Kế toán bán hàng máy tính tại công ty cổ phần thế giới công nghệ số f5

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

 Luận văn tốt nghiệp 1 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài kế toán bán hàng tại các doanh nghiệp thương mại 1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài - Về mặt lý luận: Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống kế toán Việt Nam trong những năm qua đã có sự đổi mới sâu sắc với Luật Kế toán, 26 chuẩn mực kế toán (VAS) và các thông tư hướng dẫn các CMKT cũng như các văn bản sửa đổi, bổ sung. Hệ thống CMKT Việt Nam ra đời đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực kế toán nói chung và kế toán bán hàng nói riêng, tạo ra môi trường kinh tế bình đẳng, làm lành mạnh hóa các quan hệ và các hoạt động tài chính và quan trọng hơn là tạo ra sự công nhận của quốc tế đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên trong quá trình vận dụng do tính chất phức tạp nên việc vận dụng vẫn còn những bất cập cần được hướng dẫn và hoàn thiện. CĐKT theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC thay thế CĐKT doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT đã cho thấy sự hoàn thiện từng bước của CĐKT Việt Nam. Tình trạng một CĐKT chắp vá do được bổ sung, sửa đổi quá nhiều lần đã được khắc phục. Việc tổ chức hoàn thiện phương pháp kế toán bán hàng phù hợp với CĐKT mới và yêu cầu quản lý của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết của mỗi DN. - Về mặt thực tiễn: Chủ trương đưa tin học vào cộng đồng, tin học hoá bộ máy hành chính Nhà nước với nhiều ưu đãi là những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường máy tính. Cùng với xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, đã mở ra cho các DN kinh doanh máy tính có nhiều cơ hội lớn cùng với những thách thức không nhỏ. Số lượng hàng nghìn công ty máy tính được thành lập ở Hà Nội là một áp lực rất lớn tạo ra cho các công ty đang hoạt động trong ngành này. Tình hình thị trường khắt khe hiện tại giống như bộ lọc tự nhiên buộc các DN phải tính đến hiệu quả hoạt động, thắt chặt chi phí. Một trong những chiến lược mũi nhọn của các DNTM kinh SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 2 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà doanh máy tính là tập trung vào khâu bán hàng. Bởi nếu DN nào tổ chức tốt nghiệp vụ tiêu thụ hàng hóa đảm bảo thu hồi vốn, bù đắp các chi phí đã bỏ ra sẽ có điều kiện tồn tại và phát triển. Ngược lại, nếu DN nào không tiêu thụ được hàng hóa của mình thì sớm muộn cũng đi đến chỗ phá sản. Xây dựng tổ chức công tác hạch toán kế toán khoa học hợp lý là một trong những cơ sở cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc ra quyết định điều hành kinh doanh có hiệu quả. Trong đó biện pháp quan trọng nhất, hiệu quả nhất phải kể đến là thực hiện tốt công tác kế toán bán hàng. Là một DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh máy tính, kế toán bán hàng máy tính tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 giữ vai trò hết sức quan trọng, là phần hành kế toán chủ yếu trong công tác kế toán của DN. Góp phần phục vụ đắc lực hoạt động bán hàng của DN, giúp DN tăng nhanh khả năng thu hồi vốn, kịp thời tổ chức quá trình kinh doanh tiếp theo, cung cấp thông tin nhanh chóng để từ đó DN phân tích, đánh giá lựa chọn các phương án đầu tư có hiệu quả. Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5, em nhận thấy một số vấn đề về kế toán bán hàng máy tính vẫn chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập trong việc tổ chức bộ máy kế toán, trong khâu luân chuyển chứng từ hay trong việc thực hiện về hóa đơn chứng từ sao cho đúng quy định... Từ đó có thể thấy rằng việc nghiên cứu kế toán bán hàng máy tính tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 là một vấn đề có tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. 1.2 Xác lập và tuyên bố đề tài Xuất phát từ việc nghiên cứu công tác kế toán tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 trong thời gian thực tập, nhận thức được kế toán bán hàng là vấn đề nổi bật, có tầm quan trọng trong công tác kế toán tại công ty và là một trong những vấn đề hướng tới những người quản trị và hạch toán kế toán phải đặc biệt chú ý, em đã đi sâu nghiên cứu công tác hạch toán kế toán bán hàng máy tính. Từ đó em xác định đề tài luận văn mà em nghiên cứu trong bài này là đề tài: “Kế toán bán hàng máy tính tại công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5”. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 1.3 3 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được đề cập trên các khía cạnh đó là mục tiêu lý luận, mục tiêu thực tiễn và mục tiêu bản thân. 1.3.1 Mục tiêu lý luận Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng, quản lý công tác kế toán bán hàng. Và làm rõ những quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành đối với kế toán bán hàng nói chung và kế toán bán hàng tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 nói riêng. 1.3.2 Mục tiêu thực tiễn Làm rõ thực trạng kế toán bán hàng tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó đánh giá được việc thực hiện quy trình kế toán bán hàng và việc quản lý công tác kế toán bán hàng tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 đã hợp lý hay chưa. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện, giúp phát triển và tăng cường hiệu quả công tác kế toán bán hàng tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5. 1.3.3 Mục tiêu bản thân Một nhu cầu thực tế đặt ra đối với sinh viên hiện nay là phải có nhiều cơ hội để thực hành thực tế về ngành mà mình học từ đó tích lũy kinh nghiệm. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, em chưa có cơ hội để được trải nghiệm trong môi trường kế toán của một DN. Vì vậy, em thực hiện đề tài này với mong muốn áp dụng những điều đã được học và đọc vào thực tế, tích lũy những kinh nghiệm đầu tiên phục vụ cho việc học và đi làm sau này. Cũng thông qua việc lựa chọn thực hiện đề tài, em mong muốn nâng cao kiến thức của bản thân về quy định của các CMKT Việt Nam, cũng như việc vận dụng các CMKT Việt Nam trong CĐKT hiện hành và các thông tư hướng dẫn kế toán nói chung và kế toán nghiệp vụ bán hàng nói riêng. 1.4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài Nội dung nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu về kế toán bán hàng máy tính tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 4 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Luận văn được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu khảo sát thực tế tại Công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5, 115 Hoàng Văn Thái, Thanh Xuân, TP.Hà Nội trong thời gian từ ngày 14/03/2011 đến ngày 27/05/2011, các số liệu minh họa trong luận văn là số liệu của tháng 3 năm 2011. 1.5 Kết cấu của luận văn: gồm 4 chương Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài kế toán bán hàng tại các doanh nghiệp thương mại Trong chương này, luận văn làm rõ tính cấp thiết nghiên cứu đề tài; xác lập và tuyên bố đề tài nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian; và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề cơ bản về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại. Chương này, luận văn nêu tóm tắt một số khái niệm sử dụng trong kế toán bán hàng, lý thuyết về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, khái quát về tình hình khách thể của một số công trình nghiên cứu trong những năm trước, từ những cơ sở lý luận và thực tiễn xác định nội dung nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng kế toán bán hàng máy tính tại công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5. Trong chương này, luận văn làm rõ phương pháp hệ nghiên cứu và khái quát tổng quan về công ty, cơ cấu bộ máy quản lý, tổ chức công tác kế toán bán hàng máy tính ở công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5 và tập trung làm rõ thực trạng kế toán bán hàng máy tính ở công ty. Chương 4: Các kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng máy tính tại công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5. Trên cơ sở đánh giá thực trạng kế toán bán hàng máy tính tại công ty Cổ Phần Thế Giới Công Nghệ Số F5, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng máy tính tại công ty phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 5 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Chương 2: Tóm lược một số vấn đề cơ bản về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại. 2.1 Một số khái niệm cơ bản về kế toán bán hàng tại các doanh nghiệp thương mại 2.1.1 Bán hàng và nhiệm vụ của kế toán bán hàng * Khái niệm bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một DNTM, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua (giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại – trường Đại Học Thương Mại). * Nhiệm vụ của kế toán bán hàng Kế toán nghiệp vụ bán hàng cần phải thực hiện nhiệm vụ chủ yếu sau đây: - Ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàng của DN cả về số lượng, cả về giá trị theo từng mặt hàng, nhóm hàng. - Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua. - Tính toán chính xác giá vốn của hàng hóa tiêu thụ, từ đó xác định chính xác kết quả bán hàng. - Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ sở đó có những biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh. 2.1.2 Doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu - Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu (theo CMKT số 14 đoạn 03, điều 1). - Doanh thu bán hàng: Là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) (theo CMKT trang 300). SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS.Đặng Thị Hoà 6 - Doanh thu giảm trừ + Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua với khối lượng lớn (Theo VAS 14, đoạn 03, điều 2) + Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán”.( VAS 14, đoạn 03, điều 4). + Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu (VAS 14, đoạn 03, điều 3). Các khoản giảm trừ doanh thu = Chiết khấu + Giảm giá + Doanh thu hàng bán thương mại hàng bán bị trả lại - Doanh thu thuần: là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm giá hàng bán; chiết khấu thương mại; doanh thu của số hàng bán bị trả lại; thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Doanh thu thuần = Tổng doanh thu - Các khoản giảm trừ về tiêu thụ tiêu thụ doanh thu (giáo trình kế toán tài chính- học viện tài chính 2008) - Giá trị hợp lý của hàng bán: là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá (theo VAS 14, đoạn 03, điều 7) 2.1.3 Giá gốc hàng bán và một số khái niệm khác - Giá gốc hàng bán là giá gốc của hàng xuất kho để bán, bao gồm “chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại” (theo VAS 02). - Phải thu khó đòi: Là các khoản nợ mà người mắc nợ khó hoặc không có khả năng trả nợ đúng kỳ hạn trong năm kế hoạch (giáo trình kế toán tài chính – Học Viện Tài Chính). - Lập dự phòng nợ phải thu khó đòi: Là việc DN tính trước vào chi phí của DN một khoản chi để khi có các khoản nợ khó đòi, không đòi được thì tình hình tài chính của DN không bị ảnh hưởng (giáo trình kế toán tài chính – Học Viện Tài Chính). SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 7 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà 2.1.4 Một số nội dung khác liên quan a. Các phương thức bán hàng Trong các DNTM, việc tiêu thụ hàng hóa có thể được thực hiện theo các phương thức sau: Phương thức bán buôn, bán lẻ, bán đại lý. * Phương thức bán buôn hàng hóa Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các DN sản xuất… để thực hiện bán ra hoặc để gia công rồi bán ra. Trong phương thức bán buôn hàng hóa thường bao gồm hai phương thức sau đây:  Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn qua kho là phương thức bán buôn hàng hóa mà hàng bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của DN. Trong phương thức này có hai hình thức: + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho. + Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng.  Phương thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng Là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng hóa bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không đem về nhập kho của DN mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho khách hàng. Phương thức này có thể thực hiện theo các hình thức sau: + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp. + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng. * Phương thức bán lẻ hàng hóa Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế, các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau: + Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung + Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp + Hình thức bán hàng tự phục vụ + Hình thức bán hàng trả góp  Phương thức bán hàng đại lý SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 8 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Là phương thức bán hàng mà trong đó DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gởi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho DNTM và được hưởng một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM, đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền bán hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành. b. Các phương thức thanh toán Hiện nay DNTM thường áp dụng các phương thức thanh toán sau: * Hình thức thanh toán trực tiếp Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng hóa (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). * Hình thức thanh toán trả chậm Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Ở hình thức việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa dịch vụ được thực hiện, nhưng khách hàng mới chỉ chấp nhận thanh toán, chưa trả tiền hàng ngay. Tuy vậy, đơn vị vẫn ghi nhận doanh thu bán hàng, nói cách khác doanh thu được ghi nhận trước kỳ thu tiền. 2.2. Lý thuyết cơ bản về kế toán bán hàng trong các DN thương mại. 2.2.1 Quy định về kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam thì kế toán bán hàng chịu sự chi phối của các chuẩn mực: Chuẩn mực số 01 - chuẩn mực chung, chuẩn mực số 02 - hàng tồn kho và chuẩn mực số 14 - doanh thu và thu nhập khác. Cụ thể: * Theo chuẩn mực chung: Một số nguyên tắc kế toán cơ bản - Một số nguyên tắc kế toán cơ bản: + Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 9 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. + Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể. + Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. + Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: a/ Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn; b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí. * Theo VAS số 02 – hàng tồn kho: Giá gốc hàng tồn kho: bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được HTK ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Chi phí mua của HTK bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua HTK. Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua do không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua. Chi phí không tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm: SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 10 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà - Chi phí bảo quản HTK trừ các khoản chi phí bảo quản HTK cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản trong quá trình mua hàng quy định ở đoạn 06; - Chi phí bán hàng; - Chi phí quản lý doanh nghiệp. Phương pháp xác định giá gốc hàng bán Việc tính giá trị HTK được áp dụng theo một trong các phương pháp sau: Phương pháp tính theo giá đích danh: Theo phương pháp này DN phải biết được các đơn vị hàng hóa tồn kho và các đơn vị hàng hóa xuất bán thuộc những lần mua nào và dùng đơn giá của những lần mua đó để xác định trị giá của HTK cuối kỳ. Phương pháp này được áp dụng đối với DN có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của DN. Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Áp dụng dựa trên giả định là HTK được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và HTK còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của HTK được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): áp dụng dựa trên giả định là HTK được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và HTK còn lại cuối kỳ là HTK được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của HTK được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho. * Theo VAS số 14- doanh thu và thu nhập khác: SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 11 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà - Điều kiện ghi nhận doanh thu: Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi giao dịch bán hàng thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện: (a) DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; (b) DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; (c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (d) DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. - Xác định doanh thu + Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các tài khoản đã thu hoặc sẽ thu được. + Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên mua hoặc sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. + Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai. + Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 12 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà 2.2.2 Kế toán bán hàng theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam ban hành theo QĐ 15/BTC-2006 2.2.2.1 Chứng từ sử dụng trong kế toán bán hàng * Các chứng từ sử dụng: Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi (01-BH); Thẻ quầy hàng (02-BH), Phiếu xuất kho, Phiếu nhập kho (với hàng bị trả lại), Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề nghị thanh toán, Biên lai thu tiền, HĐ GTGT, Hóa đơn bán hàng thông thường, Phiếu xuất kho gửi bán nội bộ, Phiếu xuất kho gửi bán đại lý.... * Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán: bao gồm các bước sau: Sau khi lập chứng từ, kế toán phải kiểm tra và ký xác nhận. Các chứng từ này phải được phân loại, sắp xếp. Sau đó, căn cứ trên các chứng từ này, kế toán tiến hành định khoản và ghi sổ. Bước cuối cùng là lưu trữ, bảo quản chứng từ. 2.2.2.2 Vận dụng tài khoản * Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” - Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của DN trong một kỳ kế toán. Kết cấu tài khoản: Bên Nợ - Thuế XK, thuế TTĐB phải nộp của số hàng đã bán trong kỳ. - Thuế GTGT phải nộp của DN nộp thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp. - Các khoản doanh thu hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán, chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ. - Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 để xác định kết quả. Bên có Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ. Tài khoản này không có số dư cuối kỳ và được chi tiết thành 6 TK cấp 2: + TK 5111 “Doanh thu bán hàng hóa”. + TK 5112 “Doanh thu bán các thành phẩm”. + TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”. + TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 13 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà + TK 5117 “Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư”. + TK 5118 – “Doanh thu khác”. * Tài khoản 512 “Doanh thu bán hàng nội bộ” TK này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ các DN. Doanh thu tiêu thụ nội bộ là số tiền thu được từ việc bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp dịch vụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, Tổng công ty. Kết cấu tài khoản 512: Tương tự như TK 511 Tài khoản 512 có các tài khoản cấp 2 sau: - TK 5121 “doanh thu bán hàng hóa” - TK 5122 “doanh thu bán các thành phẩm” - TK 5123 “ doanh thu cung cấp dịch vụ” * Tài khoản 521 “ Chiết khấu thương mại” TK này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua hàng của doanh nghiệp với khối lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng hóa. Kết cấu tài khoản 521 Bên Nợ: Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng. Bên Có: Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ báo cáo. Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại, không có số dư cuối kỳ. * Tài khoản 531 “Hàng bán bị trả lại” Tài khoản này sử dụng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối thanh toán và trả lại cho DN. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 14 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Kết cấu tài khoản 531 Bên Nợ: phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại Bên Có: cuối kỳ Kết chuyển doanh thu của hàng bán bị trả lại trong kỳ để xác định doanh thu thuần Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ. * Tài khoản 532 “Giảm giá hàng bán” Tài khoản này dùng để phản ánh khoản người bán giảm trừ cho do sản phẩm, hàng hoá kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách hoặc quá thời ghi trong hợp đồng kinh tế hoặc hàng hóa bị lạc hậu thị hiếu. Kết cấu tài khoản 532 Bên Nợ: phản ánh khoản giảm giá hàng bán Bên Có: cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số tiền giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần. Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ. * Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán” Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá thực tế của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ. Kết cấu tài khoản Bên Nợ - Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa đã xuất bán trong kỳ. - Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay lớn hơn số đã lập năm trước chưa sử dụng hết). Bên Có - Hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cuối năm tài chính (Chênh lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay nhỏ hơn số đã lập năm trước). - Trị giá vốn của số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ nhưng bị khách hàng trả lại. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 15 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà - Kết chuyển giá vốn của hàng hóa đã xuất bán vào bên Nợ TK 911 để xác định kết quả. Tài khoản này không có số dư cuối kỳ. * Các tài khoản khác có liên quan Ngoài các tài khoản chính trên, kế toán bán hàng trong các DNTM còn sử dụng các tài khoản sau: TK 111 “Tiền mặt”; TK 112 “Tiền gửi ngân hàng”; TK131 “Phải thu của khách hàng”, TK 138 “Phải thu khác”; TK 157 “Hàng gửi đi bán”, TK 338 “Phải trả, phải nộp khác”; TK 333 “Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước”; … 2.2.2.3 Trình tự hạch toán (1) Kế toán doanh thu bán hàng a. Trường hợp bán hàng trực tiếp cho khách hàng hoặc trước đây gửi bán cho khách hàng, cho đại lý theo hợp đồng; khi khách hàng chấp nhận thanh toán (hoặc thanh toán) căn cứ vào hóa đơn GTGT và các chứng từ thanh toán kế toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán ghi: Nếu áp dụng phương pháp thuế GTGT khấu trừ: ghi tăng tiền hoặc các khoản phải thu theo tổng giá thanh toán, tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo giá bán chưa thuế GTGT và tăng số thuế GTGT phải nộp. Nếu áp dụng phương pháp thuế GTGT trực tiếp: ghi tăng tiền hoặc các khoản phải thu, tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo tổng giá thanh toán. b. Trường hợp bán hàng qua các đại lý, ký gửi hàng - Tại bên giao đại lý: Căn cứ vào Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi DN lập hóa đơn GTGT phản ánh doanh thu bán hàng để giao cho các đại lý; xác định tiền hoa hồng phải trả đồng thời nhận hóa đơn GTGT do đại lý phát hành.  Trường hợp bên nhận đại lý đã khấu trừ tiền hoa hồng được hưởng: Căn cứ vào các chứng từ thanh toán, kế toán ghi: tăng chi phí bán hàng (tiền hoa hồng đại lý), tăng thuế GTGT được khấu trừ (thuế GTGT tương ứng theo hoa hồng đại lý), tăng tiền (số tiền đã nhận sau khi trừ hoa hồng đại lý), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán chưa thuế), tăng thuế GTGT phải nộp. SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 16 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà Trường hợp đơn vị nhận hàng đại lý không khấu trừ ngay tiền hoa hồng: Căn cứ chứng từ thanh toán, HĐ GTGT bên đại lý phát hành về hoa hồng được hưởng, kế toán ghi tăng tiền hoặc phải thu của khách hàng (theo giá bán có thuế GTGT), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán chưa có thuế GTGT), tăng thuế GTGT phải nộp. Trường hợp hàng chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế, kế toán ghi tăng tiền hoặc phải thu của khách hàng theo tổng giá thanh toán đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng. Sau đó, bên chủ hàng xác định hoa hồng trả cho các đại lý, bên nhận bán hàng ký gửi, căn cứ vào chứng từ thanh toán, kế toán ghi tăng chi phí bán hàng (tiền hoa hồng đại lý chưa thuế GTGT), tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, và ghi giảm tiền hoặc giảm phải thu của khách hàng (hoa hồng và thuế GTGT tương ứng). Nếu DN thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì các bút toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của bên giao đại lý không sử dụng TK 3331 “thuế GTGT đầu ra” và bút toán phản ánh chi phí hoa hồng đại lý trả cho bên nhận đại lý không sử dụng TK 133 “thuế GTGT đầu vào được khấu trừ” - Tại các đại lý hoặc đơn vị nhận bán hàng ký gửi (bên nhận đại lý) Tại các đại lý, đơn vị nhận hàng ký gửi phải bán hàng đúng giá và hưởng hoa hồng do bên chủ hàng thanh toán. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là phần hoa hồng được hưởng, hạch toán như sau: Khi nhận hàng để bán đại lý, ký gửi: căn cứ căn cứ vào biên bản giao nhận, kế toán ghi: Nợ TK 003 – trị giá hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi. Khi bán được hàng nhận bán hộ, ký gửi: Kế toán phản ánh: Có TK 003- trị giá hàng hóa nhận bán hộ, nhận ký gửi đã tiêu thụ. Đồng thời, căn cứ vào HĐ GTGT và chứng từ thanh toán kế toán phản ánh số tiền bán hàng đại lý phải trả cho bên giao đại lý, kế toán ghi tăng tiền hoặc phải thu của khách hàng và ghi tăng khoản phải trả cho người bán theo tổng giá thanh toán (số tiền phải trả cho bên giao đại lý).  Khi thanh toán với bên giao hàng, căn cứ vào bảng thanh toán hàng đại lý, ký SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 17 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà gửi, phát hành HĐ GTGT hoa hồng được hưởng cho bên chủ hàng và chứng từ thanh toán, kế toán ghi giảm khoản phải trả cho người bán, đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (hoa hồng được hưởng), tăng thuế GTGT phải nộp (theo số hoa hồng), giảm tiền (số tiền thực trả cho chủ hàng sau khi trừ tiền hoa hồng được hưởng). - Nếu DN thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì các bút toán phản ánh doanh thu về hoa hồng đại của bên nhận đại lý không sử dụng TK 3331 “thuế GTGT đầu ra”. c. Trường hợp bán hàng trả góp, trả chậm: Trường hợp này doanh thu bán hàng được tính theo giá bán tại thời điểm thu tiền 1 lần; khách hàng chỉ thanh toán 1 phần tiền mua hàng để nhận hàng và phần còn lại trả dần trong một thời gian và chịu khoản lãi theo quy định trong hợp đồng, chênh lệch giữa giá bán trả góp với giá bán trả ngay được gọi là lãi do bán hàng trả góp và được hạch toán vào doanh thu nhận trước. Định kỳ khi thu tiền, kế toán phản ánh khoản lãi do bán trả góp hạch toán vào doanh thu hoạt động tài chính. Thuế GTGT tính trên giá bán trả ngay.  Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ + Khi bán hàng trả chậm, trả góp kế toán ghi: tăng tiền (số đã thu), tăng khoản phải thu (số còn phải thu), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (theo giá bán trả tiền ngay chưa có thuế GTGT), thuế GTGT đầu ra tính theo giá bán trả ngay), doanh thu chưa thực hiện (chênh lệch giữa giá bán trả góp với giá bán trả ngay chưa thuế GTGT). + Khi thu được tiền các kỳ tiếp theo, căn cứ vào chứng từ thanh toán ghi tăng tiền, giảm khoản phải thu của khách hàng (về bán hàng trả chậm, trả góp). + Từng kỳ, tính toán và xác định doanh thu hoạt động tài chính do bán hàng trả góp, trả chậm, kế toán ghi: ghi giảm doanh thu chưa thực hiện, ghi tăng doanh thu hoạt động tài chính (tiền lãi bán hàng trả chậm, trả góp).  Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 18 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà + Khi bán hàng trả chậm, trả góp kế toán ghi: Tăng tiền (số đã thu), tăng khoản phải thu (số còn phải thu), tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán trả tiền ngay có thuế GTGT) và ghi tăng doanh thu chưa thực hiện. + Cuối kỳ, xác định thuế GTGT phải nộp cho số hàng đã bán trả góp, trả chậm, kế toán ghi: giảm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tăng thuế GTGT đầu ra. Các bút toán phản ánh thu tiền ở các kỳ tiếp theo và xác định doanh thu hoạt động tài chính còn tương tự như trường hợp hàng hóa chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. d. Trường hợp trả lương cho công nhân viên bằng sản phẩm, hàng hóa: Số thành phẩm, hàng hóa này cũng được coi là hàng bán.  Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: Khi xuất hàng trả lương kế toán ghi giảm khoản phải trả người lao động (tổng giá thanh toán có thuế GTGT), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng nội bộ, tăng thuế GTGT đầu ra.  Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Khi xuất hàng trả lương kế toán ghi giảm khoản phải trả người lao động, đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng nội bộ (theo giá có thuế GTGT) e. Trường hợp đổi hàng: Nếu hàng hóa xuất ra để đổi lấy hàng hóa khác cùng loại, cùng giá (trao đổi cùng bản chất) thì kế toán viên vẫn phải lập HĐ phản ánh hàng đổi hàng nhưng không ghi nhận doanh thu. Doanh nghiệp xuất hàng hóa của mình để đổi lấy hàng hóa không tương tự về bản chất và giá trị của đơn vị khác, doanh thu được ghi nhận trên cơ sở giá trao đổi giữa doanh nghiệp với khách hàng, cả hai bên đều phải phát hành hóa đơn.  Nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ:  Nếu DN giao hàng trước rồi mới nhận hàng sau thì hàng hóa coi như bán chịu - Khi xuất hàng mang đi trao đổi: + Kế toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, căn cứ vào HĐ GTGT của số hàng mang đi trao đổi, kế toán ghi sổ: tăng khoản phải thu của khách SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 19 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà hàng (theo tổng giá thanh toán), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá bán chưa thuế), tăng thuế GTGT đầu ra. + Phản ánh giá vốn của hàng hóa đem đi trao đổi, kế toán ghi sổ: tăng giá vốn hàng bán, giảm hàng hóa. - Khi nhận hàng, phản ánh trị giá vốn hàng hóa theo nguyên tắc giá gốc, căn cứ vào HĐ GTGT của đối tác trao đổi, kế toán ghi sổ: tăng hàng hóa (giá mua chưa thuế), tăng thuế GTGT đầu vào), giảm khoản phải thu của khách hàng theo tổng giá thanh toán.  Nếu DN nhận hàng trước rồi trả hàng sau thì hàng hóa coi như mua chịu: - Khi nhận hàng, căn cứ vào HĐ GTGT của đối tác trao đổi, kế toán ghi: tăng hàng hóa (giá mua chưa thuế), tăng thuế GTGT đầu vào, tăng khoản phải trả người bán theo tổng giá thanh toán. - Khi xuất trả hàng: + Kế toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, căn cứ vào HĐ GTGT của số hàng mang đi trao đổi, kế toán ghi sổ: giảm khoản phải trả người bán (theo tổng giá thanh toán), đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (giá trị hợp lý chưa thuế GTGT của số hàng hóa đem đi trao đổi), tăng thuế GTGT đầu ra của số hàng hóa đem đi trao đổi. + Phản ánh giá vốn của hàng hóa đem đi trao đổi, kế toán ghi sổ: tăng giá vốn hàng bán, giảm hàng hóa.  Kết thúc, thanh lí hợp đồng trao đổi giữa hai bên, nếu giá trị sản phẩm đưa đi trao đổi cao hơn giá trị vật tư nhận về, được nhà cung cấp thanh toán số chênh lệch bằng tiền, kế toán ghi sổ: tăng tiền, giảm khoản phải thu của khách hàng. Ngược lại nếu giá trị thành phẩm đưa trao đổi nhỏ hơn giá trị vật tư mà doanh nghiệp nhận về thì doanh nghiệp phải thanh toán tiền cho nhà cung cấp, kế toán ghi sổ: tăng khoản phải thu của khách hàng, giảm tiền.  Nếu doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì các bút toán phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không sử SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1  Luận văn tốt nghiệp 20 GVHD: TS.Đặng Thị Hoà dụng TK 3331 “thuế GTGT đầu ra” và bút toán phản ánh giá trị thực tế vật liệu nhập kho không sử dụng TK 133 “thuế GTGT đầu vào được khấu trừ” f. Trường hợp DN sử dụng sản phẩm của mình sản xuất ra để sử dụng nội bộ, khuyến mại, hội chợ triển lãm thương mại, quảng cáo phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ: Theo thông tư 120/TT-BTC/12/12/2003: sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo theo quy định tại nghị định số 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 của Chính phủ về khuyến mại quảng cáo thương mại, hội chợ triển lãm thương mại phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT khấu trừ thì không phải tính thuế GTGT. - Phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có thể tính theo giá vốn hàng hóa, kế toán ghi sổ: tăng chi phí và tăng doanh thu bán hàng nội bộ. - Phản ánh giá vốn của hàng hóa xuất dùng, kế toán ghi sổ: tăng giá vốn hàng bán, giảm hàng hóa. - Nếu sản phẩm hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ tiêu dùng nội bộ, khuyến mại, quảng cáo phục vụ cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm hàng hóa tiêu dùng nội bộ tính vào chi phí kinh doanh, kế toán ghi: tăng chi phí (bao gồm cả thuế GTGT đầu ra), ghi tăng doanh thu bán hàng nội bộ và tăng số thuế GTGT phải nộp. Đồng thời ghi: tăng giá vốn hàng bán, giảm hàng hóa. (2) Kế toán các khoản giảm trừ DT: (a) Kế toán chiết khấu thương mại Trường hợp người mua hàng với khối lượng lớn được hưởng chiết khấu thương mại thì giá bán phản ánh trên HĐ là giá đã trừ chiết khấu thương mại. - Căn cứ vào HĐ bán hàng và các chứng từ liên quan khác, kế toán phản ánh số chiết khấu thương mại thực tế phát sinh trong kỳ: ghi tăng chiết khấu thương mại, SVTH: Lê Thị Nhâm Lớp: K43D1
- Xem thêm -