Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm vách ngăn văn phòng” tại công ty tnhh sản xuất và thương mại vách việt

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Trường Đại Học Thương Mại 1 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu đề tài 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Để tồn tại lâu dài, các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp khẳng định chỗ đứng của mình trên thị trường, đây là vấn đề xuyên suốt mọi hoạt động của doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề trên phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề hiệu quả ở đây được hiểu là với một lượng đầu vào cố định doanh nghiệp phải tạo ra một lượng đầu ra với chất lượng cao nhất. Để thực hiện được mục tiêu này ngoài việc tiết kiệm chi phí doanh nghiệp phải tổ chức phối hợp các hoạt động với nhau một cách khoa học. Đó là biện pháp tối ưu để doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình, tăng cường uy tín và vị thế trên thị trường. Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay thì vấn đề tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nâng cao lợi nhuận, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp, nó là tiền đề đảm bảo cho sự tồn tại, củng cố chỗ đứng của doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường. Đối với doanh nghiệp sản xuất, nếu chi phí được giảm tới mức tối đa, làm cho giá thành các sản phẩm không ngừng được hạ thấp thì không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với doanh nghiệp và trong phạm vi ngành mà còn có tác dụng không nhỏ tới nền kinh tế quốc dân. Bởi vì khi giá thành sản phẩm của một doanh nghiệp được hạ thấp sẽ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp đó trên thị trường làm cho giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp khác cũng phải hạ theo. Nó tạo sự ổn định giá cả trên thị trường và góp phần nâng cao cuộc sống của người dân. Để làm được điều này, ngay từ bước đầu, kế toán chi phí sản xuất phải hợp lý thì mới có giá thành sản phẩm chính xác. Công tác tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp là một trong những công việc mang tính quyết định đến kết quả của hoạt động vì nếu chi phí tập hợp không đầy đủ sẽ dẫn đến thất thoát tài sản của doanh nghiệp, nếu chi phí tập hợp không hợp lý thì sẽ bị loại khỏi giá thành sản phẩm, nếu chi phí tập hợp không theo dự toán và kế hoạch thì sẽ không quản lý, theo dõi được chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản suất sản phẩm. Tất cả Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 2 những vấn đề trên đều có một hậu quả là doanh nghiệp đó hoạt động không hiệu quả mà nổi bật là hiện tượng lãi giả, lỗ thật ở các doanh nghiệp sản xuất. Chính vì tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất như vậy nên các doanh nghiệp sản xuất rất quan tâm đến công tác hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp mình. Qua một thời gian ngắn thực tập tại công ty TNHH Sản Xuất và Thương Mại Vách Việt em thấy việc nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất là một vấn đề rất hay và rất cần thiết để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn. 1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề tài trước hết là nghiên cứu lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất, là việc đi tìm hiểu một số định nghĩa, khái niệm và lý thuyết về kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất; nghiên cứu nội dung kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất. Đó là việc xem xét những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất trong chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành. Đó là nghiên cứu những quy định về hệ thống tài khoản, chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán…trong phần hành kế toán chi phí sản xuất. Thứ hai, luận văn nghiên cứu thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất trong công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt. Từ việc nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của kế toán chi phí sản xuất, đồng thời qua quá trình thực tập thực tế tại công ty, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động kinh doanh của công ty em đã chọn đề tài: “ Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. 1.3. Mục tiêu nghiên cứu. Về lý luận: Luận văn nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất trước hết để nhằm hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của kế toán chi phí sản xuất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và các chế độ kế toán Việt Nam hiện hành. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 3 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán Về thực tiễn: Vận dụng cơ sở lý luận và thông qua việc khảo sát thực tế tại công ty để làm rõ thực trạng kế toán chi phí sản xuất sản phấm trong công ty. Dựa vào những số liệu và thông tin tìm hiểu được ta có thể đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về kế toán chi phí trong công ty từ đó phát hiện ra những mặt ưu điểm, nhược điểm;những mặt chưa thực hiện được và những mặt hạn chế về kế toán chi phí sản xuất tại công ty. Trên cơ sở đối chiếu so sánh những lý luận và thực tiễn để có thể đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn kế toán chi phí sản xuất sản phẩm trong công ty. 1.4. Phạm vi nghiên cứu. Về không gian : Phạm vi số liệu nghiên cứu trong đề tài dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tế tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt. Tên giao dịch: Viet partitions manufacturers-trading company limited Trụ sở công ty: số 19 ngõ 255/12 đường Lĩnh Nam quận Hoàng Mai, Hà Nội. Về thời gian : Thời gian thực tập tại công ty từ ngày 10/01/2011 đến ngày 30/05/2011. Về số liệu: Số liệu về chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” của công ty. Để nghiên cứu đề tài em xin lấy số liệu trong năm 2010, cụ thể là tháng 01 năm 2010. Về nội dung nghiên cứu : Nội dung nghiên cứu của đề tài là kế toán chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt. 1.5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp Luận văn tốt nghiệp gồm có 4 chương : Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu đề tài: Nội dung của chương nêu lên tính cấp thiết của đề tài, xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2 : Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất: Nội dung của chương nêu lên một số vấn đề lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất như phân loại chi phí sản xuất, đối tượng và Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 4 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán phương pháp tập hợp chi phí sản xuất, các quy định về kế toán chi phí sản xuất theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu ở Việt Nam. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt: Nội dung của chương trình bày về các phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài, giới thiệu khái quát về công ty, các chính sách chế độ kế toán mà công ty áp dụng, đặc điểm và trình tự kế toán các khoản mục chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” tại công ty. Chương 4: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất sản phẩm “vách ngăn văn phòng” tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Vách Việt: Nội dung của chương trình bày về những phát hiện qua quá trình khảo sát thực tế tại công ty, đó là những ưu điểm và những tồn tại trong công tác kế toán chi phí sản xuất của công ty. Từ đó để xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tại công ty nói chung và kế toán chi phí sản xuất sản phẩm “Vách ngăn văn phòng” nói riêng. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 5 Chương 2 : Một số lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất tại các doanh nghiệp sản xuất. 2.1. Một số định nghĩa khái niệm cơ bản. 2.1.1. Khái niệm chi phí Hiện nay có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về chi phí. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam - Chuẩn mực số 01 thì “ Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn của chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường do mọi yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh đều được biểu hiện thông qua chỉ tiêu giá trị nên có thể hiểu “ Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là toàn bộ biểu hiện bằng tiền của các phí tổn về vật chất, về lao động và tiền vốn liên quan, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định” _Giáo Trình Tài Chính Doanh Nghiệp Thương Mại. Tác giả PGS. TS. ĐINH VĂN SƠN, Nhà xuất bản thống kê_2005. 2.1.2 Khái niệm chi phí sản xuất. Quá trình sản xuất sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất chính là quá trình doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí sản xuất. Đó là các chi phí về đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động. Như vậy “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các hao về phí lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định”. _ Giáo Trình Kế toán Sản Xuất. Tác giả TS. Đặng Thị Hoà, Nhà xuất bản thống kê _ 2003 Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 6 2.2. Một số lý thuyết về kế toán chi phí sản xuất. 2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất công dụng, vai trò, vị trí…trong quá trình kinh doanh. Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, cần thiết phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất. Xuất phát từ các mục đích và yêu cầu của quản lý, CPSX trong doanh nghiệp sản xuất cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.  Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí. Toàn bộ chi phí của doanh nghiệp được chia thành các khoản chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng vào mục đích trực tiếp sản xuất sản phẩm. - Chi phí nhân công trực tiếp : Bao gồm chi phí về tiền lương, tiền ăn ca, số tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất. - Chi phí sản xuất chung : Là những chi phí dùng cho hoạt đống sản xuất chung ở các phân xưởng ngoài hai mục chi phí trực tiếp trên và bao gồm các khoản chi phí sau : chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo mục đích, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành.  Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với mức độ hoạt động trong kỳ. Theo tiêu thức phân loại này chi phí sản xuất bao gồm : - Chi phí biến đổi ( biến phí) : Là chi phí có thể thay đổi về tổng số, tương quan tỷ lệ thuận với sự thay đổi khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ. Thuộc loại chi phí này có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Tuy vậy, chi phí biến dổi tính trên một đơn vị sản phẩm lại có tinhd cố định. - Chi phí cố định ( Định phí) : Là chi phí không thay đổi tổng số khi thây đổi khối lượng sản phẩm sản xuất như chi phí khấu hao tài sản cố định theo phương Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 7 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán pháp bình quân, chi phí điện…Song chi phí cố định tính trên một đơn vị sản phẩm lại biến đổi. Cách phân loại này có tác dụng lớn trong công tác quản trị kinh doanh, phân tích điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.  Phân loại theo phương pháp tập hợp chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí. Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành hai loại: - Chi phí trực tiếp : Là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất ra một sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện một lao vụ dịch vụ nhất định. - Chi phí gián tiếp : Là những khoản chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều loại sản phẩm sản xuất, nhiều công việc lao vụ thực hiện. Những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho những đối tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn thích hợp. Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý. 2.2.2. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất. 2.2.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất : - Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn sản xuất mà chi phí sản xuất cần phải tập hợp theo đó. - Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều địa điểm phân xưởng, tổ, đội sản xuất khác theo quy trình công nghệ cũng khác nhau. Do đó chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng có thể phát sinh ở nhiều địa điểm nhiều bộ phận liên quan đến nhiều sản phẩm công việc. - Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là phạm vi giới hạn mà chi phí sản xuất cần được tập hợp nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm. Việc xây dựng đối tượng tập hợp chi phí trong doanh nghiệp cần phải căn cứ vào những đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, địa điểm phát sinh chi phí cũng như yêu cầu và trình Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 8 độ quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh. Dựa vào những căn cứ trên, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là : + Từng phân xưởng, bộ phận sản xuất, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp. + Từng giai đoạn công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ. + Từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng công trình… + Từng bộ phận chi tiết sản phẩm. 2.2.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất. Trong quá trình sản xuất sản phẩm ở các doanh nghiệp thường phát sinh nhiều loại chi phí sản xuất khác nhau. Những chi phí sản xuất này có thể liên quan đến một hay nhiều đối tượng tập hợp chi phí. Để tập hợp chi phí sản xuất chính xác chúng ta có thể sử dụng một trong hai phương pháp sau : Phương pháp trực tiếp : Là phương pháp áp dụng khi chi phí sản xuất có quan hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt. Phương pháp phân bổ gián tiếp : Là phương pháp áp dụng khi chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà không thể tổ chức việc ghi chép ban đầu riêng rẽ theo từng đối tượng được. Theo phương pháp này doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép ban đầu cho các CPSX theo địa điểm phát sinh chi phí để kế toán tập hợp chi phí. Sau đó phải chọn tiêu chuẩn phân bổ để tính toán, phân bổ CPSX đã tập hợp cho các đối tượng có liên quan một cách hợp lý nhất và đơn giản thủ tục tính toán phân bổ: - Xác định hệ số phân bổ (H). Trong đó : C - Tổng chi phí cần phân bổ Ti – Tiêu thức phân bổ của đối tượng i. - Tính số chi phí phân bổ cho từng đối tượng (i): Ci = Ti*H Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 9 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 2.2.3. Quy định kế toán chi phí sản xuất theo chuẩn mực kế toán Việt Nam. Trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm có 26 chuẩn mực tuy nhiên những nội dung liên quan tới chi phí sản xuất trong DNSX như chỉ được quy định trong các chuẩn mực sau : - Chuẩn mực kế toán Viêt Nam số 01- Chuẩn mực chung : Đây là chuẩn mực chung nêu lên các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và việc ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính. Trong đó có khái niệm về chi phí và nguyên tắc ghi nhận chi phí vào BCTC. Việc ghi nhận vào BCTC phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc mà chuẩn mực này đã nêu ra. Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán qui định. Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất trong một kỳ kế toán năm.Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. - Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02- Hàng tồn kho : Nội dung của VAS số 02 quy định giá trị hàng tồn kho được tính thao giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 10 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán Giá gốc của hàng tồn kho bao gồm : Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Giá gốc hàng tồn kho được xác định theo chi phí chế biến. Đó là những chi phí liên quan trực tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phi sản xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành sản phẩm. Trong đó : Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh. Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến mỗi đơn vị sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình thường. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng một khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm không được phẩn ánh một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ chi các loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế toán. - Chuẩn mực kế toán số 03 – Tài sản cố định hữu hình. Theo VAS số 03, giá trị phải khấu hao của tài sản cố định hữu hình được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản đem lại cho doanh nghiệp. số khấu hao của từng kỳ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như : Khấu hao tài sản cố định hữu Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 11 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán hình dùng cho các hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá tài sản cố định vô hình ( theo quy định của chuẩn mực tài sản cố định vô hình), hoặc chi phí khấu hao tài sản cố định hữu hình dùng cho quá trình tự xây dựng hoặc tự chế các tài sản khác. - Chuẩn mực kế toán số 04 – Tài sản cố định vô hình. Cũng theo VAS số 04, giá trị phải khấu hao của tài sản cố định vô hình được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích ước tính hợp lý của nó. Thời gian tính khấu hao của tài sản cố định hữu hình tối đa là 20 năm. Việc trích khấu hao được bắt đầu từ khi đưa tài sản cố định vô hình vào sử dụng . Chi phí khấu hao cho từng thời kỳ phải được ghi nhận là chi phí hoạt động sản xuất , kinh doanh, trừ khi chi phí đó được tính vào giá trị của tài sản khác. - Chuẩn mực kế toán số 16 – Chi phí đi vay. Theo nội dung VAS số 16, chi phí đi vay : là lãi vay và các chi phí khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp. Chi phí đi vay phải ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi phát sinh, trừ khi chi phí ấy được vốn hóa khi có đủ các điều kiện : Các chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bắt đầu phát sinh; các chi phí đi vay phát sinh; các hoạt động cần thiết trong việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đang được tiến hành. Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ được tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoán, trừ khi sự gián đoạn ấy là cần thiết. Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đã được hoàn thành. Chi phí đi vay phát sinh sau đó sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ. 2.2.4. Kế toán chi phí sản xuất theo chế độ kế toán Việt Nam theo QĐ 48. 2.2.4.1. Chứng từ sử dụng Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành làm căn cứ để ghi sổ kế toán. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 12 Đối với kế toán CPSX thường sử dụng những chứng từ sau: - Hóa đơn GTGT - Phiếu xuất kho - Phiếu chi tiền - Bảng chấm công - Bảng thanh toán lương - Bảng kê chi phí mua ngoài - Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ - Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ 2.2.4.2. Tài khoản sử dụng Theo Quyết Định 48/2006/QĐ-BTC của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính ngày 14/09/2006, để tập hợp chi phí sản xuất kế toán sử dụng tài khoản 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”. Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản này như sau : Bên nợ: - Các chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm và chi phí thực hiện dịch vụ. - Các chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh liên quan đến giá thành sản phẩm xây lắp công trình, hoặc giá thành xây lắp theo giá khoán nội bộ. - Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ (trường hợp DN hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Bên có: - Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm đã chế tọa xong nhập kho hoặc chuyển đi bán. - Giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao từng phần hoặc toàn bộ tiêu thụ trong kỳ, hoặc bàn giao cho đơn vị nhận thầu chính xây lắp, hoặc giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành chờ tiêu thụ. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 13 - Chi phí thực tế của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành cung cấp cho khách hàng. - Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được. - Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gia công xong nhập lại kho. - Phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường không được tính vào trị giá hàng tông kho mà phải phản ánh vào giá vốn hàng bán của kỳ kế toán. - Kết chuyển chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ (trường hợp DN hạch toán HTK theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số dư bên nợ: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ. Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản : TK 152–Nguyên vật liệu; TK 153– Công cụ dụng cụ; TK 111-Tiền mặt; TK 112-Tiền gửi ngân hàng; TK 142-Chi phí trả trước ngắn hạn; TK 242-Chi phí trả trước dài hạn; TK 334–phải trả người lao động; TK 338–Phải trả phải nộp khác;… 2.2.4.3. Phương pháp hạch toán kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu. * Trường hợp hạch toán HTK theo phương pháp kê khai thường xuyên: 1) Khi xuất nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuât kinh doanh dở dang. Có các TK 152, 153 - Khi xuất công cụ dụng cụ sản xuất có giá trị lớn sử dụng cho nhiều kỳ sản xuất kinh doanh phải phân bổ dần, ghi: Nợ TK142 hoặc 242 Có TK 153-Công cụ dụng cụ - Khi phân bổ giá trị công cụ dụng cụ vào chi phí sản xuất, ghi: Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 142-Chi phí trả trước ngắn hạn Có TK 242-Chi phí trả trước dài hạn Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 14 2) Trường hợp mua nguyên vật liệu sử dụng ngay (không qua nhập kho) cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (Giá mua chưa thuế GTGT) Nợ TK 133-Thuế GTGT được khấu trừ Có TK 331, 111, 112,… 3) Trường hợp mua nguyên vật liệu (không qua nhập kho) sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (Giá mua có thuế GTGT) Có các TK 331, 111, 112,… 4) Trường hợp số nguyên liệu, vật liệu xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ cuối kỳ nhập lại kho, ghi: Nợ TK 152-Nguyên liệu, vật liệu Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 5) Tiền lương, tiền công và các khoản khác phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 334-Phải trả người lao động 6) Tính, trích BHXH, BHYT, KPCĐ (phần tính vào chi phí doanh nghiệp phải chịu) tính trên số tiền lương tiền công phải trả công nhân sản xuất, nhân viên quản lý phân xưởng theo chế độ quy định, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 338-Phải trả, phải nộp khác 7) Khi trích trước tiền lương nghỉ phép của của công nhân xản xuất, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 335-Chi phí phải trả 8) Khi công nhân sản xuất thực tế nghỉ phép, kế toán phản ánh số phải trả về tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất, ghi: Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 15 Nợ TK 335-Chi phí phải trả Có TK 334-Phải trả người lao động 9) Trích khấu hao máy móc, thiết bị, nhà xưởng sản xuất…thuộc các phân xưởng, tổ, đội sản xuất, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 214-Hao mòn Tài sản cố định 10) Chi phí điện, nước, điện thoại … thuộc phân xưởng, bộ phận sản xuất, ghi: Nợ TK 154 Nợ TK 133 Có TK 111, 112, 331,… 11) Nhập kho giá trị nguyên liệu, vật liệu gia công chế biến xong, ghi: Nợ TK 152 Nợ TK 153 Có TK 154 12) Trị giá nguyên liệu, vật liệu xuất thuê ngoài gia công nhập lại kho, ghi: Nợ TK 152 Có TK 154 13) Trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được, người gây ra thiệt hại sản phẩm hỏng phải bồi thường, ghi: Nợ TK 138-Phải thu khác Nợ TK 334-Phải trả người lao động Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 14) Nhập kho sản phẩm hoàn thành, ghi: Nợ TK 155-Thành phẩm Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 15) Giá trị sản phẩm thực tế nhập kho trong kỳ, ghi: Nợ TK 155-Thành phẩm Có TK 154-Chi phí sản xuất kkinh doanh dở dang 16) Sản phẩm hoàn thành gửi đi bán, ghi: Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 16 Nợ TK 157-Hàng gửi bán Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 17) Trường hợp sản phẩm sản xuất xong không tiến hành nhập kho mà chuyển giao thẳng cho người mua hàng, ghi: Nợ TK 632-Giá vốn hàng bán Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 18) Khi xác định được chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường không tính vào giá thành sản phẩm, kế toán phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường (không được tính vào trị giá HTK) vào giá vốn hàng bán của kỳ kế toán, ghi: Nợ TK 632-Giá vốn hàng bán Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Trình tự kế toán có thể được thể hiện theo sơ đồ (Phụ lục 01) * Trường hợp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ. 1) Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế, xác định giá thực tế chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ và thực hiện việc kết chuyển, ghi: Nợ TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Có TK 631-Giá thành sản xuất 2) Đầu kỳ kế toán, kết chuyển chi phí thực tế sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ, ghi: Nợ TK 631-Giá thành sản xuất Có TK 154-Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 2.2.4.4. Sổ kế toán. Theo nội dung của Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 14 tháng 09 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Chình, có 4 hình thức sổ kế toán sau : Hình thức kế toán nhật ký chung, hình thức kế toán chứng từ ghi sổ, hình thức kế toán nhật ký sổ cái và hình thức kế toán trên máy vi tính. * Hình thức kế toán nhật ký chung: - Nguyên tắc, đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán nhật ký chung. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 17 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh. Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau: + Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt; + Sổ Cái; + Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. - Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chung. Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ Nhật ký chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan. Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên quan. Định kỳ (3, 5, 10... ngày) hoặc cuối tháng, tuỳ khối lượng nghiệp vụ phát sinh, tổng hợp từng sổ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào các tài khoản phù hợp trên Sổ Cái, sau khi đã loại trừ số trùng lặp do một nghiệp vụ được ghi đồng thời vào nhiều sổ Nhật ký đặc biệt (nếu có). Cuối tháng, cuối quý, cuối năm, cộng số liệu trên Sổ Cái, lập Bảng cân đối số phát sinh. Sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp, đúng số liệu ghi trên Sổ Cái và bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập các Báo cáo tài chính.Về nguyên tắc, Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên Bảng cân đối số phát sinh phải bằng Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên sổ Nhật ký chung (hoặc sổ Nhật ký chung và các sổ Nhật ký đặc biệt sau khi đã loại trừ số trùng lặp trên các sổ Nhật ký đặc biệt) cùng kỳ. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 18 * Hình thức kế toán nhật ký-sổ cái. - Đặc trưng cơ bản của hình thức nhật ký-sổ cái: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký - Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký - Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại. Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái gồm có các loại sổ kế toán sau: + Nhật ký - Sổ Cái; + Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. - Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức nhật ký-sổ cái: Hàng ngày, kế toán căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra và được dùng làm căn cứ ghi sổ, trước hết xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để ghi vào Sổ Nhật ký - Sổ Cái. Số liệu của mỗi chứng từ (hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại) được ghi trên một dòng ở cả 2 phần Nhật ký và phần Sổ Cái. Bảng tổng hợp chứng từ kế toán được lập cho những chứng từ cùng loại (Phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập…) phát sinh nhiều lần trong một ngày hoặc định kỳ 1 đến 3 ngày. Chứng từ kế toán và Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại sau khi đã ghi Sổ Nhật ký - Sổ Cái, được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan. Cuối tháng, sau khi đã phản ánh toàn bộ chứng từ kế toán phát sinh trong tháng vào Sổ Nhật ký - Sổ Cái và các sổ, thẻ kế toán chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột số phát sinh ở phần Nhật ký và các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần Sổ Cái để ghi vào dòng cộng phát sinh cuối tháng. Căn cứ vào số phát sinh các tháng trước và số phát sinh tháng này tính ra số phát sinh luỹ kế từ đầu quý đến cuối tháng này. Căn cứ vào số dư đầu tháng (đầu quý) và số phát sinh trong tháng (trong quý) kế toán tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từng tài khoản trên Nhật ký Sổ Cái. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại Khoa Kế Toán-Kiểm Toán 19 Khi kiểm tra, đối chiếu số cộng cuối tháng (cuối quý) trong Sổ Nhật ký - Sổ Cái phải đảm bảo các yêu cầu sau: Tổng số tiền của cột “phát sinh” ở phần nhật ký = Tổng số phát sinh Nợ của tất cả các Tài khoản Tổng số dư Nợ các Tài khoản = + Tổng số phát sinh Có của tất cả các Tài khoản Tổng số dư Có các Tài khoản. Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải được khoá sổ để cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối tháng của từng đối tượng. Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảng tổng hợp chi tiết" cho từng tài khoản. Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết” được đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và Số dư cuối tháng của từng tài khoản trên Sổ Nhật ký - Sổ Cái. Số liệu trên Nhật ký - Sổ Cái và trên “Bảng tổng hợp chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp, đúng sẽ được sử dụng để lập báo cáo tài chính. * Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ. - Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm: + Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ; + Ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ Cái. Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế. Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán. Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ gồm có các loại sổ kế toán sau: + Chứng từ ghi sổ; + Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ; + Sổ Cái; Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen- Trường Đại Học Thương Mại 20 Khoa Kế Toán-Kiểm Toán + Các sổ, thẻ kế toán chi tiết. - Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ: Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán lập Chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào Sổ Cái. Các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ lập Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết có liên quan. Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong tháng trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và Số dư của từng tài khoản trên Sổ Cái. Căn cứ vào Sổ Cái lập Bảng Cân đối số phát sinh. Sau khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập Báo cáo tài chính. Quan hệ đối chiếu, kiểm tra phải đảm bảo Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng nhau và bằng Tổng số tiền phát sinh trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ. Tổng số dư Nợ và Tổng số dư Có của các tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng nhau, và số dư của từng tài khoản trên Bảng Cân đối số phát sinh phải bằng số dư của từng tài khoản tương ứng trên Bảng tổng hợp chi tiết. * Hình thức kế toán trên máy vi tính. - Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính: Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định. Luận văn tốt nghiệp K43D1 Nguyễn Thị Hương Sen-
- Xem thêm -