Kết luận thanh tra – thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT ----o0o---- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 36 (2010 – 2014) Đề tài: KẾT LUẬN THANH TRA – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Lâm Bá Khánh Toàn Lê Thị Nghi MSSV: 5106164 Lớp:Luật hành chính K36 Cần Thơ, 11/ 2013 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA............................................................................................................ 3 1.1. Khái quát chung về thanh tra............................................................................................... 3 1.1.1. Khái niệm thanh tra ........................................................................................................ 3 1.1.2. Đặc điểm ......................................................................................................................... 4 1.1.3. Phân loại thanh tra ......................................................................................................... 6 1.2. Khái quát chung về hoạt động thanh tra............................................................................ 10 1.2.1. Khái niệm về hoạt động thanh tra ................................................................................. 10 1.2.2. Đặc điểm hoạt động thanh tra....................................................................................... 11 1.2.3. Các nguyên tắc.............................................................................................................. 11 1.2.4. Hành vi bị cấm trong hoạt động thanh tra .................................................................... 17 1.3. Sơ lược về quy trình thanh tra ........................................................................................... 18 1.3.1. Chuẩn bị thanh tra........................................................................................................ 18 1.3.2. Tổ chức thực hiện thanh tra.......................................................................................... 21 1.3.3. Kết thúc thanh tra ......................................................................................................... 22 1.4. Vai trò của hoạt động thanh tra ......................................................................................... 24 1.5. Các chủ thể trong hoạt động thanh tra .............................................................................. 26 1.5.1. Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra ......................................................................... 26 1.5.2. Chủ thể là đối tượng thanh tra...................................................................................... 28 1.5.3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan.......................................................................... 29 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT LUẬN THANH TRA .. 31 2.1. Căn cứ ban hành kết luận thanh tra .................................................................................. 31 2.2. Xây dựng và ban hành kết luận thanh tra ......................................................................... 34 2.3. Công khai kết luận thanh tra.............................................................................................. 37 2.3.1. Vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc công khai trong kết luận thanh tra.......................... 41 2.3.2. Chủ thể công khai kết luận thanh tra............................................................................ 44 2.3.3. Hình thức công khai kết luận thanh tra........................................................................ 45 2.3.4. Thời điểm công khai kết luận thanh tra ........................................................................ 46 2.3.5. Địa điểm công khai kết luận thanh tra.......................................................................... 46 2.4. Thực hiện kết luận thanh tra.............................................................................................. 47 2.4.1 Chủ thể thực hiện kết luận thanh tra ............................................................................. 47 2.4.2. Xử lý về vấn đề kết luận, kiến nghị thanh tra................................................................ 48 2.5. Giám sát, kiểm tra kết luận thanh tra ................................................................................ 51 2.5.1. Giám sát về kết luận thanh tra ...................................................................................... 52 2.5.2. Kiểm tra về kết luận thanh tra....................................................................................... 52 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CÔNG KHAI, THỰC HIỆN KẾT LUẬN THANH TRA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT .... 53 3.1. Hiệu quả của công tác thanh tra trong những năm gần đây ............................................. 53 3.1.1. Về lĩnh vực kinh tế - xã hội ........................................................................................... 54 3.1.2. Về lĩnh vực giải quyết khiếu nại - tố cáo ....................................................................... 56 3.1.3. Về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng ......................................................... 59 3.2. Thực tiễn và giải pháp về việc công khai kết luận thanh tra ............................................. 62 3.2.1. Những khó khăn, vướng mắc trong việc công khai kết luận thanh tra ......................... 62 3.2.2. Giải pháp, kiến nghị trong việc công khai kết luận thanh tra ....................................... 64 3.3. Một số tồn tại, hạn chế và giải pháp trong việc thực hiện kết luận thanh tra ................... 67 3.3.1. Khó khăn, hạn chế về việc thực hiện kết luận thanh tra ............................................... 67 3.3.2. Một số giải pháp đảm bảo thi hành các kết luận, kiến nghị thanh tra .......................... 69 KẾT LUẬN ............................................................................................................. 75 Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình phát triển của một đất nước thì quyền lực của Nhà nước luôn gắn liền với quá trình đó, đi đôi với quyền lực nhà nước là chức năng quản lý nhà nước. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và thanh tra chính là một chức năng của quản lý đồng thời cũng là công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước. “Ở đâu có quyền lực thì ở đó có thanh tra”. Hoạt động thanh tra là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh nhưng để đảm bảo được điều đó thì công tác thanh tra phải thục hiện tốt, đặc biệt là giai đoạn kết luận thanh tra. Kết luận thanh tra là một khâu quan trọng trong hoạt động thanh tra, là cơ sở để Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra thực hiện quyền kết luận, kiến nghị trong hoạt động thanh tra. Kết luận thanh tra được xây dựng dựa trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan. Theo quy định của pháp luật, kết luận thanh tra phải được công khai theo các hình thức được pháp luật quy định. Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động thanh tra - hoạt động thanh tra phải đảm bảo yêu cầu công khai, dân chủ. Tuy nhiên trong thời gian qua, việc thực hiện công khai kết luận vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: các cơ quan thanh tra chưa thực hiện việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về kết quả hoạt động của các Đoàn thanh tra cho các cơ quan thông tấn, báo chí; việc công bố kết luận thanh tra tại nơi được thanh tra rất hạn chế…Ngoài ra, quy định của pháp luật hiện nay còn thiếu thống nhất, chưa rõ ràng có điểm mâu thuẫn nhất là việc phân định kết luận thanh tra thuộc loại tài liệu “mật”, hay “không mật”. Bên cạnh vấn đề công khai kết luận thanh tra thì việc thực hiện kết luận thanh tra cũng tồn tại những khó khăn. Thực tiễn theo dõi nhận thấy không phải cuộc thanh tra nào cũng được đối tượng chấp hành thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nội dung quyết định xử lý, còn về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thật sự kiên quyết trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện xử lý... Để làm rõ và tìm hiểu sâu hơn nữa những quy định của pháp luật về việc công khai kết luận thanh tra và thực hiện kết luận thanh tra là hết sức cần thiết. Vì vậy, người viết quyết định chọn đề tài “Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp” để làm luận văn tốt nghiệp. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 1 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Trọng tâm của đề tài này người viết nghiên cứu trong các quy định của pháp luật về kết luận thanh tra bao gồm việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra theo quy định hiện hành tại Luật Thanh tra và Nghị định 86/2011/NĐ-CP. Qua việc phân tích các quy định của pháp luật để tìm ra những vướng mắc còn tồn tại và đưa ra những hướng giải quyết. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị đối với việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra. Qua những nghiên cứu này góp phần hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác thanh tra, tăng cường công tác phòng, chống các hành vi tham nhũng. 3. Phạm vi nghiên cứu đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật về kết luận thanh tra, công khai kết luận thanh tra và việc thực hiện kết luận thanh tra. Đồng thời người viết tìm hiểu thực trạng của quá trình công khai và thực hiện kết luận thanh tra trên một số lĩnh vực cụ thể như kinh tế, xã hội… 4. Phương pháp nghiên cứu đề tài Nhằm để hoàn thiện bài viết một cách tốt hơn, người viết đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình như sau:  Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra.  Phương pháp đối chiếu, so sánh các quy định của pháp luật về kết luận thanh tra trong quá trình công khai và thực hiện kết luận thanh tra. 5. Kết cấu của đề tài Trong đề tài này ngoài Lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu đề tài gồm ba chương: Chương 1: Khái quát chung về thanh tra và hoạt động thanh tra Chương 2: Quy định của pháp luật về kết luận thanh tra Chương 3: Thực trạng vấn đề công khai, thực hiện kết luận thanh tra và hướng hoàn thiện pháp luật. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 2 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA 1.1. Khái quát chung về thanh tra 1.1.1. Khái niệm thanh tra Tùy theo từng góc độ, thanh tra được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau điển hình có một số cách hiểu như sau: Theo tiếng Latinh, thanh tra có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định; Đối với Từ điển tiếng Việt, “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”; Còn Từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”1; Từ điển Luật học thì quy định, thanh tra "là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định”2. Ngoài ra, thanh tra còn được hiểu là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”3. Bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước là thanh tra còn có kiểm tra và giám sát. Kiểm tra là một trong những hoạt động quản lý nhà nước, kiểm tra là một khái niệm rộng, được hiểu theo hai góc độ sau: Thứ nhất, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới trong mối quan hệ trực thuộc nhằm xem xét, đánh giá mọi hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong trường hợp cần kiểm tra một 1 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr.11. Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr.11. 3 Nguyễn Thái Hồng, Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Viện Khoa học Thanh tra, phần 1, 2011, tr.2. 2 GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 3 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp vấn đề cụ thể nào đó. Vì vậy khi tiến hành kiểm tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kỷ luật, bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện pháp tác động tích cực với đối tượng bị kiểm tra như động viên khen thưởng về vật chất hoặc tinh thần. Thứ hai, kiểm tra là hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội như kiểm tra của các tổ chức xã hội đối với hoạt động hành chính nhà nước. Hoạt động kiểm tra này ít mang tính quyền lực nhà nước và không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội. Còn giám sát là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Như vậy, hoạt động giám sát chủ yếu được thực hiện ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc; hoạt động này được tiến hành bởi Quốc Hội, HĐND các cấp, các cơ quan tư pháp và toàn thể nhân dân thông qua hoạt động thực hiện chức năng, thẩm quyền do pháp luật qui định. 1.1.2. Đặc điểm Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước. Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước. Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải có thanh tra. Quản lý nhà nước mà không có thanh tra sẽ dẫn tới quan liêu và xa rời thực tiễn. Do đó, thanh tra mang những đặc điểm sau:  Tính quyền lực nhà nước Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng - một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước. Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra. Đối với các quốc gia trên thế giới, chủ thể tiến hành thanh tra luôn là cơ quan nhà nước, dù mô hình tổ chức thanh tra có khác nhau. Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý, bởi theo Lênin, thanh tra mà thiếu quyền lực là thanh tra suông. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra được thể hiện ở những mặt sau đây: - Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng bị thanh tra về những vấn đề đã bị thanh tra phát hiện và xử lý; GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 4 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp - Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật; - Trong những trường hợp cần thiết, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Ngoài ra, tính quyền lực nhà nước của thanh tra còn được cụ thể hoá ở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức thanh tra; phương thức tiến hành thanh tra; xử lý kết quả thanh tra; trong mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng thanh tra cũng như trong sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước theo cấp hành chính và theo ngành, lĩnh vực. Hoạt động thanh tra đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ. Tính quyền lực nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, có như vậy mới phát huy hiệu quả của thanh tra.  Tính khách quan Bản chất của thanh tra là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì thế, hoạt động thanh tra phải mang tính khách quan. Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật. Pháp luật về nguyên nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền (ý chí nhà nước). Nhà nước đặt ra pháp luật và pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện quản lý xã hội. Theo đó, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và hoạt động của thanh tra nói riêng đều phải dựa trên cơ sở pháp luật, bởi nếu hoạt động thanh tra mà không dựa trên cơ sở pháp luật thì nó sẽ mất đi tính công minh, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước.  Tính độc lập tương đối Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách. Vì vậy, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc đảm bảo sự phối kết hợp nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động thanh tra còn có tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Điều này được thể hiện ở chỗ, các tổ chức thanh tra được phép tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. Trên cơ sở kết quả thanh tra, ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật về thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 5 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Tính độc lập của thanh tra chỉ là tương đối bởi vì, hoạt động thanh tra ngoài việc căn cứ vào pháp luật, chính sách hiện hành còn xuất phát từ thực tế cuộc sống, phải đặt sự vật, hiện tượng trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, khách quan, lịch sử, cụ thể. Tính độc lập của hoạt động thanh tra cũng khác với tính độc lập trong xét xử của toà án. Đối với thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp mà còn căn cứ vào tính hợp lý; trong khi đó hoạt động xét xử của toà án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Bên cạnh đó, không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính tài phán; còn hoạt động của toà án đều mang tính chất tài phán (xét xử). Trong hoạt động thanh tra, về nguyên tắc, người có quyền quyết định cuối cùng trong việc xử lý kết quả thanh tra là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước; còn trong hoạt động xét xử, người có thẩm quyền quyết định cuối cùng là Hội đồng xét xử.  Thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng quản lý. Hơn nữa, với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước. Như vậy, quản lý nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nước và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra. Trong mối quan hệ này, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra. Hơn nữa, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình chấp hành các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà nước. Ngoài ra, với tư cách là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý nhưng đồng thời lại tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý. Nhờ có thanh tra mà mục đích của quản lý được đảm bảo. Thực tế cho thấy rằng, một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ và kém hiệu quả nếu thiếu thanh tra. Hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tuỳ tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước. 1.1.3. Phân loại thanh tra Hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước bao gồm một hệ thống các cơ quan thanh tra được thành lập từ trung ương đến địa phương (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra cấp GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 6 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp huyện, Thanh tra Sở) để xem xét, đánh giá, xử lý đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý; kiến nghị các biện pháp khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.4 Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành có sự khác nhau cơ bản, nhất là về đối tượng thanh tra, trình tự, thủ tục thanh tra và hậu quả pháp lý sau thanh tra. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.5 Cụ thể, thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức thuộc phạm vi quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, nếu phát hiện có vi phạm thì kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước xử lý. Nói khái quát, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra từ trên xuống, hướng vào đối tượng bên trong bộ máy nhằm mục tiêu chung là đánh giá, xem xét trách nhiệm của bộ máy quản lý. Về mặt chủ thể, hoạt động thanh tra hành chính do Thanh tra Chính phủ và các cơ quan Thanh tra nhà nước khác (Thanh tra bộ, thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra sở, thanh tra cấp huyện) quyết định và tiến hành. Ngoài ra, đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị hoặc đối với những vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước (Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện) ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra hoặc Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành 4 5 Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010. Khoản 2 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 7 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.6 Khác với thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật chuyên ngành, việc chấp hành các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành, trừ công việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chất công vụ. Đây là hoạt động thanh tra hướng ra ngoài bộ máy, ra ngoài xã hội nhằm đảm bảo trật tự kỷ cương, pháp luật phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực. Hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành thường xuyên, nếu phát hiện có vi phạm thì xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Không như thanh tra hành chính, hoạt động thanh tra chuyên ngành chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực quyết định và thực hiện. Cụ thể là, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.7  Căn cứ vào phạm vi, quy mô của cuộc thanh tra có: Thanh tra diện rộng, thanh tra diện hẹp. Thanh tra diện rộng là hình thức thanh tra thường được áp dụng khi tiến hành thanh tra một cơ quan, một ngành hay một lĩnh vực quản lý để đánh giá kết quả hoạt động một cách tổng thể, toàn diện trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc cơ chế quản lý để phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm, đổi mới hoạt động nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan, một ngành hay lĩnh vực đó. Thanh tra diện rộng có tác dụng không chỉ để chấn chỉnh, đổi mới trực tiếp một cơ quan, một ngành hay một lĩnh vực mà còn có tác dụng rất quan trọng để các cơ quan, người có thẩm quyền chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô.8 Thanh tra diện hẹp là hình thức thanh tra chỉ tập trung vào một chuyên đề hoặc một vụ việc cụ thể nhất định nào đó để phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm trong chuyên đề, vụ việc đó nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan, của ngành, lĩnh vực. 6 Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010. Khoản 1 Điều 51 Luật Thanh tra năm 2010. 8 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr 21. 7 GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 8 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Khác với thanh tra diện rộng, thanh tra chuyên đề, vụ việc có phạm vi, quy mô hẹp hơn và có đối tượng, nội dung cụ thể, rõ ràng hơn, tính chất của vụ việc rõ hơn. Vì thế, cơ quan (người có thẩm quyền thanh tra) cũng dễ dàng hơn trong việc xác định trọng tâm, trọng điểm cần thanh tra và thời gian thanh tra cũng thường ngắn hơn.  Căn cứ vào chương trình thanh tra có: Thanh tra theo kế hoạch, thanh tra thường xuyên, thanh tra đột xuất. Thanh tra theo kế hoạch là hình thức thanh tra được tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt9. Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp10. Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành11. Thanh tra đột xuất là hình thức thanh tra được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định12. Thanh tra đột xuất thường gắn với những vấn đề cấp thiết, bức xúc nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.  Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của hoạt động thanh tra có: Thanh tra kinh tế - xã hội; thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra công vụ. Thanh tra kinh tế - xã hội là hình thức thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội13. Thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là hình thức thanh tra được tiến hành đối với cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cá nhân, cơ quan, tổ chức và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước14. 9 Khoản 2 Điều 37 Luật Thanh tra năm 2010. Khoản 5 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010. 11 Khoản 3 Điều 37 Luật Thanh tra năm 2010. 12 Khoản 4 Điều 37 Luật Thanh tra năm 2010. 13 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr 23. 14 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr 24. 10 GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 9 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể tiến hành đối với một hoặc một số hoặc tất cả các nội dung của quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo như: công tác tổ chức tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo và công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo. Luật Cán bộ, công chức không đưa ra định nghĩa “thanh tra công vụ” mà quy định trực tiếp (mô tả) phạm vi của “thanh tra công vụ” bằng việc quy định về thanh tra công vụ tại Điều 74: - Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan. - Thanh tra việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng, xử lý kỷ luật công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ. 1.2. Khái quát chung về hoạt động thanh tra 1.2.1. Khái niệm về hoạt động thanh tra Hoạt động thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: Ban hành quyết định, tổ chức thực hiện quyết định; và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quyết định. Thực chất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luận phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia. Luật Thanh tra năm 2010 cũng có quy định “Hoạt động thanh tra do Đoàn thanh tra, thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thưc hiện” (Điều 6). Có thể thấy, hoạt động thanh tra là phương thức thể hiện vị trí vai trò và chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước. Hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật bao gồm: xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra; quyết định việc thanh tra, tiến hành thanh tra trên thực tế; báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra và xử lý kết luận thanh tra. Hoạt động thanh tra được các cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ sở hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Các cơ quan thanh tra tiến hành trên cơ sở chương trình, kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp phê duyệt hoặc khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao (thanh tra đột xuất). GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 10 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Như vậy, hoạt động thanh tra không chỉ giới hạn là hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước mà hoạt động thanh tra còn được thể hiện dưới nhiều hình thức như thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về thanh tra, thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. 1.2.2. Đặc điểm hoạt động thanh tra Thanh tra được coi là công cụ có hiệu quả của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng của quản lý. Do đó, quyền lực của thanh tra là một bộ phận không thể thiếu của quyền lực nhà nước, chỉ có thông qua hoạt động thanh tra, quyền lực nhà nước mới được thực hiện, nền dân chủ nhân dân mới được bảo đảm. Vì vậy, hoạt động thanh tra mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động thanh tra là hoạt động tổng hợp và đa dạng gắn với mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. Thứ hai, thanh tra là loại hình hoạt động thường phải đấu tranh với những vi phạm trong việc chấp hành pháp luật nói chung và các quyết định quản lý, quy chế nội bộ của các cơ quan đơn vị. Thứ ba, tổ chức và các cá nhân được thanh tra vừa là đối tượng thanh tra vừa là chủ thể quản lý. 1.2.3. Các nguyên tắc Có thể hiểu, “Nguyên tắc trong hoạt động thanh tra là những tư tưởng chủ đạo, những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan nhà nước, các tổ chức, công dân cũng như đối tượng của thanh tra phải tuân theo trong quá trình thanh tra”15. Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra chỉ đạo và chi phối các mối quan hệ trong thanh tra nhằm đảm bảo cho hoạt động thanh tra đạt được mục đích đề ra. Theo Điều 7 Luật Thanh tra 2010 xác định nguyên tắc hoạt động thanh tra bao gồm: “Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra”. Như vậy, quy định trên là những tư tưởng chỉ đạo làm nền tảng cơ bản, mang tính xuyên suốt đối với hoạt động thành tra được quy định trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc của hoạt động thanh tra đã được Đảng và Nhà nước xác định từ trước tới nay. Theo đó, các nguyên tắc cơ bản của thanh tra bao gồm: 15 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr.31. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 11 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp 1.2.3.1. Bảo đảm pháp chế trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của hoạt động thanh tra Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc pháp chế là nhằm bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ một cách tuyệt đối, không có một thực thể nào đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật. Nguyên tắc pháp chế phải được thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước. Thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện quy định pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vì vậy, yêu cầu trước tiên đối với hoạt động thanh tra là phải tuân theo pháp luật. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật”. Thanh tra là công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước, vì về mặt lý thuyết “Ở đâu có quyền lực thì ở đó có thanh tra”. Vì vậy, hoạt động thanh tra phải được tiến hành trước hết bởi các quy định của pháp luật; phải tuân thủ các quy định của pháp luật - Luật Thanh tra và các văn bản pháp luật có liên quan. Để bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, nội dung của hoạt động thanh tra phải bảo đảm việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật có liên quan: Thứ nhất, hoạt động thanh tra phải được thực hiện theo phương thức thành lập Đoàn thanh tra hoặc thông qua thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập. Thứ hai, thời hạn mỗi cuộc thanh tra phải tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật quy định.16 Thứ ba, người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm và quyết định các cuộc thanh tra cụ thể. Thứ tư, Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn và các thành viên hoạt động theo nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Như vậy, bảo đảm việc tuân thủ nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, về nguyên tắc hoạt động của Thanh tra là không vi phạm những điều cấm của pháp luật 16 Khoản 1 Điều 45 Luật Thanh tra năm 2010. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 12 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp khi thanh tra, kiểm tra, bảo đảm cho đối tượng bị thanh tra nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, không phải lúc nào, ở đâu pháp luật cũng được thực thi nghiêm chỉnh. Hành vi vi phạm pháp luật đã, đang và sẽ còn là một vấn đề thực tế cần được giải quyết một cách liên tục, nhanh chóng. Để giải quyết, Nhà nước đã áp dụng các biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế hành vi của đối tượng vi phạm, cho nên mọi biện pháp thực hiện đều cần đến công tác thanh tra. Chỉ có qua thanh tra mới có thể đánh giá được một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đó chấp hành pháp luật như thế nào, có vi phạm pháp luật hay không, vi phạm ở mức độ nào... Từ đó mới có thể đề ra những biện pháp xử lý thích hợp. Do vậy, thanh tra chính là phương thức bảo đảm pháp chế, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật. 1.2.3.2. Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực của hoạt động thanh tra Khi xem xét vai trò của thanh tra trong mối quan hệ với kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực nhà nước và vai trò của thanh tra trong phòng, chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại, tố cáo đã cho thấy: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, đó là hoạt động tự kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và các quyết định quản lý trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trên cơ sở hệ thống Thanh tra được tổ chức theo cơ quan thực hiện chức năng thanh tra: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện. Ngoài ra có các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Vì vậy, thanh tra luôn gắn liền với chức năng pháp lý trong quản lý nhà nước, tuy nhiệm vụ của thanh tra cũng là kiểm tra nhưng thanh tra hẹp hơn kiểm tra. Bên cạnh đó, thanh tra được coi là “tai mắt” của cấp trên, có vai trò như một bộ phận của quản lý nhà nước. Điều này cũng nhằm xác nhận về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức Thanh tra, do đó, Thanh tra được coi là công cụ có hiệu quả của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng của quản lý. Khi một cơ quan cấp trên ban hành một chủ trương, chính sách nào đó, thanh tra sẽ giúp cơ quan này biết được việc triển khai thực hiện chủ trương, chính sách đó ở cấp dưới, mà còn biết được tình hình những sơ hở, khiếm khuyết hoặc những nội dung quản lý của địa phương chưa sát với chủ trương, chính sách đó cũng như tình hình thực tế ở địa phương; đồng thời thanh tra còn giúp cho địa phương kịp thời sửa chữa uốn nắn nếu làm sai hoặc làm chậm. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 13 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Vì vậy, những thông tin thanh tra cung cấp cho cơ quan cấp trên, cho người lãnh đạo đòi hỏi có độ chính xác, trung thực cao cũng như tính khách quan của đời sống xã hội. Tuy nhiên, để những thông tin có độ chính xác đó, đòi hỏi thái độ của người thanh tra viên phải có tính cẩn trọng, tỉ mỉ khi xem xét một cách thấu đáo và đánh giá vụ việc thanh tra một cách khách quan, trung thực mà không thể áp đặt ý chí chủ quan của mình vào việc kết luận vụ việc thanh tra. Theo Hồ Chủ Tịch: “Thái độ của người cán bộ thanh tra phải cẩn thận. - Nghe không được thiên lệch, nghe một bên, nên nghe người này, nghe người kia. - Phải khách quan. Chớ do ý muốn mà suy đoán chủ quan của mình. - Chống quan liêu: Thanh tra muốn biết, muốn thấy, muốn hiểu rõ sự thật ở cơ quan, ở địa phương nào đấy phải đến tận nơi nghe ngóng, tìm tòi, chịu khó. Quan liêu sẽ không làm được nhiệm vụ Phải cẩn thận khách quan, điều tra, nghiên cữu kỹ lưỡng, chịu khó”17. Sự phản ánh của thanh tra đòi hỏi tính chính xác, khách quan, song không thể phản ánh một cách đơn giản tình hình vụ việc thực tế, mà sự phản ánh phải mang tính chắt lọc, được xem xét thông qua những phân tích, đánh giá cùng với những kiến nghị đề xuất phù hợp. 1.2.3.3. Bảo đảm tính dân chủ, công khai trong hoạt động thanh tra Trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng đã nhấn mạnh việc “định kỳ kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa”. Nghị quyết cũng xác định một trong những biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng là phải “tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, bảo đảm tính minh bạch trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, tài chính đảng, đoàn thể, tài chính các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ do nhân dân đóng góp và do nước ngoài viện trợ”. Theo đó, việc tiến hành thanh tra phải được thực hiện thường xuyên, công khai, bảo đảm tính minh bạch trong công tác thanh tra, nhất là đối với lĩnh vực tài chính của các cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước. Tính công khai, minh bạch phải được thể hiện ở những nội dung sau18: Thứ nhất, trong quá trình thanh tra, người tiến hành thanh tra phải thông báo cho đối tượng thanh tra về những nội dung thanh tra và kết luận thanh tra; 17 Một số văn kiện về công tác thanh tra: Huấn thị của Hồ Chủ Tịch về công tác thanh tra tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc ngày 19/4/1957, tr 7- 10. 18 Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr.36. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 14 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp Thứ hai, phải bảo đảm các quyền của đối tượng thanh tra trong việc giải trình những nội dung liên quan, khiếu nại, tố cáo về quyết định thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra, hành vi của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác của Đoàn thanh tra, Thủ trưởng cơ quan thanh tra...; Thứ ba, bảo đảm yêu cầu không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra. Như vậy, nguyên tắc dân chủ, công khai minh bạch là một trong những nguyên tắc nhằm bảo đảm cho hoạt động thanh tra nói riêng, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát nói chung thực hiện được mục đích xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân, nhằm bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn, mà không phải là làm cản trở, đình trệ hoạt động của các cơ quan, tổ chức vị thanh tra. Bên cạnh đó việc xác định nguyên tắc này còn nhằm ngăn ngừa hạn chế tình trạng thanh tra trùng lặp, kéo dài, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng bị thanh tra. 1.2.3.4. Bảo đảm tính trách nhiệm trong việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, cá nhân thanh tra Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự thanh tra thì đó chính là nguyên nhân của bệnh quan liêu, dẫn đến tham ô, lãng phí. Ngay từ năm 1945, trong Sắc lệnh số 64-SL của Hồ Chủ Tịch ký ngày 23/11/1945 về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt đã có quy định quyền hạn của Ban Thanh tra đặc biệt là: “đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Uỷ ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi”. Sắc lệnh số 138b-SL ngày 18/12/1949 về việc thành lập Ban Thanh tra Chính phủ có quy định nhiệm vụ của Ban là “thanh tra các nhân viên Uỷ ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết”. Tại Sắc lệnh số 261-SL ngày 28/3/1956 về việc thành lập Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ có giao nhiệm vụ “thanh tra việc thực hiện kế hoạch nhà nước, việc sử dụng, bảo quản tài sản nhà nước, chống phá hoại, tham ô, lãng phí”. Luật Thanh tra 2010 cũng quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan nhà nước (Điều 8): “Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 15 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp động thanh tra, xử lý kịp thời kết luận, kiến nghị thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”. Luật Thanh tra năm 2010 đã cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động thanh tra tại Điều 10: 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra, có quyền giải trình về nội dung thanh tra, có quyền và trách nhiệm theo quy định khác của pháp luật. 2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải cung cấp đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp; có quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Để thực hiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, pháp luật cũng quy định cơ quan thanh tra trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Riêng về Thanh tra nhân dân, Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động. Còn đối với Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước do Ban chấp hành Công đoàn cơ sở ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động.19 Như vậy, việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi sai phạm của cá nhân, cơ quan có trách nhiệm, của các cá nhân, tổ chức là đối tượng bị quản lý sẽ bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý. Mặt khác, việc tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, phát hiện những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý. Tuy nhiên, việc phát hiện, tìm kiếm sai phạm, sơ hở, yếu kém trong quản lý cũng chưa đủ, mà thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều kiện cho những nhân tố mới, cơ chế mới nảy sinh phát triển. Có như vậy thì hiệu quả công 19 Điều 12 Luật thanh tra năm 2010. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 16 SVTH: Lê Thị Nghi Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp tác quản lý mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn, điều này được thể hiện ở những nội dung sau: Một là, hoạt động thanh tra (dù được thực hiện bằng phương thức gì, do cơ quan nào tiến hành) phải thể hiện tính kỷ cương pháp luật. Bởi vì, sự hiện diện của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát là nhằm nhắc nhở tới mọi đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát rằng: pháp luật phải được tuân thủ. Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ, thường xuyên hay đột xuất luôn tạo ra một “sức ép” thường trực lên các đối tượng và nhờ đó đã hạn chế sự vi phạm pháp luật. Vì vậy, thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ thực hiện chức năng bảo đảm pháp chế mà còn thực hiện chức năng tìm hiểu, giúp đỡ, định hướng cho các đối tượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật, nhất là đối với một Nhà nước chuyển từ mô hình kinh tế tập trung sang Nhà nước đảm nhận vai trò dịch vụ công. Khi đó, các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ thực sự trở thành một trong những địa chỉ tin cậy của mọi thành phần kinh tế để có thể nhận được những khuyến nghị, những chỉ dẫn bảo đảm cho hoạt động của mình đúng pháp luật. Hai là, trong quá trình thanh tra, các đánh giá, kết luận và kiến nghị có thể đưa ra những phân tích sâu sắc, đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm, song các giải pháp được đưa ra không chỉ hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật phát hiện được, mà nó còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, nhằm ngăn ngừa những phát sinh những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra. Ba là, hoạt động thanh tra dù là loại hình nào cũng luôn luôn có tính định hướng và tính xây dựng. Vai trò phòng ngừa của thanh tra được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động. Trong rất nhiều trường hợp, thông qua hoạt động thanh tra mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, không có sự định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời. 1.2.4. Hành vi bị cấm trong hoạt động thanh tra Hoạt động thanh tra đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý Nhà nước. Nhưng trong quá trình hoạt động thanh tra có các hành vi bị nghiêm cấm thực hiện:20 Một là, lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra. 20 Điều 13 Luật Thanh tra năm 2010. GVHD: Lâm Bá Khánh Toàn Trang 17 SVTH: Lê Thị Nghi
- Xem thêm -