Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần may mặc qtnp

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại CHƯƠNG I : Tổng quan nghiên cứu kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc 1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu kế toán nghiệp vụ xuất khẩu Trong xu thế quốc tế và toàn cầu hoá như hiện nay, đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động kinh doanh nói chung và ngoại thương nói riêng ngày càng được chính phủ chú trọng và tạo điều kiện để phát triển trên mọi phương diện. Nhắc đến ngoại thương thì không thể không nói đến hoạt động xuất khẩu. Xuất khẩu không chỉ mang lại doanh thu và lợi nhuận cho các doanh nghiệp mà nó còn giảm nhập siêu, giúp cân bằng cán cân thanh toán, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất cũng như là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Với những lợi ích kể trên thì xuất khẩu đã, đang và sẽ trở thành một trong những hoạt động quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thì kế toán đã trở thành một công cụ không thể thiếu. Đặc biệt là với các doanh nghiệp xuất khẩu, với đặc thù là hoạt động kinh doanh phức tạp, có liên quan đến các quan hệ thương mại quốc tế thì kế toán lại càng đóng vai trò quan trọng. Có được những thông tin chính xác, phản ánh kịp thời không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý, theo dõi được tình hình kinh doanh của mình mà còn là cơ sở để các nhà đầu tư, các khách hàng… đưa ra được các quyết định đúng đắn. Do đó để đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu diễn ra thuận lợi, đặc biệt cho việc tính toán xác định kết quả được chính xác, công tác kế toán là vô cùng cần thiết. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để phù hợp với các điều luật và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên trong thực tế thì hoạt động kế toán xuất khẩu tại các doanh nghiệp bên cạnh những điều đã làm được thì cũng nổi lên không ít khó khăn. Cụ thể là qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần may mặc QTnP cũng như thông qua kết quả các phiếu điều tra đã tổng hợp được thì em nhận thấy hoạt động kế toán nghiệp vụ xuất khẩu trong đơn vị thực tập ngoài những thuận lợi còn tồn tại một vài hạn chế. Do đó việc nghiên cứu nhằm Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ xuất khẩu là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này nói chung cũng như công ty QTnP nói riêng. 1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề Xuất phát từ vai trò của kế toán nghiệp vụ xuất khẩu đối với các doanh nghiệp và yêu cầu phải thường xuyên hoàn thiện công tác kế toán sao cho phù hợp, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn hoạt động xuất khẩu cũng như từ thực tế hoạt động kế toán nghiệp cụ xuất khẩu tại công ty cổ phần may mặc QTnP, em quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần may mặc QTnP”. Luận văn nghiên cứu quy trình hạch toán kế toán nghiệp vụ xuất khẩu và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán xuất khẩu tại công ty. 1.3. Mục tiêu hướng tới khi nghiên cứu đề tài Mục tiêu hướng tới khi nghiên cứu đề tài: “Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần may mặc QTnP” là: - Phân tích hệ thống hóa về mặt lý luận cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán nghiệp vụ xuất khẩu. - Tìm hiểu thực trạng công tác kế toán xuất khẩu hàng may mặc tại công ty; từ đó rút ra những thuận lợi, khó khăn và đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán nghiệp vụ xuất khẩu. 1.4. Phạm vi nghiên cứu Do thời gian có hạn nên luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề cơ bản; các văn bản pháp luật quy định về hoạt động kế toán xuất khẩu và tìm hiểu thực trạng của công ty, đưa ra đánh giá hoạt động công tác kế toán xuất khẩu tại đây dựa trên số liệu trong năm tài khóa 2010 và nghiên cứu thêm về số liệu năm tài khóa 2009 của CTCP may mặc QTnP. Luận văn có sử dụng hệ thống dữ liệu bao gồm: Hệ thống BCTC năm 2009 và các sổ sách, số liệu 3 tháng đầu năm 2010 liên quan đến kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại công ty. Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại 1.1.5. Kết cấu của luận văn Luận văn chia ra thành 4 chương, tập trung nghiên cứu về kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần QTnP: Chương I: Tổng quan nghiên cứu kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc. Trình bày về tính cấp thiết của đề tài qua đó xác lập và tuyên bố đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó trong chương này cũng đưa ra mục tiêu nghiên cứu và kết cấu của luận văn khi đi nghiên cứu đề tài. Chương II: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc. Trong chương này trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài. Tóm tắt những qui định chuẩn mực liên quan, tổng quan nghiên cứu về các công trình năm trước qua đó phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng tình hình kế toán xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần QTnP. Chương này nhằm cung cấp thông tin về phương pháp hệ nghiên cứu được áp dụng. Qua đó tìm hiểu, khảo sát về thực trạng của kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc tại đơn vị. Chương IV: Kết luận và đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động kế toán xuất khẩu hàng may mặc tại công ty cổ phần QTnP. Với mục đích đưa ra các kết luận đánh giá về thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Qua đó có các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề nghiên cứu. Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại CHƯƠNG II : Lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng may mặc 2.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến kế toán nghiệp vụ xuất khẩu Khái niệm xuất khẩu: Trong những năm trở lại đây, xuất khẩu đã đạt được những thành tích rất ấn tượng và được xác định là một thế mạnh của Việt Nam trên con đường hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xuất khẩu đang là mục tiêu và cũng là chiến lược phát triển lâu dài của nước ta trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Vậy xuất khẩu là gì? Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu như: Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài. Còn trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. (Điều 28, mục 1, chương 2 - Luật Thương mại Việt Nam 2005) Tuy nhiên, khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả là: Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hoạt động mà hàng hóa, dịch vụ của quốc gia này được buôn bán, trao đổi với quốc gia khác thông qua các hợp đồng ngoại thương. Dù được hiểu theo nghĩa nào thì xuất khẩu cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó được thừa nhận như một hoạt động rất cơ bản của kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Các hình thức kinh doanh xuất khẩu: Theo tính chất, nghiệp vụ xuất khẩu hiện nay thường được thực hiện theo các hình thức sau: Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại - Xuất khẩu trực tiếp: là hình thức xuất khẩu mà trong đó các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu có đầy đủ các điều kiện kinh doanh xuất khẩu và được Bộ Thương mại cấp giấy phép trực tiếp đàm phán, ký kết hợp đồng xuất khẩu và thanh toán với nước ngoài phù hợp với luật pháp của cả hai nước. - Xuất khẩu ủy thác: là hình thức xuất khẩu được áp dụng đối với các doanh nghiệp có hàng hóa hoặc có nhu cầu xuất khẩu nhưng không có điều kiện tổ chức thực hiện phải nhờ các đơn vị khác có chức năng xuất khẩu thực hiện hộ. - Xuất khẩu hỗn hợp: là hình thức xuất khẩu kết hợp của hai hình thức trên. Một doanh nghiệp khi đã có thể xuất khẩu trực tiếp thì có thể nhận xuất khẩu ủy thác cho doanh nghiệp khác để nhận hoa hồng. Mỗi hình thức đều có những ưu nhược điểm riêng. Do đó, việc áp dụng hình thức nào không thể dập khuôn mà còn phụ thuộc vào đặc điểm, qui mô, khả năng tổ chức của từng doanh nghiệp. Các phương thức kinh doanh xuất khẩu: Do đặc điểm của mỗi doanh nghiệp cũng như đặc điểm của hàng hóa doanh nghiệp đó xuất khẩu mà doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình phương thức xuất khẩu phù hợp nhằm đem lại lợi ích kinh tế lớn nhất. Có 2 phương thức xuất khẩu chủ yếu sau: - Xuất khẩu theo nghị định thư: là phương thức kinh doanh xuất khẩu trong đó toàn bộ quan hệ đàm phán ký kết hợp đồng do 2 Nhà nước tiến hành trên cơ sở đó giao cho doanh nghiệp có chức năng kinh doanh xuất khẩu thực hiện. - Xuất khẩu tự cân đối: là phương thức kinh doanh xuất khẩu doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp đàm phán, ký kết hợp trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước. Điều kiện cơ sở giao hàng: Điều kiện cơ sở giao hàng là những cơ sở có tính nguyên tắc về việc giao hàng giữa các bên trong giao dịch thương mại quốc tế. Điều kiện cơ sở giao hàng Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quanvới việc giao nhạn hàng hóa và chia sẻ rủi ro tổn thất về hàng hóa trong quá trình giao nhận. Các điều kiện giao hàng được sử dụng khi ký kết hợp đồng hiện nay thường được vận dụng trong INCOTERM – 2000, bao gồm 13 điều kiện ( Biểu 2.1 – Phụ lục 11; 12; 13 ) Ở Việt Nam, các điều kiện giao hàng hay được sử dụng là FOB, CIF và CFR; đặc biệt trong xuất khẩu, người ta hay dùng điều kiện FOB. Giá cả hàng xuất khẩu: Giá cả hàng xuất khẩu được xác định phụ thuộc vào phương thức giao hàng được ký kết trong hợp đồng ngoại thương. Theo thông lệ quốc tế, trong các hợp đồng này giá cả bao giờ cũng gắn với một điều kiện cơ sở giao hàng cụ thể. Dưới đây là 1 số giá cả tương ứng với các điều kiện cơ sở giao hàng chính - Giá FOB: giá giao hàng tại cảng xuất khẩu - Giá CIF: giá giao hàng tại cảng nhập khẩu, tính theo công thức: CIF = FOB + Bảo hiểm + Cước vận chuyển - Giá CFR: giá giao hàng tại cảng nhập khẩu, tính theo công thức: CFR = FOB + Cước vận chuyển Đồng tiền thanh toán: Để thanh toán tiền hàng xuất khẩu, hai bên có thể sử dụng đồng tiền của nước nhập khẩu, hoặc nước xuất khẩu, hay chọn đồng tiền của một nước thứ ba là ngoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi như Đô la Mỹ, Yên Nhật, Bảng Anh, Frăng Pháp… Thông thương đơn vị tiền tệ hay được sử dụng trong thanh toán xuất khẩu là Đô la Mỹ. Phương thức thanh toán: Thanh toán là một nội dung quan trọng trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Nhờ có nghiệp vụ này mà người bán có thể thu được tiền, kết thúc một chu kỳ kinh doanh; còn với người mua đây là mở đầu cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới. Ở mỗi quốc gia khác nhau, người ta lại có thể lựa chọn những phương thức thanh Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại toán khác nhau để thu tiền về hoặc trả tiền đi. Hiện nay, trong thanh toán quốc tế có thể kể đến một số phương thức thanh toán chủ yếu sau: - Phương thức chuyển tiền: là phương thức trong đó khách hàng ( người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác ( người hưởng lợi) ở địa điểm nhất định, bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. - Phương thức nhờ thu: là phương thức trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nhiệm vụ xuất chuyển hàng hoá cho người nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra. Phương thức nhờ thu được phân ra làm hai loại như sau: * Nhờ thu phiếu trơn: Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền * Nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ hàng hoá. - Phương thức tín dụng chứng từ: là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ 3 hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ 3 ký phát trong phạm vi số tiền đó. Qui trình thực hiện: Người mua Người bán (4) (1) (7) (8) (3) (5) (6) (2) NH mở L/C NH thông báo L/C (5) (6) Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại (1). Người mua xin mở L/C tại ngân hàng (NH) mở L/C (gọi là nơi phát hành L/C). (2). NH mở L/C sẽ thông báo cho NH thông báo L/C (nơi tiếp nhận L/C) mà người bán mở tài khoản về kết quả mở L/C và nội dung L/C. (3). NH thông báo L/C sẽ kiểm tra hình thức L/C rồi chuyển nguyên văn cho người bán. (4). Người bán sau khi xem L/C và thấy phù hợp sẽ giao hàng, nếu chưa phù hợp sẽ cùng với người mua sửa. (5). Người bán sẽ trình NH thông báo L/C bộ chứng từ chứng minh hoàn thành nghĩa vụ giao hàng (6). NH thông báo L/C sẽ tiến hành kiểm tra, nếu thấy phù hợp thì thanh toán cho NH mở L/C. Nếu không phù hợp thì chuyển trả cho người bán để sửa chữa. (7). NH mở L/C sẽ đòi tiền người mua và chuyển trả bộ chứng từ cho người mua (8). Người mua kiểm tra bộ chứng từ thấy phù hợp thì tién hành trả tiền. Ngược lại có quyền từ chối, khi đó mọi rủi ro ngân hàng phải gánh chịu. Doanh thu xuất khẩu: Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu không ngoài mục đích thu tiền về cho doanh nghiệp mình. Như đã trình bày ở trên, hoạt động xuất khẩu với những đặc trưng riêng biệt của mình cũng khiến cho việc theo dõi và ghi nhận doanh thu có yêu cầu riêng. Vậy doanh thu là gì và doanh thu xuất khẩu có những đặc điểm gì ? Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. ( Điều 3, CMKT số 14 – Doanh thu và thu nhập khác) Do hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo từng hợp đồng với giá trị các lô hàng lớn nên doanh thu cần được theo dõi chi tiết cho từng đối tượng hàng hóa. Các khoản giảm trừ doanh thu xuất khẩu: Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại Mặt khác, trong nghiệp vụ xuất khẩu cũng không thế tránh khỏi những sai sót hay những ưu đãi cho khách hàng khiến doanh thu bị giảm trừ như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thanh toán. Theo điều 3, CMKT số 14 thì các khoản giảm trừ này được định nghĩa như sau: - Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với số lượng lớn. - Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. - Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Chiết khấu thanh toán: là khoản tiền người bán giảm tiền cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng. 2.2. Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng hóa theo quy định của một số Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành 2.2.1. Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng hóa theo quy định của một số Chuẩn mực kế toán Việt Nam Cũng như tất cả các nghiệp vụ kế toán khác, kế toán xuất khẩu cũng được chi phối bởi các văn bản như luật kế toán, chuẩn mực kế toán, thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực, chế độ kế toán… Trong đó kế toán xuất khẩu bị chi phối chủ yếu bởi các văn bản pháp lý sau: CMKT số 02 - Hàng tồn kho, CMKT số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, CMKT số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, chế độ kế toán theo QĐ 48/2006/QĐ – BTC, thông tư số 161/2007/TT – BTC hướng dẫn thực hiện 3 chuẩn mực trên. 2.2.1.1. Qui định về ghi nhận doanh thu xuất khẩu theo CMKT số 14 – Doanh thu và thu nhập khác Kế toán xuất khẩu cần đặc biệt chú ý đến thời điểm ghi nhận doanh thu. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác kế toán nhằm phản ánh 1 cách chính xác Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại doanh thu, các khoản chi phí và thuế xuất khẩu. a. Thời điểm ghi nhận doanh thu: Theo điều 10 - CMKT số 14, doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Trong đó có một số điểm cần lưu ý: (i) Doanh nghiệp cần xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích trong từng trường hợp. Thông thường thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Đối với nghiệp vụ xuất khẩu, thời điểm này được xác định khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tùy theo điều kiện cơ sở giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng ( Biểu 2.1 – Phụ lục 11; 12; 13). (ii) Chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng và doanh thu trong giao dịch đó phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp. Do đó, các chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu phải được theo dõi chi tiết và ghi nhận cho từng hợp đồng xuất khẩu. Nếu những chi phí liên quan đến nhiều hợp đồng thì cần được tập hợp vào chi phí bán hàng trong kỳ, cuối năm phân bổ cho từng hợp đồng. Những chi phí phát sinh trong kỳ nhưng liên quan đến hợp đồng xuất khẩu chưa hoàn thành trong kỳ đó thì phải được tính vào kỳ sau. b. Kế toán doanh thu xuất khẩu: Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại Thông thường thì thời điểm ghi nhận doanh thu và thời điểm thanh toán tiền hàng thường cách nhau khá xa nên doanh thu sẽ được ghi nhận như khoản phải thu khách hàng. Có một số trường hợp xảy ra như sau: - Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản nợ phải thu này không thu được thì ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ chứ không được ghi giảm doanh thu. - Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. - Các khoản Nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng. 2.2.1.2. Qui định về xác định giá gốc hàng xuất khẩu theo CMKT số 02 – Hàng tồn kho Chuẩn mực này quy định cách tính giá vốn hàng xuất khẩu, bao gồm 2 loại giá : giá vốn hàng mua và giá xuất kho hàng bán. - Giá vốn hàng mua: là giá phản ánh sự biến động của hàng hóa trên sổ kế toán theo nguyên tắc giá phí, được phản ánh theo giá mua thực tế sau Giá mua hàng = Giá ghi trên hóa đơn hóa để XK + Chi phí phát sinh trong quá trình mua + Các khoản thuế không hoàn lại + Các khoản giảm trừ, chiết khấu thương mại Theo đó thì giá vốn hàng mua gồm : chi phí mua hàng, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh trong quá trình mua hàng. Cụ thể là với hàng mua để xuất khẩu thì khoản chi phí mua sẽ bao gồm: giá mua, các loại thuế không được khấu trừ ( thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp…), chi phí vận chuyển, bốc xếp hàng hóa, bảo quản và các chi phí liên quan khác. Các loại chi phí này cần được tập hợp riêng để tính vào giá gốc hàng mua. Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại - Giá xuất kho hàng bán xuất khẩu: tùy thuộc vào quyết định của từng doanh nghiệp để chọn phương pháp tính giá cho phù hợp, nhất là trong điều kiện thị trường biến động phức tạp, giá cả lên xuống thất thường như hiện nay. Một số phương pháp tính giá mà doanh ngiệp có thể lựa chọn như:  Phương pháp tính theo giá đích danh  Phương pháp bình quân gia quyền  Phương pháp nhập trước, xuất trước  Phương pháp nhập sau, xuất trước 2.2.1.3. Qui định về nguyên tắc kế toán ngoại tệ theo CMKT số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái Xuất khẩu là hoạt động mua bán hàng hóa bằng ngoại tệ. Do đó trong quá trình hạch toán các nghiệp vụ xuất khẩu có liên quan thì kế toán xuất khẩu cần tuân thủ theo những nguyên tắc được đề ra trong chuẩn mực này. Yêu cầu chung Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải thực hiện ghi sổ kế toán và lập BCTC theo một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức được sử dụng trong kế toán (nếu được chấp thuận). Việc qui đổi đồng ngoại tệ ra Đồng Việt Nam, DN phải căn cứ vào tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế. Doanh nghiệp đồng thời phải theo dõi nguyên tệ trên sổ kế toán chi tiết các tài khoản: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản phải thu, các khoản phải trả và tài khoản “007” (Ngoại tệ các loại). ( Điều 3 – CMKT số10) Mọi giao dịch bằng ngoại tệ phải được hạch toán và ghi nhận theo đơn vị tiền tệ kế toán bàng việc áp dụng tỷ giá hối đoái giữa đơn vị tiền tệ kế toán và ngoại tệ tại ngày giao dịch. Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại ( Điều 8 – CMKT số 10) Với các TK doanh thu, hàng tồn kho, TSCĐ, chi phí, TK vốn bằng tiền - Đối với tài khoản thuộc loại doanh thu, hàng tồn kho, TSCĐ, chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí khác, bên Nợ các tài khoản vốn bằng tiền. Khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Đối với bên Có của các tài khoản vốn bằng tiền, khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam, hoặc đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá ghi trên sổ kế toán (tỷ giá bình quân gia quyền; tỷ giá nhập trước, xuất trước). Với các TK Nợ phải trả, Nợ phải thu - Đối với bên Có của các tài khoản nợ phải trả, hoặc bên Nợ của các tài khoản nợ phải thu, khi phát sinh nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam, hoặc bằng đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá giao dịch; cuối năm tài chính có các số dư Nợ phải trả, hoặc dư Nợ phải thu có gốc ngoại tệ được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cuối năm tài chính. - Đối với bên Nợ của các tài khoản Nợ phải trả, hoặc bên Có của các tài khoản nợ phả thu, khi phát sinh các nghiệp vụ kinh tế bằng ngoại tệ phải được ghi sổ kế toán bằng Đồng Việt Nam, hoặc bằng đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán theo tỷ giá ghi trên sổ kế toán. Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái: - Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh được ghi nhận khi có sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa ngày giao dịch và ngày thanh toán của mọi khoản mục tiền tệ có gốc Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại ngoại tệ. Khi giao dịch phát sinh và được thanh toán trong kỳ kế toán, các khoản chênh lệch được hạch toán trong kỳ đó. Nếu giao dịch được thanh toán ở kỳ kế toán sau, chênh lệch tỷ giá hối đoái được tính theo sự thay đổi của tỷ giá hối đoái trong từng kỳ cho đến kỳ giao dịch được thanh toán. (Điều 13 – CMKT số 10) - Chệch lệch tỷ giá ngoại tệ trong kỳ được phản ánh vào thu nhập hoặc chi phí tài chính. - Cuối năm tài chính, doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ lên ngân hàng. Chêch lệch tỷ giá ngoại tệ do đánh giá lại ngoại tệ cuối năm được phản ánh vào TK 413. Số dư cuối kỳ của TK này được phản ánh vào thu nhập hoặc chi phí tài chính. 2.2.2. Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu theo quy định của Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành 2.2.2.1. Chứng từ sử dụng Các loại chứng từ chủ yếu được sử dụng trong nghiệp vụ xuất khẩu bao gồm: * Bộ chứng từ hàng hóa: - Hợp đồng thương mại: là hợp đồng mua bán quốc tế thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau - Hóa đơn thương mại: là chứng từ cơ bản phục vụ cho công tác thanh toán. Bảng kê chi tiết: Là chứng từ đi kèm kiện hàng, cho biết số lượng và chủng loại hàng hóa. - Phiếu đóng gói: Là bảng kê khai tất cả hàng hóa trong kiện. - Giấy chứng nhận về số lượng: Là chứng từ xác nhận số lượng hàng hóa thực giao. - Giấy chứng nhận phẩm chất: Xác nhận chất lượng hàng hóa thưc giao và chứng minh phẩm chất phù hợp với điều khoản hợp đồng. - Giấy chứng nhận xuất xứ: Xác nhận nơi sản xuất hoặc khai thác hàng hóa. Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại * Bộ chứng từ vận tải: - Vận đơn (đường biển, đường sắt, đường hàng không..) - Biên lai thuyền phó, giấy gửi hàng đường biển, phiếu gửi hàng… * Bộ chứng từ bảo hiểm: - Hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm - Đơn bảo hiểm * Bộ chứng từ hải quan: là bộ chứng từ mà theo quy định của pháp luật, chủ hnàg phải xuất trình cho cơ quan hải quan khi hàng hóa đi qua biên giới nước xuất khẩu. - Tờ khai hải quan: do chủ hàng khai báo về hàng xuất khẩu theo mẫu quy định. - Giấy phép xuất khẩu hoặc hạn ngạch xuất khẩu. - Giấy thông báo thuế. * Bộ chứng từ thanh toán: - Giấy báo có - Bản sao kê của ngân hàng - Hóa đơn dịch vụ - Hóa đơn chi vận tải. * Bộ hồ sơ hoàn thuế: là những chứng tù cần thiết khi doanh nghiệp gửi cơ quan thuế đề nghị hoàn thuế GTGT đầu vào cho hàng mua để xuất khẩu - Bảng liệt kê hồ sơ hoàn thuế. - Đề nghị hoàn thuế. - Bảng kê tổng hợp số thuế đề nghị được hoàn. - Bảng kê chứng từ chứng minh xuất khẩu (nếu lý do hoàn là xuất khẩu) - Bộ chứng từ theo từng hợp đồng xuất khẩu trong bảng kê bao gồm: Hợp đồng thương mại, phụ lục của hợp đồng thương mại (nếu có), hóa đơn thương mại, Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại bảng kê chi tiết, tờ khai hải quan có chứng nhận thực xuất, vận đơn, hóa đơn GTGT hàng xuất khẩu, giấy báo có, chứng từ chứng minh trừ tiền hàng (nếu có). Ngoài ra, xuất khẩu ủy thác còn sử thêm một số chứng từ như: hợp đồng ủy thác… 2.2.2.2. Tài khoản sử dụng a. Nhóm tài khoản hàng hóa: * Với doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên: Tài khoản 156 – Hàng hóa: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại hàng hóa của doanh nghiệp: - Bên Nợ: Trị giá hàng hóa mua về nhập kho. - Bên Có: Trị giá hàng hóa xuất kho chuyển đi xuất khẩu. - Dư Nợ: Trị giá hàng hóa hiện còn trong kho cuối kì. Tài khoản 157 – Hàng gửi bán: Phản ánh trị giá hàng đã gửi đi xuất khẩu - Bên Nợ: Trị giá hàng hóa gửi đi xuất khẩu - Bên Có: Trị giá hàng hóa gửi đi xuất khẩu đã được xác định là tiêu thụ - Dư Nợ: Trị giá hàng gửi đi xuất khẩu chưa được xác định là đã tiêu thụ hiện còn cuối kì. * Với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kì thì sử dụng tài khoản 611 – Mua hàng. b. Nhóm tài khoản doanh thu: Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: dùng để phản ánh doanh thu bán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp và tùy theo phương thức xuất khẩu mà có thể mở chi tiết cho từng loại doanh thu. - Bên Nợ: + Các khoản giảm trừ doanh thu + Thuế xuất khẩu phải nộp tính trên doanh thu + Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả kinh doanh - Bên Có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kỳ Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại TK511 không có số dư cuối kỳ, gồm các TK cấp 2 là:  TK 5111 – Doanh thu bán hàng hóa  TK 5112 – Doanh thu bán thành phẩm  TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ c. Nhóm tài khoản giảm trừ doanh thu: Theo QĐ 15, sử dụng 3 tài khoản: - Tài khoản 521: Chiết khấu thương mại - Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại - Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán Theo QĐ 48, sử dụng tài khoản 521 – Các khoản giảm trừ doanh thu: gồm các tài khoản cấp 2: - Tài khoản 5211: Chiết khấu thương mại - Tài khoản 5212 – Hàng bán bị trả lại - Tài khoản 5213 – Giảm giá hàng bán d. Nhóm tài khoản chi phí: Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán: dùng để phản ánh trị giá vốn của toàn bộ số hàng gửi đi xuất khẩu được xác định là tiêu thụ trong kỳ. - Bên Nợ : Trị giá vốn hàng hóa, thành phần đã tiêu thụ trong kỳ. - Bên Có : + Kết chuyển giá vốn hàng xuất khẩu trong kỳ + Trị giá vốn hàng bán bị trả lại TK 632 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản 642 ( theo QĐ 15 ) hoặc Tài khoản 6421 (theo QĐ 48) – Chi phí bán hàng: dùng để phản ánh các chi phí phát sinh trong quá trình xuất khẩu hàng hóa. - Bên Nợ : Tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình bán hàng xuất khẩu - Bên Có : + Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại + Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản kết quả kinh doanh Tài khoản này không có số dư cuối kỳ. e. Nhóm tài khoản xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái: Tài khoản 515 – Doanh thu tài chính: dùng để phản ánh lãi do chênh lệch tỷ giá hối đoái. Tài khoản 635 – Chi phí tài chính: dùng để phản ánh lỗ do chênh lệch tỷ giá hối đoái. f. Nhóm tài khoản phản ánh công nợ: Tài khoản 131 – Phải thu khách hàng: dùng để phản ánh các khoản phải thu từ nghiệp vụ xuất khẩu. - Bên Nợ : Số tiền phải thu phát sinh trong kỳ. - Bên Có : + Số tiền người nhập khẩu đã thanh toán. + Số tiền người nhập khẩu ứng trước. - Dư Nợ : Số tiền còn phải thu của người nhập khẩu còn đến cuối kỳ. Tài khoản 331 – Phải trả người bán: dùng để phản ánh các khoản phải thanh toán với người bán hàng xuất khẩu và người cung cấp dịch vụ cho doang nghiệp. - Bên Nợ : + Số tiền đã thanh toán cho người bán. + Số tiền doanh nghiệp trả trước cho người bán. - Bên Có : Số tiền phải trả cho người bán phát sinh trong kỳ. - Dư Có : Số tiền còn phải trả cho người bán cuối kỳ. g. Tài khoản sử dụng trong kế toán xuất khẩu ủy thác: Tài khoản 1388 – Phải thu khác: - Bên Nợ : Số tiền phải thu khác phát sinh trong kỳ. - Bên Có: Số tiền đã thu được. - Dư Nợ: Số tiền còn phải thu cuối kỳ. Tài khoản 3388 – Phải trả khác: Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại - Bên Nợ: Số tiền đã trả - Bên Có: Số tiền phải trả khác phát sinh trong kỳ - Dư Có: Số tiền còn phải trả cuối kỳ Ngoài ra, đơn vị nhận ủy thác còn sử dụng TK 003 – Hàng hóa nhận bán hộ, ký gửi để theo dõi riêng trị giá của hàng nhận XKUT Bên cạnh đó, kế toán nghiệp vụ xuất khẩu trực tiếp còn sử dụng các tài khoản: TK111 – Tiền mặt, TK112 – Tiền gửi ngân hàng, TK133 – Thuế GTGT đầu vào, TK333 – Thuế XK, TK 413 – Chênh lệch tỷ giá hối đoái, TK 1592 – Dự phòng phải thu khó đòi… 2.2.2.3. Phương pháp hạch toán a. Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu trực tiếp: (Sơ đồ 2.1 – Phụ lục 1) (1) Giao hàng: căn cứ vào hợp đồng ký kết, đơn vị chuyển hàng đi xuất khẩu. - Xuất kho hàng gửi đi XK: Kế toán ghi Nợ TK 157 và ghi Có TK 156: Trị giá hàng xuất - Mua hàng gửi thẳng đi XK: Nếu DN tính thuế theo phương pháp khấu trừ, kế toán ghi Nợ TK 157: Trị giá hàng mua chưa thuế, ghi Nợ TK 133: Thuế GTGT và ghi Có TK 111;112;331: Tổng giá thanh toán. Ngược lại, nếu DN tính thuế theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi Nợ TK 157 và ghi Có TK 111;112: Tổng giá thanh toán. (2) Khi hàng được xác nhận là đã XK: - Ghi nhận doanh thu: Kế toán ghi Nợ TK 131 và ghi Có TK 511: Doanh thu hàng xuất (ghi nhận theo tỷ giá thực tế). - Ghi nhận giá vốn: Kế toán ghi Nợ TK 632 và ghi Có TK 157: Giá vốn hàng XK - Ghi nhận thuế XK phải nộp: Căn cứ vào thông báo thuế, khi tính thuế XK, kế toán ghi Nợ TK 511 và ghi Có TK 3333: Thuế XK phải nộp tính trên doanh thu. Khi nộp thuế XK, kế toán ghi Nợ TK 3333 và ghi Có TK 111; 112: Thuế XK đã nộp Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán Luận văn tốt nghiệp Đại học Thương Mại (3) Nhận tiền thanh toán cho lô hàng đã XK: - Khi người mua thanh toán cho lô hàng, kế toán ghi Nợ TK 1122: Ngoại tệ thu về tính theo tỷ giá thực tế; ghi Có TK 131: Phải thu khách hàng tính theo tỷ giá ghi sổ và ghi Nợ TK 635: Lỗ TGHĐ ( nếu TGTT < TG ghi sổ) hoặc ghi Có TK 515: Lãi TGHĐ ( nếu TGTT > TG ghi sổ). Đồng thời, kế toán ghi Nợ TK 007: Số nguyên tệ thu về. (4) Chi phí phát sinh trong quá trình XK: - Chi phí chi bằng ngoại tệ: Kế toán ghi Nợ TK Chi phí bán hàng theo tỷ giá thực tế; ghi Nợ TK 133: Thuế GTGT; ghi Có TK 1112,1122: Chi phí theo tỷ giá ghi sổ và ghi Nợ TK 635: Lỗ TGHĐ ( nếu TGTT < TG ghi sổ) hoặc ghi Có TK 515: Lãi TGHĐ ( nếu TGTT > TG ghi sổ). Đồng thời, kế toán ghi Có TK 007: Số nguyên tệ chi ra. - Chi bằng VNĐ: Nếu DN tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, kế toán ghi Nợ TK Chi phí bán hàng tính theo giá chưa thuế; ghi Nợ TK 133: Thuế GTGT và ghi Có TK tiền, 331: Tổng giá thanh toán. Ngược lại, nếu DN tính thuế theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi Nợ TK Chi phí bán hàng và ghi Có TK tiền: Tổng giá thanh toán. b. Kế toán nghiệp vụ xuất khẩu ủy thác: Nguyễn Thị Hồng Trang – K42D6 Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Xem thêm -