Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại việt nam

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài. Hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã có từ lâu trong lịch sử. Song, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 trở lại đây, hiện tượng này mới thực sự phổ biến và diễn biến phức tạp, nhiều tiêu cực không đảm bảo được nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, đi ngược lại với giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Hàng năm có khoảng 10.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, chủ yếu là với người Đài Loan và Hàn Quốc. Hình ảnh hàng chục, thậm chí là hàng trăm cô gái đứng xếp hàng để những người đàn ông Hàn Quốc, Đài Loan xem xét, lựa chọn như một món “hàng hóa” như những bài báo phản ánh đã không còn lạ lẫm với nhiều người hay những vụ án giết người đau lòng như việc cô dâu Huỳnh Mai bị chồng người Hàn Quốc hành hạ cho đến chết rồi giấu xác, vụ cô dâu Thạch Thị Hồng Ngọc bị người chống Hàn Quốc giết chỉ sau 7 ngày chung sống…Thực trạng trên đòi hỏi Nhà nước ta cần có những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân của nước mình. Trong thời gian gần đây, nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung và kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng như Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN & GĐ), Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 07 năm 2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ( sau đây gọi tắt là Nghị định 68/2002/NĐ-CP); Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 07 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ( sau đây gọi tắt là Nghị định 69/2006/NĐ-CP); Chỉ thị số 03/2005/CT-TTg ngày 25/02/2005 tăng cường quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;…Các văn bản pháp luật này góp phần tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân bảo vệ quyền và lợi ích tốt hơn cho các công dân nước mình, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi các quy định pháp luật này thì còn gặp một số bất cập, vướng mắc do những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trước thực trạng trên thì việc lựa chọn nghiên cứu một cách tổng thể những quy định pháp luật hiện hành, tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý 1 luận cũng như thực trạng để từ đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đánh giá một cách khái quát, tổng thể những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng như thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài  Đối tượng nghiên cứu là vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.  Phạm vi nghiên cứu đề tài: Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề tương đối rộng, vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ chuyên ngành Luật HN & GĐ thông qua việc phân tích những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề này, tình hình thực thi những quy định pháp luật trong thời gian gần đây từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của những quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. 4. Phương pháp nghiên cứu đề tài. Trong quá trình nghiên cứu khóa luận thì tác giả có sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu, số liệu thống kê. Ngoài ra thì khóa luận còn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích những số liệu cụ thể về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài của một số tỉnh thành trong cả nước qua các năm. 5. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài Nghiên cứu về kết hôn có yếu tố nước ngoài là một đề tài luôn nhận được sự quan tâm các nhà luật học. Trong khoa học pháp lý thì đề tài này được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu, luận án, luận văn, tạp chí pháp lý chuyên ngành như Nông Quốc Bình, Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, 2003; Nguyễn Văn Cừ, Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về luật HN & GĐ năm 2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; T.s Nông Quốc Bình, T.s Nguyễn Hồng Bắc, Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2 2006…Tuy cùng một vấn đề nhưng các công trình nghiên cứu trên lại nhìn nhận vấn đề ở những mức độ khác nhau và có những đóng góp ý nghĩa. Với đề tài “ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”, tác giả hy vọng có những đóng góp mới trên cơ sở : Phân tích những quy định về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài; đánh giá tổng thể thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về kết hôn có yếu tố nước ngoài để từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 6. Bố cục của đề tài. Ngoài Lời cám ơn, Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo thì bố cục khóa luận được chia thành 3 chương  Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài  Chương 2. Những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam  Chương 3. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. 3 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài 1.1.1. Khái niệm kết hôn Gia đình là tế bào của xã hội, là khởi nguồn nền tảng của mọi mối quan hệ xã hội phát sinh giữa con người với con người và hôn nhân chính là cơ sở nền tảng tạo nên một gia đình. Để tiến tới hôn nhân thì kết hôn chính là sự kiện pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác lập hôn nhân giữa một nam và một nữ. Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN &GĐ nói riêng thì hiểu được thế nào là kết hôn có ý nghĩa rất quan trọng. Trong hệ thống pháp luật HN & GĐ thì khái niệm kết hôn được các nhà làm luật và nghiên cứu luật quan tâm, đầu tư nghiên cứu. Theo cách hiểu thông thường thì kết hôn là “Việc nam nữ lấy nhau làm vợ chồng” [31]. Dưới góc độ luật học, từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Đại học Luật Hà Nội thì kết hôn được hiểu là “ Sự kiện pháp lý giữa người nam và người nữ trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện theo điều kiện và trình tự nhất định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, hòa thuận”[17]. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 thì “ Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [10]. Về mặt pháp lý thì kết hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản và quan trọng của con người được nhà nước bảo vệ trên cơ sở quy định của pháp luật. Để bảo vệ quyền kết hôn thì pháp luật của hầu hết các quốc gia trong đó có Việt Nam đều quy định đầy đủ điều kiện kết hôn cũng như trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký kết hôn. Nhằm tiến tới xác lập một quan hệ hôn nhân bền vững, hạnh phúc, tiến bộ thì pháp luật HN & GĐ Việt Nam nói riêng và pháp luật HN & GĐ của các quốc gia khác đều quy định nam, nữ muốn kết hôn với nhau thì phải đáp ứng hai yếu tố cơ bản sau :  Phải là sự thể hiện ý chí của hai bên nam nữ là mong muốn được kết hôn với nhau 4 Đây chính là yếu tố quan trọng đầu tiên khi các bên muốn xác lập quan hệ hôn nhân với nhau. Hai bên nam nữ cùng thể hiện ý chí của mình là mong muốn được kết hôn với nhau để cùng xây dựng một gia đình hạnh phúc, ấm no, bền vững và tiến bộ. Ý chí mong muốn kết hôn với nhau phải tự nguyện, thống nhất. Đây cũng chính là điều kiện đủ để đảm bảo cuộc hôn nhân đó có giá trị pháp lý. Đối với những trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn có sự lừa dối, cưỡng ép để được kết hôn hoặc kết hôn giả tạo thì nhà nước không thừa nhận việc kết hôn đó là hợp pháp[18, tr 89, 90].  Việc kết hôn được nhà nước thừa nhận Hôn nhân được nhà nước thừa nhận khi việc kết hôn đó tuân thủ các quy định pháp luật về điều kiện kết hôn và trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn. “ Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo Luật Hôn nhân và gia đình khi người đó kết hôn. Hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân”[1]. Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý nhằm xác lập quan hệ vợ, chồng. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác lập thời điểm làm phát sinh quan hệ vợ chồng, là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên theo quy định pháp luật. 1.1.2. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại Khoản 14, Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 thì quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: - Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài - Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam - Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài[10]. Ngoài ra thì Khoản 4, Điều 100 Luật HN & GĐ năm 2000 còn có quy định: “ Các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài” [10]. Theo đó thì yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được xác định dựa vào các dấu hiệu sau : Thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân này phải có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. 5 Thứ hai, sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài. Thứ ba, khách thể của quan hệ đó ở nước ngoài. Quan hệ kết hôn là một bộ phận của quan hệ hôn nhân do đó mà để xác định yếu tố nước ngoài của quan hệ kết hôn ta dựa vào các dấu hiệu để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân. Như vậy, có thể xác định kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ, chồng thuộc những trường hợp sau:  Trường hợp thứ nhất, kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài : Trong trường hợp này thì một bên nam hoặc nữ là người nước ngoài. Dấu hiệu để xác định người nước ngoài chính là quốc tịch. Theo đó thì người nước ngoài ở đây được hiểu là “ Người không có quốc tịch Việt Nam bao gồm người dân nước ngoài và người dân không quốc tịch” [13, Khoản 1, Điều 9]. Người dân nước ngoài là người mang quốc tịch của nước khác không phải Việt Nam và người dân không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài. Như vậy, quốc tịch chính là một trong những dấu hiệu để xác định đó có phải là kết hôn có yếu tố nước ngoài hay không.  Trường hợp thứ hai, kết hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam : Đây là trường hợp người thường trú là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không có quốc tịch đang cư trú, làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam tiến hành đăng ký kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam . Trường hợp này cũng được xác định là kết hôn có yếu tố nước ngoài.  Trường hợp thứ ba, hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài: Trường hợp này thì việc xác định yếu tố nước ngoài dựa vào dấu hiệu là sự kiện pháp lý (sự kiện kết hôn) làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai công dân Việt Nam với nhau được xác lập ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài.  Trường hợp thứ tư, hai bên nam, nữ đều là công dân Việt Nam nhưng ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài vào thời điểm đăng ký kết hôn : Trường hợp này xác định yếu tố nước ngoài của việc kết hôn dựa vào nơi cư trú của hai bên tại thời điểm đăng ký kết hôn. Trường hợp này không được ghi nhận tại Khoản 14, Điều 8 Luật HN & GĐ năm 2000 nên trong thời gian tới nhà làm luật cần bổ sung. Bên cạnh đó thì việc hiểu thế 6 nào là “ định cư ở nước ngoài” cũng là vấn đề đang tranh cãi. Theo Luật Quốc tịch năm 2008 thì “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” [11, Khoản 4, Điều 2]. Vấn đề đặt ra là hiện nay chúng ta chưa có một hướng dẫn cụ thể như thế nào là “… cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Chính bất cập của quy định pháp luật như vậy mà việc áp dụng trên thực tế cũng gặp không ít khó khăn. Từ những phân tích trên thì có thể hiểu kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc xác lập quan hệ vợ, chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; Giữa hai công dân Việt Nam với nhau kết hôn ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài; Giữa công dân Việt Nam với nhau mà tại thời điểm đăng ký kết hôn có ít nhất một bên đang định cư ở nước ngoài. 1.2. Khái quát sự phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài 1.2.1. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thì Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến. Mặc dù trong giai đoạn này có không ít các cuộc kết hôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài, đặc biệt là người Pháp những chưa có một quy định nào có liên quan điều chỉnh vấn đề này. Các quan hệ hôn nhân trong giai đoạn này được điều chỉnh bởi các quy phạm trong Bộ dân luật được áp dụng cho từng khu vực như Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936, Bộ dân luật giản yếu năm 1883 ở Nam kỳ[24, tr23]. Các bộ Luật này có đề cập đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng thực chất là các quy định liên quan đến vấn đề quốc tịch. Không có các quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Như vậy, giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thì pháp luật Việt Nam còn bỏ ngỏ các quy định liên quan đến vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. 1.2.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 Đây là giai đoạn đầy biến động trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/09/1945 tại Quảng trường Ba Đình, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà nước mới ra đời, còn non trẻ nên phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thù trong giặc 7 ngoài. Nhiệm vụ đặt ra trước mắt là phải đưa đất nước vượt qua tình cảnh khó khăn nên hầu như trong giai đoạn này không ban hành các văn bản pháp luật mới nào kể cả luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân. Ngày 10/10/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh quy định tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới trừ những quy định đi ngược lại với độc lập dân tộc hoặc lợi ích của người dân. Theo đó, đến trước tháng 5/1950 thì các vấn đề liên quan đến quan hệ dân sự ( trong đó có quan hệ HN & GĐ) vẫn chịu sự điều chỉnh là các Bộ Dân luật trước đó. Trong giai đoạn này thì bản Hiến pháp năm 1946- bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ban hành. Lần đầu tiên trong lịch sử, địa vị pháp lý của người phụ nữ được bình đẳng với đàn ông “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [6, Điều 9]. Đây là một quy định rất tiến bộ, tạo cơ sở để người phụ nữ được hưởng những quyền bình đẳng như người đàn ông theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống, kể cả trong quan hệ hôn nhân. Ngày 22/05/1950, Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh 97 quy định sửa đổi một số quy lệ và quy chế dân luật. Điểm tiến bộ của sắc lệnh này là đã bãi bỏ việc thi hành những quy định trái với nguyên tắc tiến bộ trong quan hệ HN & GĐ. Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn chưa có một quy định pháp luật nào điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. 1.2.3. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 Đây là thời kỳ đất nước bị chia làm hai miền nam - bắc. Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó mà thời kỳ này, pháp luật điều chỉnh các vấn đề trong đó có quan hệ HN & GĐ chịu sự điều chỉnh của mỗi miền là khác nhau :  Pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài ở miền Bắc. Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp đã ghi nhận các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các quan hệ trong xã hội, trong đó có quan hệ HN & GĐ. Ngày 29/12/19659, Quốc hội thông qua Luật HN & GĐ tại kỳ họp thứ 11. Tuy nhiên, Luật HN & GĐ năm 1959 vẫn chưa có một quy định cụ thể nào điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. 8  Pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài ở miền Nam Cho đến trước năm 1959 thì các quan hệ dân sự nói chung và quan hệ HN & GĐ nói riêng đều chịu sự điều chỉnh của Pháp quy giản yếu năm 1883. Ngày 2/01/1959, Chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Luật Gia đình thay thế Pháp quy giản yếu năm 1883 để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân trong khu vực tạm thời nằm dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn. Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài được ghi nhận tại Điều 24, Điều 25, Điều 70 quy định về điều kiện, thủ tục về tính hợp pháp của hôn thú được xác lập ở nước ngoài giữa người Việt Nam với nhau hoặc giữa người Việt Nam với người nước ngoài. Tháng 11/1963, Chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính quyền bù nhìn lên ngôi đã ban hành Sắc lệnh 15/64 thay thế Luật Gia đình nhưng nhìn chung thì nội dung không có gì thay đổi mà chỉ thay đổi về mặt cấu trúc [22]. Ngày 20/12/1972, Bộ Dân luật được ban hành thay thế Sắc lệnh 15/64. Các quan hệ hôn nhân từ 12/1972 đến 30/04/1975 đều chịu sự điều chỉnh của Bộ Dân luật 1972. Bộ luật này có quy định về điều kiện, thủ tục của một hôn thú được lập ở nước ngoài có giá trị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ tại Điều 125. Tuy nhiên, trong giai đoạn này ở miền Nam chưa có một quy định nào trực tiếp, cụ thể điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. 1.2.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Ngày 30/04/1975 đánh dấu một bước ngoặt mới trong lịch sử dân tộc, đất nước hoàn toàn được giải phóng, cả nước chung tay xây dựng đất nước. Theo đó, nhiều chính sách pháp luật mới được ban hành. Trong giai đoạn này cũng đánh dấu sự thay đổi, phát triển mới của pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Cụ thể :  Giai đoạn từ 1975 đến trước năm 1986 : Quan hệ hôn nhân và gia đình chịu sự điều chỉnh của Luật HN & GĐ năm 1959. Năm 1980, Hiến pháp thứ 3 ra đời với nhiều điểm tiến bộ trong đó có quy định ghi nhận “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”, “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng”[7]. Quy định này cùng với Luật HN & GĐ năm 1959 đã tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh vấn đề kết hôn nói chung và vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, các quy định này chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền chứ chưa có quy định cụ thể, trực tiếp nào điều chỉnh vấn đề kết hôn có 9 yếu tố nước ngoài. Trong giai đoạn này, Việt Nam cũng tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp ( HĐTTTP) quy định về vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài như HĐTTTP Việt Nam- Liên Xô (cũ) năm 1981, HĐTTTP Việt Nam- Tiệp Khắc (cũ) năm 1983, HĐTTTP Việt Nam – Cu Ba năm 1984…. Các HĐTTTP này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình, là cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột pháp luật điều chỉnh vấn đề này.  Giai đoạn từ 1986 đến năm 1993: Ngày 29/12/1986, Quốc hội khóa VII thông qua Luật HN & GĐ thay thế Luật HN & GĐ năm 1959. Luật HN & GĐ năm 1986 đã dành Điều 52 để quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài : “ Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn. Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân thủ các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định” [9]. Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 12/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 01 tháng 02 năm 1989 về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó thì Pháp lệnh lãnh sự 1990 cũng có quy định “ Trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với công dân nước ngoài thì lãnh sự chỉ đăng ký khi nước tiếp nhận đăng ký đồng ý”. Có thể thấy rằng kết hôn có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này đã được quan tâm đáng kể. Tuy nhiên với một điều luật quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài thì việc áp dụng trên thực tế vẫn còn gặp những vướng mắc do đó cần phải có các quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này cho hiệu quả và kịp thời.  Giai đoạn từ 1993 đến năm 2000 : Ngày 2/12/1993, Quốc hội khóa IX thông qua Pháp lệnh HN & GĐ điều chỉnh quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Tuy nhiên, pháp lệnh chỉ đề cập đến việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà bỏ ngỏ trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài và kết hôn giữa hai người nước ngoài với nhau tại Việt Nam. Trong giai đoạn này thì Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài như : Nghị định số 184-CP ngày 30/11/1994 về thủ tục kết hôn, nhận con nuôi ngoài dạ thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; Luật Quốc tịch năm 1998; Nghị định 83/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về 10 đăng ký hộ tịch…Cùng với các văn bản pháp luật trên, thời kỳ này các HĐTTTP liên quan đến vấn đề HN & GĐ giữa Việt Nam với một số nước được ký kết như HĐTTTP Việt Nam - Ba Lan ngày 22/03/1993, HĐTTTP Việt Nam - Liên Bang Nga ngày 25/08/1998, HĐTTTP Việt Nam - Pháp ngày 24/02/1999… Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000, pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hệ thống, dần được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi trên thực tế.  Giai đoạn từ năm 2000 đến nay : Đây là giai đoạn nước ta bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế với nhiều sự thay đổi nhanh chóng trên các mặt của đời sống kinh tế- xã hội. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng ít nhiều chịu tác động. Vì vậy cần phải có những quy định pháp luật cụ thể, chi tiết để điều chỉnh. Chính vì điều này mà Luật HN & GĐ năm 2000 ra đời. Luật đã dành riêng một chương để quy định về vấn đề quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và quy định về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại các Điều 100, Điều 101, Điều 102, Điều 103. Ngoài ra thì Chính phủ còn ban hành các Nghị định hướng dẫn chi tiết vấn đề này như Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 07 năm, Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 07 năm 2006 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 ….Và hiện nay, Luật Hộ tịch đang được soạn thảo và dự kiến sẽ được thông qua vào năm 2013, trong đó có một số điều luật quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài trở thành tâm điểm chú ý của dư luận như thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, thời hạn tiến hành đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài… Như vậy, từ năm 2000 trở lại đây thì pháp luật điều chỉnh về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài đã trở thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi trên thực tế, đáp ứng được yêu cầu đang đặt ra trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay. 1.3. Ý nghĩa của việc quy định vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài được hình thành từ rất lâu trong xã hội Việt Nam nhưng pháp luật điều chỉnh vấn đề này thì chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây. Trong những năm trở lại đây, kết hôn có yếu tố nước ngoài này trở thành vấn đề “nóng”, “nhạy cảm” của xã hội nên cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để 11 điều chỉnh vấn đề này. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định điều chỉnh vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng. Cụ thể :  Thứ nhất, việc quy định vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài là yêu cầu khách quan trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, các nước có xu thế xích lại gần nhau hơn, tăng cường giao lưu học hỏi trên các mặt kinh tế- xã hội- văn hóa. Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng vì thế mà ít nhiều chịu ảnh hưởng. Vấn đề này liên quan đến hệ thống pháp luật của các quốc gia, pháp luật quốc tế cũng như quyền lợi của công dân nước mình. Chính vì điều này mà cần phải có những quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài để đáp ứng yêu cầu.  Thứ hai, pháp luật về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài góp phần bảo vệ quyền kết hôn của công dân. Quyền kết hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản được pháp luật ghi nhận và được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Quyền kết hôn được ghi nhận tại Điều 39 BLDS năm 2005 : “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HN & GĐ có quyền tự do kết hôn. Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”[2]. Việc quy định vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài trong hệ thống pháp luật chính là bảo vệ quyền nhân thân cơ bản này của con người, thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kết hôn của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân trong việc xác lập quan hệ vợ, chồng, được hưởng hạnh phúc gia đình.  Thứ ba, việc điều chỉnh vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài giúp nhà nước quản lý tốt quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay thì quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng diễn biến ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc ban hành các quy phạm pháp luật có tính hệ thống để điều chỉnh vấn đề này sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc giúp nhà nước quản lý tốt vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài, định hướng quan hệ kết hôn này trong một khuôn khổ pháp lý để tạo nên những cuộc hôn nhân lành mạnh, hợp pháp, bền vững và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế như hiện nay.  Thứ tư, kết hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề phức tạp và nhạy cảm, không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia mà còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước 12 ngoài, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế. Việc xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này một cách hoàn thiện góp phần tăng cường thúc đẩy sự giao lưu, hợp tác về mọi mặt pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam với các quốc gia khác; đồng thời củng cố, tăng cường quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các quốc gia khác, các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế.  Thứ năm, pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài được hình thành còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam hiện nay. Mặc dù, hiện nay vấn đề này có nhiều tiêu cực nhưng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng hôn nhân được hình thành từ kết hôn có yếu tố nước ngoài đã tạo ra những thế hệ tương lai khỏe mạnh, chiều cao được tăng cường. Hơn thế, việc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tạo thành các gia đình đa quốc tịch, đa văn hóa trở thành cầu nối giữa văn hóa Việt Nam và các nước trên thế giới; tiếp nhận giá trị văn hóa mới và có sự giao thoa về văn hóa giữa các dân tộc với nhau. Giúp chúng ta phát triển du lịch, giới thiệu với các nước khác về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, phong cảnh, phong tục tập quán cũng như con người Việt Nam thân thiện. Tóm lại, những quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể thi hành pháp luật giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật. Đồng thời làm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng hệ thống, đồng bộ, minh bạch, cụ thể 13 CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HN & GĐ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM Kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào pháp luật trong nước mà còn phụ thuộc vào pháp luật nước ngoài. Do vậy phải đặt ra nguyên tắc áp dụng luật nhằm điều chỉnh có hiệu quả vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Khoản 1, Điều 103 Luật HN & GĐ theo đó pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật nhân thân ( gồm hệ thuộc luật quốc tịch và luật nơi cứ trú) của đương sự để xác định điều kiện kết hôn. Về nguyên tắc chọn luật trong nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài thì hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định trực tiếp điều chỉnh vấn đề này nhưng tại Điều 20 Nghị định 68/2002/NĐ-CP có quy định về việc công nhận tính hợp pháp của hôn nhân được tiến hành ở nước ngoài. Theo đó thì pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận một cách gián tiếp nguyên tắc áp dụng luật về nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài là nguyên tắc luật nơi tiến hành đăng ký kết hôn. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định nguyên tắc áp dụng luật đã thể hiện rõ quy định ưu tiên chọn pháp luật Việt Nam. Điều này tạo ra những thuận lợi trong quá trình giải quyết các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. 2.1. Điều kiện kết hôn 14 Điều kiện kết hôn là những quy định mang tính pháp lý bắt buộc mà nhà nước đặt ra cho các bên nam nữ khi kết hôn phải tuân thủ. Muốn xác lập một quan hệ hôn nhân hợp pháp thì phải đáp ứng các điều kiện kết hôn và phải được sự thừa nhận của nhà nước tức là phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, điều kiện kết hôn là tiền đề để các chủ thể kết hôn tiến tới xây dựng một gia đình. 2.1.1. Trường hợp đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Khoản 1, Điều 103 Luật HN & GĐ năm 2000 và Điều 10 Nghị định 68/2002/NĐ –CP. “ Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam. Trong việc kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú ( đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn” [13]. Với quy định trên thì khi tiến hành đăng ký kết hôn trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì các bên ( bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài ) phải đáp ứng các điều kiện kết hôn tại Điều 9 và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn tại Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000. Bên cạnh đó thì người nước ngoài còn phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nước mình mang quốc tịch hoặc nơi cư trú ( đối với người không quốc tịch ). Theo đó, điều kiện kết hôn mà các bên phải đáp ứng khi tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam là về độ tuổi, về sự tự nguyện của hai bên nam, nữ và không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cụ thể:  Điều kiện về tuổi kết hôn Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ kết hôn xem độ tuổi là điều kiện tiên quyết để xác định đó có phải là cuộc hôn nhân hợp pháp hay không. Một người muốn kết hôn thì phải đạt một độ tuổi nhất định theo luật định. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9 15 Luật HN & GĐ năm 2000 có quy định về độ tuổi kết hôn như sau : “ nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” [10]. Trong các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài thì công dân Việt Nam hay người nước ngoài đều phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi là nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám thì mới được phép tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Bên cạnh đó thì người nước ngoài khi tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài việc phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi kết hôn theo pháp luật HN & GĐ Việt Nam thì còn phải đáp ứng điều kiện về tuổi kết hôn theo pháp luật của nước mà mình mang quốc tịch hoặc cư trú ( đối với người không quốc tịch). Về điều kiện độ tuổi kết hôn thì mỗi nước có những quy định khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý của con người ở mỗi nước như Angola (12 tuổi), Nga (16 tuổi), Malaysia (16 tuổi), Bồ Đào Nha (14 tuổi), Pháp (độ tuổi kết hôn của nữ là 15 tuổi, độ tuổi kết hôn của nam là 18 tuổi), ở Đức nam là 21 tuổi và nữ là 16 tuổi, Thụy Sĩ thì nam là 20 tuổi, nữ là 18 tuổi thì đủ điều kiện kết hôn… Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi để kết hôn như vậy là rất hợp lý bởi đối với con người Việt Nam thì ở độ tuổi này, tâm lý và sinh lý đã có sự phát triển ổn định, bền vững và đã bắt đầu đạt đến sự hoàn thiện cả về thể chất, tâm hồn để có thể chăm sóc, bảo vệ cho bản thân và người thân của họ. Đặc biệt là khi một trong hai bên nam hoặc nữ là người nước ngoài hoặc cả hai bên là người nước ngoài.  Điều kiện về sự tự nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn Sự tự nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn được hiểu là hai bên nam, nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện ý chí là mong muốn trở thành vợ chồng chung sống với nhau lâu dài. Việc kết hôn của hai bên không có sự cưỡng ép hay giả dối. Luật HN & GĐ năm 2000 có quy định : “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” [10, Khoản 2, Điều 9]. Để các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài đảm bảo nguyên tắc tự nguyện khi kết hôn thì pháp luật HN & GĐ Việt Nam quy định thủ tục phỏng vấn nam, nữ trước khi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Khoản 4, Khoản 6, Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì Sở tư pháp tiến hành phỏng vấn các bên để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau. Việc quy định như vậy là hợp lý bởi so với các quan hệ kết hôn 16 thông thường thì quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phức tạp và nhạy cảm hơn nhiều, việc quy định về thủ tục này giúp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra được sự tự nguyện của các bên cũng như hạn chế, ngăn chặn được những trường hợp kết hôn giả tạo, lừa dối vì các mục đích khác. Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về nội dung phỏng vấn nên việc xác định sự tự nguyện kết hôn của các bên còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng kết hôn giả tạo nhằm mục đích xuất cảnh, lý do kinh tế vẫn còn tồn tại gây nhiều bức xúc trong dư luận.  Các trường hợp cấm kết hôn Các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài muốn đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài việc đáp ứng điều kiện về độ tuổi, về sự tự nguyện khi kết hôn thì còn phải đáp ứng điều kiện đó là không thuộc các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000. Theo đó :  Cấm kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng Quy định này xuất phát từ nguyên tắc một vợ, một chồng trong quan hệ HN & GĐ. Việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên tại thời điểm đăng ký kết hôn là đang không có vợ hoặc không có chồng là một điều kiện để được kết hôn. Theo đó, khi xin đăng ký kết hôn thì các bên ( bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài) phải có giấy “ xác nhận tình trạng kết hôn” trong hồ sơ đăng ký kết hôn. Đây là quy định hợp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự, đặc biệt là công dân Việt Nam khi không thể biết được tình trạng hôn nhân của bên kia liệu đã có vợ hay có chồng vào thời điểm đăng ký kết hôn hay chưa.  Cấm kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự Người mất năng lực hành vi dân sự được hiểu là khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định [2, Điều 22]. Theo quy định của Luật HN & GĐ năm 2000 thì người bị mất năng lực hành vi dân sự không được phép kết hôn. Tuy nhiên, quy định này đã trở thành một vướng mắc khi áp dụng pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Đặc biệt là các trường hợp người có nhu cầu kết hôn nhưng từng bị các bệnh về thần kinh dẫn đến không thể nhận thức làm 17 chủ được hành vi của mình, nhưng khi kết hôn thì đã điều trị hoặc uống thuốc nên vào thời điểm đăng ký kết hôn vẫn được cơ sở y tế xác nhận là có đủ điều kiện sức khỏe để kết hôn, mặt khác, họ cũng không thuộc trường hợp bị tòa án tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự nên họ vẫn được phép kết hôn. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống thì người kia mới phát hiện ra. Thực tế này đã dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc như vụ án liên quan đến cô gái Thạch Thị Hồng Ngọc bị chồng là ông Jang Du Hyo- công dân Hàn quốc giết chết sau 7 ngày chung sống. Theo phía Cảnh sát cho biết người đàn ông này đã được điều trị 57 lần vì bệnh tâm thần từ tháng 7-2005 tại Hàn Quốc nhưng không hiểu lý do tại sao vẫn được kết hôn. Thậm chí trước ngày kết hôn 5 ngày người đàn ông này cũng đã nhập viện vì lý do có vấn đề về thần kinh[27].  Cấm kết hôn đối với những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Xuất phát từ việc bảo vệ giống nòi và truyền thống của dân tộc, pháp luật HN & GĐ Việt Nam quy định cấm kết hôn : “Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời”[10, Khoản 3, Điều 10]. Quan điểm của nhà nước Việt Nam đối với những trường hợp này là dứt khoát và không có trường hợp ngoại lệ nhằm đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh của con cái, sự phát triển bền vững, hạnh phúc gia đình và lành mạnh hóa các mối quan hệ gia đình. Bởi theo nghiên cứu khoa học thì những đứa trẻ sinh ra bởi những cặp vợ chồng có cùng huyết thống thường bị dị tật, tỉ lệ tử vong cao hoặc mắc một số bệnh bẩm sinh như mù, câm, điếc… Mặc dù khả năng kết hôn với những người cùng dòng máu trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời trong kết hôn có yếu tố nước ngoài là rất ít nhưng pháp luật Việt Nam cũng đặt ra vấn đề này để hạn chế những hệ lụy xấu có thể xảy ra. Bởi trên thực tế thì ở Việt Nam, có những trường hợp người Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài, sau đó trở về Việt Nam xin đăng ký kết hôn với công dân Việt Nam nhưng giữa họ có quan hệ huyết thống. Ngoài ra còn có hiện tượng kết hôn giả tạo với người cùng huyết thống, người có họ trong phạm vi ba đời nhằm mục đích hợp pháp hóa việc xuất cảnh ra nước ngoài. Vì vậy, pháp luật HN & GĐ Việt Nam quy định như vậy là hợp lý bởi quy định này góp phần bảo vệ nòi giống và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời góp phần ngăn chặn những hành vi biến tướng của kết hôn có yếu tố nước ngoài. 18  Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dưỡng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng Không chỉ cấm kết hôn với người cùng huyết thống, pháp luật Việt Nam còn quy định khi xem xét các trường hợp kết hôn với người nước ngoài thì còn cấm các trường hợp kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chống với con dâu; mẹ vợ với con rể; bố dưỡng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi quy định này không chỉ bảo vệ truyền thống tốt đẹp của gia đình, thuần phong mỹ tục của người Việt mà còn có ý nghĩa trong việc ngăn chặn hiện tượng lợi dụng mối quan hệ phụ thuộc để cưỡng ép kết hôn, kết hôn giả tạo vì mục đích kinh tế, vụ lợi cá nhân.  Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Đây là vấn đề gây tranh cãi và đang có nhiều cách giải quyết khác nhau trên thế giới. Hiện nay, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định chỉ được tiến hành kết hôn giữa nam và nữ. Tuy nhiên, cũng có một số nước công nhận việc kết hôn đồng giới như Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy ,Thụy Điển, Đan Mạch, Iceland, Argentina và năm tiểu bang ở Hoa Kỳ, Iowa, thủ đô Mexico, Connecticut Vermont, New Hampshire, Massachusetts …[32]. Quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính được đa số các nước tán thành trong đó có Việt Nam. Quy định này được ghi nhận tại Khoản 5, Điều 10 Luật HN & GĐ năm 2000: “ cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” [10]. Sở dĩ pháp luật Việt Nam quy định như bởi hiện tượng này trái với thuần phong mỹ tục của nước ta, hơn nữa, xét về mặt khoa học nó không đảm bảo được chức năng của gia đình là tái sản xuất con người để duy trì nòi giống. Tuy nhiên, hiện nay một số quốc gia dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới nhưng cũng có quy định cho phép họ cùng chung sống. Điều này đòi hỏi Việt Nam cũng cần có quy định cho phép người đồng tính được cùng chung sống và đưa ra những quy định để giải quyết tài sản khi họ không còn chung sống. Đối với người nước ngoài khi kết hôn với nhau hoặc kết hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì ngoài đáp ứng các điều kiện kết hôn trên theo pháp luật Việt Nam thì còn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn theo pháp luật của 19 nước mà mình mang quốc tịch hoặc cư trú để đảm bảo giá trị pháp lý của các cuộc kết hôn đó cũng như như bảo vệ được quyền và lợi ích của mình. Bên cạnh đó thì đối với công dân Việt Nam làm việc trong các cơ quan liên quan đến bí mật và an ninh quốc gia thì khi kết hôn có yếu tố nước ngoài họ còn phải tuân theo các quy định của ngành để đảm bảo không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật an ninh quốc gia như điều kiện về dân tộc, tôn giáo… Như vậy, hầu hết các điều kiện kết hôn trong kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật HN & GĐ Việt Nam hiện nay tương đối phù hợp với bối cảnh kinh tếxã hội Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế 2.1.2. Trường hợp công nhận việc kết hôn có yếu tố nước ngoài đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Theo quy định tại khoản 7, Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 07 năm 2006 sửa đổi bổ sung Điều 20 của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 07 năm 2002 có quy định : “ Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn”, đồng thời “Việc công nhận kết hôn quy định tại khoản 1 Điều này được ghi chú vào sổ đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch” [14]. Theo quy định trên thì việc kết hôn của công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có thể được công nhận hoặc không công nhận tại Việt Nam. Điều đó được hiểu là không phải mọi trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc giữa công dân Việt Nam đang ở nước ngoài với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đều được công nhận tại Việt Nam. Pháp luật Việt Nam chỉ công nhận những trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài này khi :  Vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn : Điều này có thể được hiểu là khi xem xét công nhận việc kết hôn này thì phải xác định tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân này thì công dân Việt Nam có đáp ứng các điều kiện kết hôn tại Điều 9 và các trường hợp cấm kết hôn được quy định tại Điều 10 20
- Xem thêm -