www.nongthon.net) 2.2.3.2 Lọc bằng thực vật thủy sinh Dùng hệ thực vật trong nước để lọc và giữ lại các vật chất lơ lững (rong, san hô,lục bình, bần….) (www.nongthon.net). 14 2. 3 BIẾN ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG. 2.3 .1 Nhiệt độ Trong ao nuôi nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các quá trình sinh tổng hợp các chất hữu cơ cho sinh vật. Theo Whetstone et al., (2002) tôm có thể sống tốt ở nhiệt độ 23 – 34ºC , tối ưu là 26 – 29ºCvà nhiệt độ trong ngày không thay đổi quá 5ºC (Boyd et al.,2003). 2.3.2 pH Theo Chanratchakool et al., (1995) thì pH của nước rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tôm nuôi và phiêu sinh vật, giá trị pH ở mức thích hợp cho sự sinh trưởng tối ưu của tôm sú từ 7,5-8,35 và khoảng dao động hàng ngày không được vượt quá 0,5 đơn vị pH. Theo Phạm Văn Tình, (1994) thì pH trong ao thường thấp vào buổi sáng và cao vào buổi chiều, pH của nước trong ao nuôi tôm tốt nhất là 7,5-8,9. Theo Kungvankij et al., (1986); Nguyễn Trọng Nho và ctv., (2002) thì giá trị pH từ 7,5-8,5 là thích hợp cho nuôi tôm sú. Theo Chanratchakool (2003) thì cần khống chế pH dưới 8,3 nhằm đảm bảo sự cân bằng ion của độ kiềm. pH thích hợp cho nuôi tôm sú dao động từ 7-9 (Whetstone et al., 2002; Boyd et al., 2002). Nguồn nước có độ pH từ 7,5-8,5 là điều kiện tối ưu để vi khuẩn nitrate hóa tăng trưởng. Khi giá trị pH > 8,5 vi khuẩn Nitrobacter có thể bị ức chế nhiều hơn Nitrosomonas làm cho nitrite được tích lũy (Briggs et al., 1994). Nitrite được chuyển hóa thành Nitrate nhờ vi khuẩn Nitrobacter (Soon et al., 1999). Từ những kết quả trên có thể nhận định pH thích hợp nuôi trồng thủy sản nói chung là từ 6-9 và riêng nuôi tôm sú từ 7,5-8,5 là phù hợp nhất (pH tốt nhất nên gần bằng 8,0). 2.3.3 TSS Độ đục biểu thị vật chất lơ lửng trong nước làm hạn chế quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh do cản trở khả năng xuyên ánh sáng vào nước, làm giảm hàm lượng oxy hòa tan trong nước. Trong ao nuôi tôm nếu độ đục được thể hiện bởi sinh lượng của phiêu sinh vật thì đây là một yếu tố có lợi, trong khi đó độ đục được biểu thị bởi vật chất lơ lửng, hạt sét thì sẽ gây bất lợi cho tôm nuôi (Hargreaves, 1999). Theo Boyd et al., (2002) thì độ đục tốt cho ao nuôi dao động từ 40-100 ppm nhưng không dao động quá 10%. Trong thực tế ao nuôi thì độ đục thường tăng dần về cuối vụ, chúng chịu tác động của các yếu tố nội tại như sục khí (quạt nước) hay do bên ngoài tác động (sóng gió) làm xói lỡ thành ao hay nguồn nước cấp và thức ăn dư thừa theo thời gian (Hargreaves, 1999). 15 2.4.6 Oxy hòa tan (DO – Dissolved Oxygen) Oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm là trên 5 ppm (Swingle, 1969 được trích bởi Lê Bảo Ngọc, 2005) và không được vượt 15 ppm (Whetstone et al., 2002). Theo nghiên cứu của Summerfelt (1996) thì hàm lượng oxy hòa tan vào trong nước chịu sự chi phối bởi nhiệt độ, nhiệt độ càng tăng thì hàm lượng oxy bão hòa trong nước càng giảm. Nếu nhiệt độ nước ở 10oC thì hàm lượng oxy bão hòa là 11,3 ppm, khi nhiệt độ tăng lên ở 25oC thì hàm lượng oxy bào hòa giảm xuống 8,5 ppm. Hàm lượng DO ở mức thích hợp cho sự sinh trưởng tối ưu của tôm sú từ 5-6 ppm (Boyd, 2003). Nghiên cứu tốc độ tiêu thụ oxy hòa tan cho thấy sự hô hấp của quần thể sinh vật đáy có thể dễ dàng tiêu thụ từ 2-3 ppm oxy hòa tan trong nước ao trong vòng 24 giờ (Boyd, 1998). Wang et al., (2000) nghiên cứu sự phân phối oxy trong ao cho thấy có 70% lượng oxy tiêu hao cho các sinh vật đáy, sự oxy hóa các hợp chất hữu cơ và chỉ có 20% lượng oxy tiêu tốn cho quá trình hô hấp của tôm. 2.3.4 Tiêu hao oxy hóa học (COD – Chemical Oxygen Demand) Theo TCVN 5943 (1995), nước sử dụng cho nuôi trồng thủy sản phải nhỏ hơn 35 ppm, trên 35 ppm được xem là ô nhiễm và dưới 10 ppm là nghèo dinh dưỡng. Kết quả thí nghiệm của Briggs và Fung-Smith, (1994) khi nuôi tôm ở mật độ 20 con/m2, 30 con/m2, 75 con/m2 thì hàm lượng COD lần lượt là 18,7 ppm, 27,6 ppm và 39 ppm. Ngoài ra còn cho thấy càng về cuối vụ thì hàm lượng COD trong nước ao nuôi càng tăng. 2.3.5 Ammonia tổng cộng (TAN - Total Ammonia Nitrogen) Nồng độ NH3 được coi là an toàn cho ao nuôi là 0,13 ppm (Chen et al., 1998). Trong ao nuôi tôm sú thì hàm lượng NH3 phải nhỏ hơn 0,1 ppm được xem là thích hợp (Whetstone et al., 2002). Các hợp chất vô cơ hòa tan quan trọng của nitơ là NH3, NH4+, NO3- và NO2-. Trong đó NH3 và NO2- độc đối với các loài động vật thủy sinh còn NH4+ và NO3là nguồn dinh dưỡng tốt mà thực vật thủy sinh dễ hấp thu nhất tạo nên các hợp chất hữu cơ trong thủy vực. Ngoài ra, NH3 và muối của nó sẽ biến thành dạng đạm Nitrite (NO2-) và Nitrate (NO3-) nhờ vi khuẩn Nitrite và Nitrate hóa. Tuy nhiên NH3 được cung cấp trong các thủy vực từ quá trình phân hủy bình thường các protein, xác bã động thực vật, sản phẩm bài tiết của động vật hay từ phân bón vô cơ và hữu cơ, trong đó nguồn NH3 chủ yếu từ sự bài tiết trực tiếp của động vật thủy sinh (Chen et al., 1992; 1998). 16 Theo Adhikari, (2003) cho rằng NH3 trong khoảng 0,02-0,05 ppm là tối ưu cho ao nuôi thủy sản, trong môi trường nước mặn NH3 và NO2- ít gây độc cho tôm, việc xử lý Formalin có thể làm giảm độ độc của NH3 và việc bón phân là phương pháp tốt nhất làm giảm độc tính của Nitrite trong ao nuôi (Adhikari, 2003; Limsuwan et al., 1997). 2.3.6 Nitrite (NO2-) Nitrate là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ nhất, hàm lượng NO-3 trong nước biển thường dao động từ 0,2 - 0,4 ppm, nồng độ thích hợp cho các ao nuôi cá là từ 2 - 3 ppm (Nguyễn Văn Bé, 1996 được trích bởi Lê Bảo Ngọc, 2004). Vi khuẩn tham gia vào quá trình này ở các thủy vực nước ngọt có vi khuẩn Nitrobacter europara, trong các thủy vực nước lợ và mặn có Nitrospina gracilic và Nitrosococcus mobilis. Vi khuẩn nitrate hóa phân bố rất ít trong các thủy vực sạch, nghèo dinh dưỡng. Quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra khi có mặt oxy, trong môi trường yếm khí với sự có mặt của các hydrat carbon sẽ xảy ra quá trình phản nitrate hóa, quá trình này khử nitrate qua nitrite thành NO, N2O, NH2OH, NH3 và N2. Vi khuẩn tham gia quá trình này bao gồm các loài kỵ khí không bắt buộc như Bacillus, Pseudomonas (Soon et al., 1999). Trong điều kiện hiếu khí, chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng oxy hòa tan trong nước, còn trong điều kiện kỵ khí chúng oxy hóa các hợp chất hữu cơ bằng con đường khử hydro để chuyển hydro cho nitrate và nitrite. Quá trình này không có lợi vì nó làm mất nitơ trong thủy vực và tạo thành các chất độc hại cho thủy sinh vật như NH3, NO2- (Pekar, 2002). Theo Jackson và Preston, (2003) nghiên cứu sự tích tụ và thải ra ngoài của hợp chất Nitrogen trong ao nuôi tôm sú thâm canh cho thấy có 14% N đầu vào được giữ lại trong bùn đáy ao và có tới 57% đạm đưa vào môi trường, 3% có thể thất thoát do bay hơi ở mùa nắng. Trong mùa mưa đạm trong vật chất hữu cơ hòa tan (Dissolved Organic N = DON) chiếm 37- 43% và tổng ammonia (TAN) chiếm 1221%. Theo Boyd, (1998) thì Nitrate thích hợp cho ao nuôi từ 0,2-10 ppm và theo tiêu chuẩn Việt Nam 5942-1995 cho nước bề mặt là 10 ppm. 2. 3.7 TN (Total Nitrogen) Hàm lượng N bài tiết ra tích lũy trong chất cặn lắng tăng theo mật độ tôm nuôi, nguồn đạm trong ao có đến 90% từ thức ăn đưa vào ao qua quá trình cho tôm ăn. 17 Đạm trong tôm tích lũy được là 22% tổng đạm đầu vào (Jackson & Preston, 2003) và 38,4% hàm lượng N cung cấp vào ao nuôi tôm là từ nguồn nước lấy vào, nguồn bốc hơi vào không khí và quá trình nitrate hóa chiếm từ 9,7-32,4% trên tổng số (Martin et al., 1998). Teichert-Coddington et al., (2000) nghiên cứu dinh dưỡng trong ao nuôi tôm bán thâm canh cho thấy sự tăng thêm đạm trong ao nuôi tôm chủ yếu từ nguồn nước lấy vào chiếm 63% và thức ăn chiếm 36%, lượng đạm mất đi từ sự trao đổi nước là 72% và thu hoạch tôm là 14%. Sản xuất được một kilogram tôm thì có đến 16,8 g đạm bị mất đi bởi sự trao đổi nước. Theo Wahab et al., (2003) nghiên cứu sự thay nước cho thấy có khả năng làm giảm 70% N hòa tan trong nước ao nuôi tôm sú thâm canh. 2.3.8 PO43- và TP (Total Phosphorus) Lân là một yếu tố dinh dưỡng rất cần thiết cho thủy sinh vật, quá trình tổng hợp protein chỉ tiến hành được khi có sự tham gia của H3PO4 và sự thiếu hụt nó trong thủy vực còn hạn chế quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ bởi vi sinh vật (Limsuwan et al., 1997). Trong môi trường tự nhiên lân tồn tại dưới các dạng muối orthophosphate hòa tan như: H2PO4-, HPO42- và PO43- hay dưới dạng phosphate ngưng tụ (Pyrophosphate, P2O74- Metaphosphate và polyphosphate). Dạng phosphate ngưng tụ dễ bị thủy phân thành Orthophosphate hòa tan, dạng lân hữu cơ hòa tan dễ dàng chuyển hóa lẫn nhau và chuyển thành dạng muối orthophosphate hòa tan nhờ hoạt động của vi sinh vật (Preedalumpabutt et al.,1989). 2.3.9 Chất độc từ đáy ao (H2S và NH3) Như đã đề cập trên, đất ao và các chất lắng tụ sinh ra hai sản phẩm chính có tính độc cao đối với tôm nuôi là NH3 và H2S. Khi NH3 sinh ra từ sự bài tiết của tôm và sự phân hủy chất đạm chứa trong các chất hữu cơ ở điều kiện hiếu khí và yếm khí. Khí H2S do vi khuẩn sinh ra trong điều kiện yếm khí từ các chất lắng tụ có hàm lượng chất hữu cơ cao. Những lớp đất yếm khí với hàm lượng chất hữu cơ cao thường có màu đen đặc thù do có sự hiện diện của các hợp chất sắt khử. Nếu H2S hiện diện trong ao nuôi với hàm lượng cao, ta thể nhận ra bằng đặc điểm có mùi trứng thối đặc trưng của chúng. Tuy nhiên, khi nồng độ H2S cao đủ để phát hiện bằng mùi thối thì có lẻ chúng đã vượt quá mức gây hại cho tôm. Mặc dù tất cả các ao nuôi có khuynh hướng sinh ra NH3 nhất là khi kết thúc vụ nuôi thứ ba nhưng không phải tất cả các ao các ao sinh đều H2S. Khí H2S thường sinh ra nhiều nhất trong những ao nuôi được xây trên đất rừng ngập mặn hay những ao ít được dọn tẩy. tính độc của NH3 và H2S tùy vào nồng độ của chúng, pH và các 18 thông số khác. NH3 sẽ trở nên độc hơn khi pH cao còn H2S độc hơn khi pH thấp (Trương Quốc Phú, 2006). Một phương pháp làm giảm đến mức tối thiểu tác động của chất lăng tụ trong ao là làm cho chúng gom lại giữa ao. Chúng ta có thể thực hiện điều này bằng cách kết hợp với việc thiết kế hình dạng ao nuôi và vị trí đặt máy sục khí. Tập trung được các chất thải sẽ làm giảm được diện tích bề mặt mà chất thải chiếm trong ao. Việc này có hai điểm lợi: thứ nhất là tập trung các hợp chất hữu cơ để hạn chế tối đa sự phân hủy của khuẩn yếm khí và kết quả làm giảm lượng NH3, sinh ra trên bề mặt các chất thải, thứ hai là làm giảm diện tích bề mặt của chất thải thì cũng hạn chế được sự khuếch tán NH3 và H2S từ các lớp đất yếm khí. Xáo trộn chất thải lắng tụ có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong môi trường ao nuôi. Sự xáo trộn này sẽ phóng thích các chất độc tích tụ trong chất vẩn và phân hủy một lượng lớn chất hữu cơ, kết quả NH3 được sinh ra (Trương Quốc Phú, 2006). 2.4. BIẾN ĐỘNG CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẤT 2.4.1. Đặc tính môi trường đất trong ao nuôi tôm Vật chất hữu cơ có khuynh hướng tích lũy tăng dần theo thời gian trong đất ở đáy ao (Boyd, 1995), sự phân hủy vật chất hữu cơ diễn tiến nhanh ở giá trị pH từ 7 đến 8. Do vậy, trong những ao nuôi có tính acid, nếu không dùng vôi để khoáng hóa thì vật chất hữu cơ khó được phân hủy (Boyd, 1995). 2.4.2. Đặc tính lớp bùn đáy trong ao tôm Lớp nước giữa bùn đáy và nước ao nuôi là chất lắng từ nhiều nguồn khác nhau có khả năng tiềm tàng gây độc cho các loài thủy sản (Briggs et al., 1994). Sự tương tác giữa đất bùn đáy ao và nước ao rất quan trọng ảnh hưởng đến tính chất sinh hóa học của N (Hargreaves, 1998). Một hecta ao nuôi tôm thâm canh ở Thái Lan phóng thích mỗi ngày khoảng 46 kg chất hữu cơ, hầu hết chúng tồn tại trong ao dạng chất bồi lắng ở đáy ao (Briggs et al.,1994), nhưng hàng ngày có khoảng 1,2 kg N/ha và 0,1 kg P/ha ao nuôi thải vào môi trường ven biển (Midlen & Redding, 1998). Theo nghiên cứu về chất thải của ao nuôi tôm sú thâm canh ở Thái Lan cho thấy lượng bùn sau một vụ nuôi ước lượng khoảng 90 m3/ha với độ ẩm là 73,8%, độ khô là 26,2%, mỗi hecta tôm nuôi thải ra khoảng 99 tấn bùn ướt và khoảng 26 tấn bùn khô (Latt, 2002). Macintosh, (2002) cho rằng chất bồi lắng ở vùng triều của rừng ngập mặn có đặc tính lý, hóa tương tự như chất bồi lắng ở khu vực bờ ao nuôi tôm, điều này cho 19 thấy đất đáy ao tôm đã tích trữ một lượng lớn chất hữu cơ tương đương với chất hữu cơ mà đất rừng đã nhận được trong nhiều năm. Ngoài các chất thải hữu cơ từ ao nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường, thì việc xói mòn đất ao cũng là nhân tố quan trọng. Ở Thái Lan đã có quy định cấm các hoạt động thải trực tiếp bùn sên vét ao vào môi trường nước công cộng, nhưng vẫn xảy ra hàng ngày, đặc biệt hoạt động này thường diễn ra khi thu hoạch tôm, giai đoạn làm sạch ao để chuẩn bị cho vụ mới (Dierberg & Kiattisimkul, 1996). Sự giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ hòa tan (đạm và lân) từ ao nuôi tôm thâm canh có khả năng gây nên sự phú dưỡng (tăng năng suất sơ cấp) trong nước, nước được cung cấp trong quá trình nuôi như thức ăn, vitamin, thuốc kháng sinh có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng hoặc gây độc cho các loài thực vật phù du (Gowen & Rosenthal, 1993). Khi mô hình thâm canh và bán thâm canh phát triển trên diện rộng thì một lượng lớn chất thải từ thức ăn dư thừa, các loại phân bón, hóa chất xử lý nước và chất thải của tôm được thải ra môi trường nước làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và giảm đi tính ổn định trong nuôi tôm (Boyd, 1990). Nồng độ của các chất dinh dưỡng, vật chất hữu cơ, ammonia và chất rắn lơ lửng gia tăng ứng với mức độ tăng sản lượng của tôm nuôi. Vì vậy, nuôi trồng thủy sản quy mô thâm canh có khả năng gây ô nhiễm cao hơn nhiều so với quảng canh và bán thâm canh (Whetston et al., 2002). Mức độ thâm canh hóa của mô hình nuôi chuyên tôm càng cao sẽ rủi ro càng cao, làm giảm năng suất do bùng phát dịch bệnh bởi chất lượng nước (Burford et al., 2002). Trong ao nuôi tôm thâm canh có lượng thức ăn dư thừa và vật chất hữu cơ chôn vùi nhiều vào trong đất, tạo điều kiện yếm khí cho vi khuẩn phát triển và gây độc cho nguồn nước ao nuôi (Peterson et al., 1999). Nguồn nước thải trong nuôi tôm chứa các chất phospho, ammonia, nitrate và chất hữu cơ với hàm lượng cao (Tilley et al., 2002). Việc sử dụng quá đáng nguồn tài nguyên, đưa đến sử dụng thức ăn không hiệu quả và phóng thích các dưỡng chất, chất rắn lơ lửng vào nguồn nước (Macintosh, 2002) Năng suất tôm nuôi đã suy giảm nghiêm trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, nguyên nhân cơ bản là môi trường diễn biến ngày càng xấu ở nhiều quốc gia (Funge-Smith & Briggs, 1998). Một trong những vấn đề chủ yếu đối với chất thải của ao nuôi tôm là chất thải của hộ này có thể là nguồn nước cấp của hộ khác ở gần đó, sẽ gây lan truyền ô nhiễm nước và dịch bệnh giữa các nông hộ nuôi tôm (Boyd, 1998). 20
- Xem thêm -