Kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại tổng công ty dệt – may hà nội

  • Số trang: 134 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
transuma

Đã đăng 28936 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội PHẦN MỞ ĐẦU Ngay từ những bước chân đầu tiên của lịch sử loài người, con người đã biết đến hoạt động lao động sản xuất. Dù là giản đơn hay phức tạp thì sản xuất vẫn là hoạt động cơ bản, không thể thiếu và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người. Theo dòng chảy thời gian, hoạt động sản xuất cũng không ngừng phát triển. Kèm theo đó là yêu cầu sản xuất phải được quản lý chi tiết hơn, tinh tế hơn nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và xã hội cao cho doanh nghiệp. Tại các doanh nghiệp sản xuất nói chung và tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội nói riêng, một công việc không thể thiếu nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý sản xuất chính là hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Bởi dù doanh nghiệp sản xuất hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào thì kết quả sản xuất mà nó tạo ra cũng là sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Việc sản xuất những sản phẩm đó đồi hỏi phải được hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm để làm căn cứ xác định giá bán và căn cứ xác định kết quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Không những thế, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chi tiết đến từng đối tượng còn giúp cho công tác quản lý dược tiến hành sát xao, từ đó đề ra những kế hoạch sản xuất hiệu quả, đồng thời giúp ban quản lý doanh nghiệp giám sát việc thực hiện kế hoạch sản xuất đó. Với tư cách là một Tổng công ty Nhà nước lớn, một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực dệt – may Việt Nam, Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội có rất nhiều sản phẩm với những chủng loại, kích cỡ, kiểu dáng và màu sắc rất khác nhau, được hình thành từ nhiều loại chi phí khác nhau. Trong điều kiện hết sức đa dạng và phong phú cả về các yếu tố đầu vào lẫn các sản phẩm đầu ra như vậy nên tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội, yêu cầu đối với công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là cao và phức tạp hơn rất nhiều, đồng thời là một nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Chính vì những vấn đề đã đề cập đến ở trên, em xin chọn đề tài luận văn là “Kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội” nhằm làm rõ hơn công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại một doanh nghiệp sản xuất nói chung và tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội nói riêng. Từ đó đưa ra những nhận xét và giảI pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt – May Hà Nội, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh nói riêng, hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và đẩy mạnh sự phát triển của Tổng Công ty trong tương lai. PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH Ở DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT 1.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 1.1.1.1. Chi phí sản xuất Như chúng ta đã biết, sự phát sinh và phát triển của xã hội gắn liền với hoạt động lao động sản xuất của con người. Cùng với thời gian thì sản xuất đã ngày càng phát triển, các sản phẩm sản xuất ra không chỉ dừng lại ở chỗ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bản thân mà còn được sử dụng để trao đổi, buôn bán trên thị trường. Nhưng dù ở bất kỳ thời điểm nào, dù giản đơn hay phức tạp thì quá trình sản xuất luôn là sự kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Đặc biệt đối với một doanh nghiệp sản xuất thì đó là quá trình chuyển hoá nguyên vật liệu đầu vào thành các sản phẩm đầu ra dưới sự tác động của máy móc thiết bị và sức lao động của công nhân. Những hao phí về sức người sức của ấy khi được thể hiện dưới hình thức giá trị thì trở thành chi phí sản xuất. Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Về thực chất, chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ). Với khái niệm về chi phí nêu trên, ta thấy không có sự đồng nhất giữa chi phí và chi tiêu. Bởi chi tiêu chỉ là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Tuy khác nhau về cơ bản nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở cho việc phát sinh chi phí. Sự khác biệt giữa chúng (về lượng và thời gian) là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loại tài sản vào quá trình sản xuất và yêu cầu hạch toán chúng. Trong quá trình hoạt động của mình, bên cạnh những chi phí phát sinh do quá trình sản xuất, doanh nghiệp còn phát sinh những chi phí khác không mang tính sản xuất như hoạt động bán hàng, hoạt động quản lý, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường. Tuy nhiên chỉ có những chi phí được sử dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. 1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều loại với nội dung, tính chất, công dụng, vị trí, vai trò rất khác nhau, đòi hỏi phải được tiến hành phân loại sao cho phù hợp với yêu cầu quản lý và hạch toán trong doanh nghiệp. Xuất phát từ những mục đích khác nhau của quản lý mà chi phí sản xuất kinh doanh cũng được phân loại theo những mục đích khác nhau. Tuy nhiên, chi phí sản xuất kinh doanh chủ yếu được phân loại theo hai tiêu thức sau: Thứ nhất, phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế của chi phí. Theo tiêu thức này thì chi phí được phân thành các loại: - Chi phí về nguyên liệu, vật liệu: gồm giá mua và chi phí thu mua của toàn bộ nguyên vật liệu dùng cho hoạt dộng sản xuất kinh doanh trong kỳ, bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ (trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập kho và phế liệu thu hồi). - Chi phí về nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). - Chi phí về tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương: gồm toàn bộ lương và các khoản phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân, viên chức. - Chi phí về các khoản trích theo lương: bao gồm phần bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ quy định của người lao động. - Chi phí về khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định trích trong kỳ của các tài sản cố định tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí về dịch vụ mua ngoài sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Chi phí khác bằng tiền phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh mà chưa được phản ánh trong các yếu tố chi phí nêu trên. Phân loại chi phí theo cách này giúp chúng ta biết được tỷ trọng của từng loại chi phí so với tổng số mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất, làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch định mức về vốn lưu động trong các thời kỳ. Đồng thời đây cũng là tài liệu quan trọng làm căn cứ xác định mức tiêu hao vật chất. Thứ hai, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí. Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành các loại: - Chi phí nguyên vât liệu trực tiếp: bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,...tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. - Chi phí nhân công trực tiếp: gồn tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất. - Chi phí sản xuất chung: gồm những chi phí không phải là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp nhưng lại phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản xuất như chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng; chi phí vật liệu phục vụ quản lý sản xuất; chi phí khấu hao tài sản cố định tại phân xưởng; chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền phục vụ cho hoạt động và quản lý của phân xưởng cũng như của đội sản xuất. - Chi phí bán hàng: bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến vấn đề quản lý trong doanh nghiệp. Tác dụng của cách phân loại này là phục vụ yêu cầu quản lý chi phí theo định mức, phục vụ công tác kế hoạch hoá và phân tích giá thành theo khoản mục; đồng thời giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá thành. Thứ ba, phân loại chi phí theo cách thức kết chuyển. Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất được phân thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Trong đó chi phí sản phẩm là những khoản mục chi phí gắn lièn với quá trình sản xuất sản phẩm (đối với doanh nghiệp sản xuất) hay quá trình thu mua hàng hóa (đối với doanh nghiệp thương mại). Nó bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung và chỉ được thu hồi sau khi sản phẩm được tiêu thụ hay hàng hóa được bán ra. Còn đối với những sản phẩm hay hàng hóa chưa tiêu thụ thì chi phí sản phẩm sẽ nằm trên khoản mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. và khi được tiêu thụ nó sẽ trở thành khoản mục giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả kinh doanh. Khác với chi phí sản phẩm, chi phí thời kỳ là những chi phí dùng để hoạt động kinh doanh trong kỳ, ngoài chi phí hàng tồn kho, khi phát sinh sẽ làm giảm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp. Đối với một doanh nghiệp, chi phí thời kỳ bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên giữa chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ có điểm khác nhau cơ bản, đó là chi phí sản phẩm ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp ở nhiều kỳ khác nhau, do nó chỉ được tính vào kỳ mà sản phẩm tiêu thụ. Trong khi đó chi phí thời kỳ thì ảnh hưởng lại trực tiếp đến lợi nhuận của kỳ mà nó phát sinh do nó phát sinh vào kỳ nào thì được phản ánh luôn vào kỳ ấy. Thứ tư, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng công việc. Theo như cách phân loại này thì chi phí được phân thành biến phí và định phí. Trong đó biến phí là những chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ, còn định phí thì ngược lại, không thay đổi về tổng số khi có sự thay đổi về số lượng trong một chừng mực nào đó. Tuy nhiên, biến phí tính trên một đơn vị sản lượng lại không hề thay đổi, còn định phí tính cho một đơn vị sản lượng lại thay đổi tỷ lệ nghịch với khối lượng sản phẩm sản xuất ra. Ngoài ra, trên thực tế, khi phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng công việc thì ngoài biến phí và định phí còn tồn tại một loại chi phí khác, mang đặc điểm của cả hai loại chi phí trên. Tức là nó vừa có tính chất cố định lại vừa có tính chất biến đổi so với tổng khối lượng sản phẩm. Ví dụ như chi phí điện thoại hay điện sản xuất...Đối với loại chi phí này, đòi hỏi phảI có sự bóc tách thành chi phí cố định hay chi phí biến đổi theo những phương pháp thích hợp nhằm phục vụ cho yêu cầu kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Thứ năm, phân loại chi phí theo quá trình tập hợp chi phí. Theo như cách phân loại này thì chi phí sản xuất được phân thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Trong đó chi phí trực tiếp là những chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất ra một loại sản phẩm hay một công việc nhất định, bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu, tiền lương và các khoản trích theo lương,…Do tính chất trực tiếp của loại chi phí này mà nó được ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí căn cứ vào các số liệu hay chứng từ kế toán. Khác với chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Do đó nó không được hạch toán trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nào mà phảI được tập hợp chung cho tất cả các đối tượng rồi mới tính toán và phân bổ c ho từng đối tượng theo những tiêu thức hợp lý. Trong doanh nghiệp chi phí gián tiếp bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài,tiền lương nhân viên phân xưởng, chi phí khác bằng tiền,…Việc phân loại chi phí theo như tiêu thức trên giúp cho việc phân bổ đúng đắn chi phí, đồng thời tập hợp chi phí đầy đủ, tạo điều kiện quản lý tốt chi phí. Bên cạnh các cách phân loại nêu trên, để đáp ứng yêu cầu quản lý đặc thù tại từng doanh nghiệp, người ta cũng có thế tiến hành phân loại chi phí theo các cách khác. Như chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được (kiểm soát được đối với những chi phí thuộc cấp quản lý của mình và ngược lại, phân loại chi phí như vậy giúp cho nhà quản lý quản lý có hiệu quả nhũng chi phí thuộc cấp quản lý của mình và lập báo cáo kết quả cho từng bộ phận trong doanh nghiệp), chi phí cơ hội (là lợi ích tốt nhất bị mất đi khi lựa chon phương án này thay vì lựa chọn một phương án khác, nó giúp nhà quản lý cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định), chi phí chênh lệch (là khoản chi phí có ở phương án này nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác, nghiên cứu loại chi phí này giúp cho nhà quản lý lựa chọn một dự án đầu tư hay kế hoạch sản xuất kinh doanh), chi phí chìm (là loại chi phí mà doanh nghiệp luôn phải gánh chịu dù lựa chọn bất cứ phương án kinh doanh nào. Nghiên cứu chi phí này giúp cho nhà quản trị bỏ qua những chi phí không cần thiết hay không ảnh hưởng tới kết quả quyết định khi xem xét lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu). Tóm lại có rất nhiều cách thức phân loại chi phí, mỗi cách thức tuy có một ý nghĩa riêng nhưng chúng lại có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, cùng phục vụ cho công tác kế toán quản trị nói chung và công tác quản lý chi phí nói riêng.s 1.1.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Để có thể tập hợp chính xác và kịp thời chi phí sản xuất, việc đầu tiên kế toán cần làm là phải xác định đối tượng tập hợp chi phí. Đây là công việc ban đầu và hết sức quan trọng, ảnh hưởng tới toàn bộ công tác hạch toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp. Để xác định đối tượng tập hợp chi phí một cách đúng đắn, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý, kế toán căn cứ vào một số cơ sở sau: - Căn cứ vào mục đích, tác dụng của chi phí cũng như của việc sử dụng chi phí. Ví dụ như để phục vụ mục đích quản trị nội bộ trong doanh nghiệp, chi phí biến đổi được tập hợp cho từng sản phẩm, trong khi đối tượng hạch toán chi phí cố định lại là trong phạm vi toàn doanh nghiệp. - Căn cứ vào đặc điểm loại hình sản xuất; với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng hạch toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt. Còn đối với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn thì tuỳ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất là giản đơn hay phức tạp mà đối tượng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm hay từng giai đoạn công nghệ,... - Căn cứ vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm; đối với sản xuất giản đơn thì đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm hay toàn bộ quá trình sản xuất. Còn đối với sản xuất mang tính phức tạp thì đối tượng hạch toán chi phí lại là từng bộ phận, chi tiết của sản phẩm, hay từng giai đoạn chế biến, từng phân xưởng sản xuất,... - Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành. Ví dụ như nếu yêu cầu tính giá thành cho toàn bộ một đơn hàng thì đối tượng hạch toán chi phí sẽ là toàn bộ chi phí phát sinh để thực hiện đơn hàng ấy. Đối với những khoản chi phí phát sinh chung cho quá trình sản xuất sản phẩm của nhiều đơn hàng thì được tập hợp chung cho toàn bộ các đơn rồi mới tiến hành phân bổ theo một tiêu thức thích hợp. Hay như đối với những sản phẩm phải trải qua nhiều bước, nhiều giai đoạn công nghệ mà có yêu cầu phải tính giá thành bán thành phẩm thì đối tượng tập hợp chi phí sẽ là từng bước, từng giai đoạn công nghệ. - Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh; căn cứ vào năng lực chuyên môn nghiệp vụ của kế toán, vào mức độ trang bị các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kế toán mà có thể thực hiện chi tiết hoá đối tượng hạch toán chi phí sản xuất ở nhiều góc độ. Trình độ càng cao thì mức độ chi tiết càng lớn. Như vậy, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng phân xưởng, từng sản phẩm, từng giai đoạn công nghệ hoặc cả quy trình công nghệ. Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định đối tượng tập hợp chi phí mà thực chất là nơi phát sinh chi phí (như phân xưởng, tổ, đội,...) và nơi chịu chi phí (như sản phẩm, loại sản phẩm, giai đoạn công nghệ, công trình, hạng mục công trình,...) 1.1.3. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất 1.1.3.1. Các phương pháp chung và trình tự tập hợp chi phí sản xuất Tuỳ thuộc vào đối tượng tập hợp chi phí mà kế toán vận dụng phương pháp tập hợp chi phí phù hợp. Nhưng nhìn chung có 2 phương pháp để tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp tập hợp trực tiếp và phương pháp phân bổ (tập hợp gián tiếp). Đối với phương pháp tập hợp trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc phản ánh các chi phí sản xuất đã phát sinh cho từng đối tượng chịu chi phí có liên quan để phản ánh vào các tài khoản hoặc sổ kế toán chi tiết. Phương pháp này thường được áp dụng cho các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm, nhóm sản phẩm, lao vụ,...) như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc chi phí nhân công trực tiếp. Phương pháp phân bổ (tập hợp gián tiếp) được áp dụng trong trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được. Đối với phương pháp này ta phải lựa chọn một tiêu thức phân bổ phù hợp để tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí. Việc phân bổ được tiến hành theo các bước sau: - Xác định hệ số phân bổ: Hệ số phân bổ = Tổng chi phí cần phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng - Xác định mức chi phí phân bổ cho từng đối tượng: Ci = Ti x H Trong đó: Ci : Chi phí phân bổ cho đối tượng i Ti : Tiêu chuẩn phân bổ cho đối tượng i H : Hệ số phân bổ Đối với mỗi loại chi phí, ta lại sử dụng những tiêu thức phân bổ khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm, tính chất và yêu cầu quản lý đối với loại chi phí đó. Nhìn chung việc tập hợp chi phí được tiến hành theo các bước: - Bước 1: Tập hợp các chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng đối tượng sử dụng. - Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ từng đối tượng sử dụng trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ. - Bước 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm có liên quan. - Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm. Trình tự trên phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất của từng ngành nghề, vào trình độ quản lý và hạch toán của bản thân doanh nghiệp cũng như vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc xác định một trình tự hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán giá thành một cách chính xác và kịp thời. Với trình tự như trên thì nội dung và cách thức thực hiện cũng có sự khác nhau tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp. 1.1.3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo chế độ kế toán hiện hành a) Kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên  Tài khoản sử dụng: - TK 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”: Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm. Tài khoản này có thể được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, sản phẩm,...). - TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”: Tài khoản này dùng để phản ánh toàn bộ các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất và cũng được chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí như TK 621. - TK 627 “Chi phí sản xuất chung”: Tài khoản này được sử dụng để phản ánh những chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm. TK 627 được mở chi tiết theo từng phân xưởng, bộ phận sản xuất. Ngoài ra, để tiện cho việc quản lý, TK 627 còn được chi tiết thành 6 tiểu khoản cấp 2 để được theo dõi theo các yếu tố chi phí sản xuất. Đó là các tiểu khoản: - TK 6271 “Chi phí nhân viên phân xưởng”: bao gồm chi phí về lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng và các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định. - TK 6272 “Chi phí vật liệu”: bao gồm các chi phí sản xuất chung cho phân xưởng như sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, chi phí vật liệu cho quản lý phân xưởng,... - TK 6273 “ Chi phí dụng cụ sản xuất”: là chi phí về công cụ dụng cụ sản xuất được dùng trong phân xưởng. - TK 6274 “Chi phí khấu hao tài sản cố định”: bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định thuộc cả các phân xưởng sản xuất kinh doanh chính lẫn phân xưởng sản xuất kinh doanh phụ như máy móc thiết bị, nhà cửa, kho tàng,... - TK 6277 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”: gồm chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của phân xưởng như điện, nước, điện thoại,... - TK 6278 “Chi phí bằng tiền khác”: bao gồm những chi phí bằng tiền khác ngoài các khoản trên như chi phí hội nghị, tiếp khách, lễ tân,... Bên cạnh đó, tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng mà TK 627 có thể mở thêm một số tiểu khoản khác để phản ánh một số nội dung hoặc yếu tố chi phí.  Phương pháp hạch toán đối với từng loại chi phí: - Kế toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Đối với những vật liệu khi xuất dùng chỉ liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt thì được tập hợp trực tiếp. Đối với những vật liệu xuất dùng liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí mà không thể thự hiện hạch toán riêng thì kế toán sử dụng phương pháp phân bổ gián tiếp. Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng trong phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường là theo định mức tiêu hao, theo hệ số, theo trọng lượng, theo số giờ máy chạy hoặc theo sản lượng sản phẩm,...Công thức phân bổ được áp dụng giống như công thức đã nêu trong phần phương pháp chung. Trong đó tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần phân bổ được tính theo công thức: Tổng CPNVLTT cần phải phân bổ = trong kỳ Giá trị thực tế của các loại NVL xuất trong kỳ Giá trị Giá trị - phế liệu thu - hồi NVL tồn cuối kỳ Trình tự tập hợp chi phí nguyên vật liệu được thể hiện qua sơ đồ 01 - Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm những khoản thù lao phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các dịch vụ, lao vụ như tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương (phụ cấp làm thêm, phụ cấp độc hại,...) và các khoản đóng góp cho quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lện quy định dựa trên số tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Chi phí nhân công trực tiếp thường được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Tuy nhiên trong trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng thì có thể tập hợp chung rồi tiến hành phân bổ theo những tiêu thức thích hợp cho các đối tượng có liên quan. Các tiêu thức thường được sử dụng là tiền lương định mức, giờ công thực tế, giờ công định mức,... Trình tự tập hợp chi phí nhân công trực tiếp được thể hiện trong sơ đồ 02 TK 151, 152, 111, 112, 331,... TK 621 (1) TK 154 (3) TK 152 (2) (1) Nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất sản phẩm (2) Vật liệu dùng không hết, nhập kho (3) Kết chuyển nguyên chi phí vật liệu trực tiếp Sơ đồ 01: Trình tự tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 334 TK 622 (1) TK 154 (2) TK 338 (3) (1) Tiền lương và phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất (2) BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định (3) Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp Sơ đồ 02: Trình tự tập hợp chi phí nhân công trực tiếp - Kế toán chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm sau chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Nó đòi hỏi phải được tập hợp theo đúng địa điểm phát sinh chi phí và phân bổ cho các sản phẩm hoặc công việc có liên quan do nó phát sinh trong phạm vi toàn phân xưởng và liên quan đến nhiều sản phẩm, lao vụ. Tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất chung thuộc loại biến đổi (thay đổi theo khối lượng sản phẩm hoàn thành) hay cố định (không thay đổi theo số lượng sản phẩm hoàn thành như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý hành chính ở phân xưởng, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị,...) mà kế toán tiến hành lựa chọn ra những tiêu thức phân bổ thích hợp. Đối với chi phí sản xuất chung mang tính chất biến đổi, kế toán tiến hành phân bổ theo công thức: Tổng biến phí SXC cần Mức biến phí SXC phân bổ cho từng đối Tổng tiêu thức phân bổ = x Tổng tiêu thức phân bổ tượng phân bổ của từng đối tượng của tất cả các đối tượng Riêng đối với định phí sản xuất chung, nếu mức sản phẩm sản xuất thực tế lớn hơn mức công suất bình thường thì định phí sản xuất chung được phân bổ theo công thức: Tổng định phí SXC cần Mức định phí SXC phân bổ cho từng đối = tượng phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ Tổng tiêu thức phân x bổ của từng đối của tất cả các đối tượng tượng Trong trường hợp còn lại, nếu mức sản phẩm sản xuất thực tế nhỏ hơn mức công suất bình thường thì định phí sản xuất chung được phân bổ theo mức công suất bình thường, trong đó lượng sản phẩm chênh lệch giữa thực tế so với mức sản xuất bình thường được tính vào giá vốn hàng tiêu thụ (Còn được gọi là định phí SXC không phân bổ). Công thức phân bổ như sau: Mức định phí Tổng tiêu thức phân bổ SXC phân bổ cho của mức sản phẩm SX thực tế mức sản phẩm thực tế = Tổng tiêu thức phân bổ của sản phẩm theo công suất bình thường Tổng định x phí SXC cần phân bổ Mức chi phí sản xuất chung tính cho phần sản phẩm chênh lệch thực tế với công suất bình thường được tính theo công thức: Mức định phí Mức định phí SXC không phân bổ tính cho lượng sản phẩm chênh lệch = Tổng định phí SXC cần phân bổ - SXC phân bổ cho mức sản phẩm thực tế Thông thường trong chi phí sản xuất chung, chi phí khấu hao tài sản cố định được phân bổ theo số giờ hoạt động của máy. Trong khi đó chi phí dịch vụ mua ngoài có thể được phân bổ theo số giờ máy chạy hoặc công suất thiết bị. Chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp được tập hợp theo trình tự sau: TK 334, 338 (1) TK 627 TK 111, 112, 152 (5) TK 152, 153 (2) TK 154 (6) TK 242, 335 (3) TK 632 (7) TK 214 TK 1331 (4) TK 331, 111, 112,... (8) (9) (1) Chi phí nhân viên phân xưởng (2) Chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ (3) Chi phí theo dự toán (4) Chi phí khấu hao tài sản cố định (5) Các khoản thu hồi được ghi giảm chi phí sản xuất chung (6) Phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng tính giá (7) Kết chuyển chi phí sản xuất chung cố định (không phân bổ) vào giá vốn (8) Chi phí dịch vụ mua ngoài (9) Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ (nếu có) Sơ đồ 03: Trình tự tập hợp chi phí sản xuất chung  Trình tự tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp: TK 154 TK 621 TK 152, 111,... (4) (1) TK 155, 152 TK 622 (5) (2) TK 157 TK 627 (6) (3) TK 632 (7) (1) Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (2) Chi phí nhân công trực tiếp (3) Chi phí sản xuất chung (4) Các khoản ghi giảm chi phí (5) Giá thành sản phẩm thực tế nhập kho (6) Giá thành sản phẩm thực tế gửi bán (7) Giá thành thực tế sản phẩm tiêu thụ Sơ đồ 04: Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên b) Kế toán chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ  Tài khoản sử dụng: - TK 621 “ Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”, TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 627 “ Chi phí sản xuất chung”. - TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” : phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ. - TK 631 “Giá thành sản xuất” : được sử dụng để tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm và tính ra giá thành các sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ. Tài khoản này được chi tiết theo đối tượng hạch toán chi phí. - TK 632 “Giá vốn hàng bán”.  Phương pháp hạch toán: Theo phương pháp này, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không được phản ánh theo từng nghiệp vụ xuất dùng mà chỉ được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi đã tiến hành kiểm kê và xác định được giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường. Việc hạch toán chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung được thực hiện giống như trong phương pháp kê khai thường xuyên. Riêng đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán căn cứ vào số dư đầu kỳ và cuối kỳ trên các tài khoản hàng tồn kho (TK 152, 153, 154...) và giá trị vật liệu mua trong kỳ trên TK 611 để tính ra giá trị nguyên vật liệu xuất dụng trong kỳ theo công thức: Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá Trị giá NVL NVL NVL NVL NVL hàng hoá mất, hàng hoá = hàng hoá + hàng hóa - hàng hoá - hao hụt (nếu xuất tồn kho mua vào tồn kho xác trong kỳ đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ định được) Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, chi phí sản xuất chung được tập hợp theo trình tự: TK 333, 111, TK 6111 112, 411... TK 621 (4) TK 631 (5) (1) TK 151, 152 (2) (3) (1) Giá trị vật liệu tăng trong kỳ (2) Giá trị vật liệu chưa dùng cuối kỳ (3) Kết chuyển giá trị vật liệu chưa dùng đầu kỳ (4) Giá trị NVL dùng trực tiếp chế tạo sản phẩm (5) Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp Sơ đồ 05: Hạch toán tổng hợp chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp  Trình tự tập hợp chi phí toàn doanh nghiệp (1) TK 621 TK 631 TK 154 (5) (2) TK 622 TK 632 (6) (3) TK 627 (4) (1) Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ (2) Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp (3) Chi phí nhân công trực tiếp (4) Chi phí sản xuất chung kết chuyển hoặc phân bổ cho các đối tượng tính giá (5) Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ (6) Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ nhập kho, gửi bán hay tiêu thụ trực tiếp Sơ đồ 06: Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm theo phương pháp KKĐK 1.2. ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM DỞ DANG CUỐI KỲ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Sản phẩn dở dang là lượng sản phẩm hoặc công việc còn đang trong quá trình sản xuất, gia công chế biến hoặc đang nằm trên dây chuyền công nghệ. Đây cũng có thể là những sản phẩm, công việc đã trải qua và hoàn thành một vài quy trình chế biến nhưng phải được tiếp tục gia công thì mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh. Để tính toán giá thành sản phẩm một cách hợp lý và sát thực thì phải tính toán và xác định được phần chi phí sản xuất còn nằm ở số sản phẩm dở dang lúc cuối kỳ. Công việc tính toán và xác định chi phí đó được gọi là đánh giá sản phẩm dở dang. Đây là một trong những nhân tố quyết định đến tính trung thực và hợp lý của giá thành. Để đánh giá chính xác về sản phẩm dở dang thì trước hết phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng sản phẩm làm dở thực tế, đi kèm với việc xác định mức độ hoàn thành của chúng. Tuỳ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang sau: 1.2.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính (CPNVLC) hoặc theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT) Theo phương pháp này, người ta chỉ tính chi phí nguyên vật liệu chính hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản phẩm dở dang. Còn các chi phí gia công chế biến (như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung,...) được tính hết cho sản phẩm hoàn thành theo công thức:
- Xem thêm -