Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Lời mở đầu Giữa các quốc gia luôn có mối quan hệ về kinh tế và phi kinh tế. Biểu hiện của mối quan hệ kinh tế là giao lưu hàng hoá (thương mại quốc tế), đầu tư. Mối quan hệ phi kinh tế như viện trợ, giao lưu văn hoá, ngoại giao, chính trị. Chủ thể tham gia vào các mối quan hệ này chủ yếu là các nhà kinh tế, ngoài ra còn có chính phủ, cá nhân, tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế là cơ sở hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các quốc gia. Mối quan hệ phi kinh tế chỉ có dòng dịch chuyển một chiều mà không có dòng dịch chuyển đối ứng. ở bài viết này chỉ xin đề cập đến mối quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế mà không đề cập đến mối quan hệ phi kinh tế giữa các quốc gia. Ngân hàng Ngoại thương với lịch sử 60 năm hình thành và phát triển. Là ngân hàng đi đầu trong công cuộc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước. Với phương châm phát triển “an toàn, hiệu quả, bền vững” và tôn chỉ “luôn vì sự thành đạt của khách hàng”. Với thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hoạt động kinh doanh theo kiểu “phi vụ, chộp giựt” rất nhiều; vậy điều gì đảm bảo để các doanh nghiệp nước ngoài có thể tin tưởng để có thể kinh doanh mua bán với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu hàng hoá cho phía đối tác Việt Nam nhận tiền thanh toán sau. Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện thanh toán cho các đối tác ở nước ngoài như thế nào và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những điều kiện gì để Ngân hàng Ngoại thương đứng ra thanh toán hàng nhập khẩu thay cho các doanh nghiệp Việt Nam; liệu trong nghiệp vụ này Ngân hàng Ngoại thương có gặp nhiều rủi ro. Thực tế ở Việt Nam đặt ra và qua thời gian tìm hiểu ở Vietcombank với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Lữ hướng dẫn, em đã chọn đề tài “hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” để tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu. Đề án gồm ba chương: 1 Chương 1. Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của các ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Vietcombank. 2 Chương 1 Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của các ngân hàng thương mại 1.1. Sự cần thiết và cơ sở pháp lý của hoạt động thanh toán nhập khẩu của ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm thanh toán nhập khẩu Trong xu hướng phát triển thế giới hiện nay, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng phức tạp của chu chuyển hàng hoá quốc tế. Các quốc gia khi có mối quan hệ về kinh tế, phi kinh tế hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các quốc gia.Thanh toán quốc tế là việc chuyển tiền do các mối quan hệ đó tạo ra. Thanh toán xuất nhập khẩu là việc chi trả cho các nghiệp vụ và yêu cầu tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hoặc bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng. Thanh toán nhập khẩu là một phần trong thanh toán xuất nhập khẩu; thanh toán nhập khẩu trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nhưng chỉ thực hiện cho các đối tượng là hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài nhập vào. Như vậy, trong thanh toán nhập khẩu các chủ thể tham gia thanh toán gồm: người xuất khẩu, người nhập khẩu và các ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Khác với thanh toán trong nước, thanh toán nhập khẩu thường gắn với việc trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Hiện nay, thanh toán nhập khẩu thường được chi trả thông qua mạng swift là mạng điện tử có thể thanh toán trên toàn cầu không mất phí chuyển và đảm bảo tuyệt đối an toàn. Ngoài ra, việc chi trả còn có thể được thực hiện thông qua 3 điện tín, bưu điện, hoặc qua uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ giữa các ngân hàng với nhau. Trong thanh toán nhập khẩu các ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra thu hộ, chi hộ và thu phí của khách hàng nhờ thanh toán. Và ngân hàng thường cung cấp thêm các dịch vụ đi kèm như phát hành thư tín dụng (L/C); thực hiện bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá trả tiền sau; cho vay để thanh toán cho đối tác nước ngoài, cung cấp các dịch vụ tư vấn, làm môi giới,… 1.1.2. Sự cần thiết thanh toán nhập khẩu Một nước có thể tự sản xuất những hàng hoá cần thiết phục vụ cho đất nước mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường các nước nhận thấy lợi ích so sánh về sản xuất hàng hoá của từng nước; có nghĩa là mỗi nước có lợi thế về sản xuất một số mặt hàng nhất định vì vậy các nước tập trung sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế. Vì vậy, sẽ phát sinh những mặt hàng mà trong nước không có do không sản xuất được hoặc sản xuất được trong nước nhưng chi phí cao đòi hỏi phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá và kết thúc bằng việc thanh toán tiền tệ. Do việc vận chuyển nhiều tiền qua lại giữa các nước có thể gặp nhiều rủi ro; mặt khác xu thế phát triển của các nước trên thế giới là các tổ chức, cá nhân đều có tài khoản ở ngân hàng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tế và các khách hàng của mình ngân hàng cần có thêm nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu hơn nữa các ngân hàng lại có đủ khả năng thực hiện hoạt động thanh toán. Các tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài do xa cách về địa lý nên gặp khó khăn khi thanh toán trực tiếp cho nhau. Hơn nữa sự bất đồng về ngôn ngữ, khác về luật lệ trong thanh toán, chi trả và khác nhau về tiền tệ. Vì vậy, thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện qua hệ thống nhân hàng. 4 Về phía ngân hàng có đủ điều kiện thực hiện hoạt động thanh toán nhập khẩu cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Ngân hàng có quan hệ trên diện rộng, trong nền kinh tế thị trường hiện nay không có ngân hàng thương mại nào không có quan hệ với một ngân hàng ở nước ngoài, ngân hàng có mối quan hệ trên diện càng rộng thì càng thuận lợi cho thanh toán. Ngân hàng giữ và quản lý tài sản cho các tổ chức cả đồng bản tệ và ngoại tệ; hơn nữa ngân hàng được phép dự trữ ngoại tệ. Ngân hàng là tổ chức có chuyên môn thanh toán có thể hiểu được luật thanh toán chung để vân dụng cho những trường hợp cụ thể; và ngân hàng luôn đổi mới hoạt động cũng như thiết bị máy móc phục vụ cho thanh toán một cách tốt nhất. Ngân hàng có mối giao tiếp rộng nên có thể có chi nhánh nước ngoài, có uy tín thuận lợi cho thanh toán. Thanh toán nhập khẩu là cần thiết và trong thời đại hiện nay chuyên môn hoá các công việc ở mức cao thì thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện ở ngân hàng thương mại đảm bảo nhanh chóng, chính xác và an toàn cao. 1.1.3. Những điều kiện liên quan đến thanh toán nhập khẩu 1.1.3.1. Tiền tệ Mỗi quốc gia có đồng tiền riêng, việc lựa chọn đồng tiền nào làm phương tiện để chi trả cho phía xuất khẩu là tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên có mối giao lưu và thực hiện thanh toán tiền cho nhau. Thường đồng tiền được sử dụng là đồng tiền có tính phổ biến và được thừa nhận rộng rãi, ở Việt Nam chủ yếu lựa chọn đồng USD trong thanh toán. Hơn nữa, sự biến động tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng tiền được lựa chọn làm phương tiện thanh toán cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn đồng tiền thanh toán của các bên. Do mọi chi phí ở trong nước được tính bằng đồng bản tệ còn thanh toán lại dùng đồng tiền khác vì vậy tỷ giá giữa hai đồng tiền ảnh hưởng đến lợi nhuận của các bên. Và các giao dịch có thể diễn ra trước quan hệ thanh toán diễn ra sau vì vậy sự biến động tỷ giá có 5 ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Phương pháp phòng ngừa là sử dụng hợp đồng quyền chọn, dựa vào cơ chế xác định tỷ giá, điều chỉnh tỷ giá. 1.1.3.2. Địa điểm thanh toán Việc thanh toán bắt đầu từ ngân hàng phục vụ người bán (người thụ hưởng, người xuất khẩu) hay ngân hàng phục vụ người phải trả (người mua, người nhập khẩu) là tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa hai bên nhưng thường bên được nhận sự hỗ trợ từ phía đối tác được quyền nêu lên địa điểm ngân hàng thanh toán. 1.1.3.3. Thời điểm thực hiện thanh toán Có thể chia thời điểm thực hiện thanh toán làm các nhóm: thời điểm hàng xuất tập trung ở cảng, hàng được bốc lên tàu, hàng ra khỏi phao số 0, hàng tới cảng. 1.1.3.4. Lựa chọn phương thức thanh toán Các bên lựa chọn phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh toán. Tuy nhiên, lựa chọn hình thức thanh toán nào thì cũng sẽ có một bên có lợi thế hơn và một bên dễ gặp rủi ro hơn. Vì vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể ưu thế trong giao dịch thuộc bên mua hay bên bán mà các bên lựa chọn phương thức này hay phương thức khác. 1.1.4. Cơ sở pháp lý của thanh toán nhập khẩu Thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với kinh tế đối ngoại nói riêng. Có thể nói nếu không có thanh toán quốc tế thì thì kinh tế đối ngoại không phát triển hay ít nhất chỉ tiến hành với phạm vi hẹp và mức độ nhỏ. Tuy nhiên,do các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế thuộc các quốc gia khác nhau nên có sự kác nhau về luật pháp, văn oá, phong tục,… vì vậy việc thực hiện thanh toán quốc tế phải theo các quy tắc chung do phòng thương mại quốc tế ban hành, đồng thời cũng phải chịu sự chi phối của luật pháp từng nước có chủ thể tham gia. 6 Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam mới được hình thành năm 1988, khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 53/HĐBT chuyển ngân hàng một cấp sang hai cấp. Sau 16 năm – một khoảng thời gian không dài – NHTM Việt Nam đã tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, thành phần sở hữu và đặc biệt là chất lượng. Các NHTM, đặc biệt là NHTM nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều nghiệp vụ ngân hàng quốc tế hiện đại – trong đó có hoạt động thanh toán nhập khẩu góp phần đưa kim nghạch xuất nhập khẩu từ 4 tỷ USD năm 1990 lên trên 55 tỷ USD năm 2004. Một thành quả rất quan trọng là xác lập vị thế và uy tín trên trường quốc tế. So với một số nước có nền kinh tế chuyển đổi khác, trong hoạt động ngân hàng quốc tế nói chung và thanh toán nhập khẩu nói riêng, các NHTM Việt Nam có độ tín nhiệm cao, hầu hết các NHTM trên thế giới đều chấp nhận các phương thức thanh toán nhập khẩu với Việt Nam, tin tưởng các cam kết của NHTM Việt Nam. Đạt được những thành tựu nêu trên, ngoài sự nỗ lực của các ngân hàng, còn có nguyên nhân quan trọng là nhờ hệ thống văn bản pháp lý đã được xây dựng từng bước khá đồng bộ, tạo thuận lợi cho hoạt động ngân hàng. Xét về góc độ quốc tế, đó là hệ thống luật lệ nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên tham gia trong hoạt động thanh toán quốc tế. Bao gồm: Điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán thương mại quốc tế. Các quy ước quốc tế về thanh toán nhập khẩu có trong UCP 500, URC 552, URR525, ISP98, SWIFT,… và hệ thống ngôn ngữ thống nhất; trong đó có quy định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia trong hoạt động thanh toán trong từng trường hợp cụ thể, quy trình thanh toán,… mà các bên phải tuân theo khi thực hiện thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên, những văn bản trên chỉ là các quy tăc thực hành thống nhất về thanh toán quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế ban hành không phải là văn bản luật mà chỉ là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong thanh toán quốc tế. Khác với luật quốc gia hoặc 7 công ước quốc tế, các văn bản quy tắc này không được tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế mà mang tính pháp lý tuỳ ý. Nghĩa là các bên tham gia có quyền lựa chọn áp hay không áp dụng. Nhưng khi đã lựa chọn thì các quy tắc sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia. ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng về thanh toán nhập khẩu trong một Bộ Luật, Pháp lệnh hay Nghị định của Chính phủ. Các quy định của pháp luật về thanh toán nhập khẩu nằm rải rác ở các văn bản chủ yếu như: Bộ luật Dân sự năm 1995 phần thứ bảy gồm 13 điều từ Điều 826 đến Điều 838 quy định về các giao dịch có yếu tố nước ngoài. Trong đó có quy định ưu tiên áp dụng điều lệ quốc tế trong trường hợp có sự trùng lặp. Luật thương mại năm 1997 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khó IX, kỳhọp thứ 11 thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 cũng có quy định về ưu tiên áp dụng pháp luật thương mại quốc tế. Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại Điều 3 quy định áp dụng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài. Tuy nhiên, ưu tiên áp dụng luật nước ngoài, thông lệ, tập quán quốc tế khi nó không trái với pháp luật Việt Nam. Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại Điều 4: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong hoạt động thanh toán với nước ngoài. Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối. Quy định tại Điều 3: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài trong hoạt động ngoại hối với nước ngoài. 8 1.2. Các phương thức thanh toán nhập khẩu 1.2.1. Phương thức chuyển tiền 1.2.1.1. Khái niệm Thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó bên nhập khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho bên xuất khẩu ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do bên nhập khẩu yêu cầu. Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền gồm có các bên tham gia thanh toán: Người yêu cầu chuyển tiền: là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Trong nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu thì đây là nhà nhập khẩu trong nước. Người thụ hưởng: là người được nhận số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng, thường là người xuất khẩu hàng hoá ở nước ngoài hoặc một người khác do người xuất khẩu yêu cầu. Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu ở quốc gia nhập khẩu. Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng, thông thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền ở nước người thụ hưởng 1.2.1.2. Đặc điểm Phương thức chuyển tiền được sử dụng trong hai trường hợp thanh toán trước tiền hàng và thanh toán sau. Thanh toán trước tiền hàng thuận lợi cho người bán và bất lợi cho người mua- bất lợi cho bên nhập khẩu vì dễ xảy ra trường hợp tiền đã trả nhưng bên xuất khẩu lại giao hàng không đúng mẫu mã, thời gian,… thậm chí là không giao hàng. Thanh toán sau ngược lại có lợi cho người nhập khẩu và bất lợi cho người xuất khẩu. Bên nhập khẩu có thể nhận 9 hàng rồi nhưng thanh toán chậm hoặc từ chối thanh toán. Trong thanh toán nhập khẩu, các ngân hàng thương mại nên tư vấn cho khách hàng của mình ký được hợp đồng thanh toán sau. Tuy nhiên điều này có phụ thuộc vào lợi thế của các bên trong giao dịch, bên nào có ưu thế hơn trong giao dịch sẽ lựa chọn hình thức thanh toán có lợi cho mình. Phương thức này lợi ích nghiêng về một bên trong giao dịch nên ít được sử dụng đến; chỉ được sử dụng khi các bên có quan hệ lâu dài và tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau hoặc trong mối quan hệ phi hàng hoá và chuyển tiền một chiều. Thanh toán theo hình thức chuyển tiền có thể thực hiện theo 2 hình thức chủ yếu: - Chuyển tiền bằng thư : là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân hàng này gửi yêu cầu ngân hàng thanh toán thực hiện. Thư chuyển tiền là chỉ thị của ngân hàng chuyển tiền đối với ngân hàng thanh toán yêu cầu ngân hàng này chi trả một khoản tiền được ấn định cho người thụ hưởng được chỉ định trong thư. - Chuyển tiền bằng điện: là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dụng một bức điện mà ngân hàng này gửi co ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn thông như SWIFT. Trường hợp cả ngân hàng chuyển tiền và ngân hàng thanh toán đều là thành viên của SWIFT, hoặc có trao đổi dữ liệu điện tử với nhau thì các chỉ thị trao đổi chuyển tiền đều được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn. Với hai hình thức chuyển tiền nêu trên phí dịch vụ chuyển tiền bằng thư thấp hơn phí dịch vụ chuyển tiền bằng điện nhưng lại không nhanh và an toàn bằng chuyển tiền bằng điện. 10 1.2.1.3. Quy trình thanh toán Ngêi yªu cÇu chuyÓn tiÒn cho ngßi mua 1 Ngêi thô hëng Ngêi b¸n 2 Ng©n hµng nhËn chuyÓn tiÒn 4 Ng©n hµng tr¶ tiÒn 3 Chú thích: 1- Người xuất khẩu giao hàng hoá và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu. 2- Người nhập khẩu kiểm tra hàng hoá - bộ chứng từ. Nếu phù hợp lập thủ tục chuyển tiền. 3- Ngân hàng nhận chuyển tiền lập thủ tục chuyển tiền qua ngân hàng đại lý (hoặc chi nhánh) nhận trả tiền. 4- Ngân hàng trả tiền thanh toán tiền cho người thụ hưởng. Trên đây là quy trình thanh toán chuyển tiền trả sau nếu là thanh toán trước thì bước 3 thực hiện đầu tiên đến bước 4 rồi mới đến bước 1 và bước 2 cuối cùng – người nhập khẩu kiểm tra hàng hoá và bộ chứng từ. Về phía ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu khi chuyển tiền đi ngân hàng sẽ hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng Có tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp. 11 Và báo nợ cho khách hàng. 1.2.2. Phương thức mở tài khoản, ghi sổ 1.2.2.1. Khái niệm Mở tài khoản ghi sổ là phương thức thanh toán mà người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thànhgiao hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo thoả thuận giữa hai bên (tháng, quý, bán niên) người mua trả tiền cho người bán. phương thức thanh toán này áp dụng để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Trường hợp cụ thể áp dụng là bán hàng qua đại lý, cơ sở sản xuất ở nước ngoài với đại lý ở nước khác. phía nhập khẩu phải trả khi bán hết hàng. Là hình thức thanh toán đơn giản nhất nhưng có nhiều rủi ro. Chấp nhận rủi ro để chiếm lĩnh thị trường; hoặc mở rộng hơn có quan hệ công ty mẹ - công ty con, những đơn vị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất kinh doanh. Tính về doanh số thì cách thức này không chiếm số lớn, nhưng chuyển tiền làm nhiều lần. 1.2.2.2. Đặc điểm Đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán; các ngân hàng chỉ đơn giản thực hiện chuyển tiền nếu hai bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng khi đến hạn trả tiền định kỳ. Các bên tham gia trong thanh toán ở đây chỉ gồm người mua và người bán. Tài khoản ở phương thức thanh toán này chỉ mở đơn biên không mở song biên tức là chỉ mở tài khoản ở một bên mà không có tài khoản đối ứng ở bên kia. Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán. 12 1.2.2.3. Quy trình thanh toán 1 Ngêi mua Ngêi b¸n 2 Ng©n hµng bªn mua 3 Ng©n hµng bªn b¸n Chú thích: 1- Người bán hàng hoá và dịch vụ cùng với các chứng từ. 2- Báo nợ trực tiếp. 3- Người mua dùng hình thức chuyển tiền để trả khi đến hạn. Phương thức thanh toán mở tài khoản thường được áp dụng thanh toán trong quan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau với điều kiện của thương vụ như dùng trong mua bán hàng đổi hàng, thường xuyên, trao làm nhiều lần trong năm; dùng trong thanh toán tiền gửi hàng bán tại nước ngoài; dùng trong thanh toán tiền phi mậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho các khoản vay và đầu tư. 1.2.3. Phương thức nhờ thu 1.2.3.1. Khái niệm Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu tiến hàng uỷ 13 thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiều hoặc chứng từ do người xuất khẩu lập. Các bên tham gia trong thanh toán nhờ thu gồm: - Người bán (người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ): là người có yêu cầu uỷ nhiệm thu. - Ngân hàng nhận uỷ thác thu: là ngân hàng phục vụ bên bán. - Ngân hàng xuất trình: là ngân hàng thu hộ, thường là ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng uỷ nhiệm thu (ở nước người mua). - Người trả tiền: người nhập khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng. 1.2.3.2. Phân loại Nhờ thu có hai loại nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó bên bán uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do người bán lập. Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch bên bán đã chuyển giao trực tiếp chi bên mua, không qua ngân hàng. Phương thức nhờ thu trơn là phương thức thanh toán không bình đẳng, vì trong thanh toán bên mua có lợi thế hơn bên bán, bên mua có thể nhận hàng mà không trả tiền. Để công bằng hơn hạn chế rủi ro cho bên bán người ta bổ sung phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán mà hối phiếu do người bán phát hành đòi tiền bên mua kèm bộ chứng từ hàng hoá đã xuất, ngân hàng chỉ chấp nhận giao bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập khẩu để nhận hàng sau khi người nhập khẩu chấp nhận kí trả tiền trên hối phiếu. Đây cũng chưa là phương thức an toàn bởi hàng đã sản xuất và chuyển sang nước nhập khẩu nếu nhà nhập khẩu từ chối mua hàng hoá đó thì nhà xuất khẩu phải tìm biện pháp để xử lý. Những biện pháp xử lý gây lỗ vốn cho nhà xuất khẩu; thất thoát do tiền 14 lưu kho, lưu bãi để tìm đối tác mới, giá hàng giảm đối tác mời chịu mua. Phương thức nhờ thu vẫn được chấp nhận vì các đơn vị có mối quan hệ với nhau, những ràng buộc pháp lý, hợp đồng không lớn về giá trị. 1.2.3.2. Quy trình thanh toán 1 Ngêi mua 4 Ngêi b¸n 5 Ng©n hµng xuÊt tr×nh Ng©n hµng thu hé 2 3 7 Ng©n hµng nhËn uû th¸c thu 6 Các bước trong thanh toán nhờ thu: 1- Bên bán chuyển giao hàng hoá, đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên mua. 2- Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, uỷ nhiệm qua ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua. 3- Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng phục vụ bên mua nhờ thu tiền từ người mua. 4- Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu lý chấp nhận hối phiếu. 5- Bên mua thanh toán tiền. 6- Chuyển tiền trả qua ngân hàng phục vụ bên bán. 7- Thanh toán tiền cho bên bán. 15 Về phía ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sau khi trao chứng từ cho nhà nhập khẩu, hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi khách hàng hoặc tài khoản thích hợp Có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài Có tài khoản thu dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp Đồng thời ghi nhận ngoại bảng Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ nước ngaòi gửi đến đợi thanh toán Báo nợ cho khách hàng là nhà nhập khẩu. Về phía ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sau khi nhận được thông báo trả tiền, hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài Có tài khoản tiền gửi của khách hàng Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp Đồng thời ghi nhận ngoại bảng Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ gửi đi nước ngoài nhờ thu Và báo có cho khách hàng. 1.2.4. Phương thức tín dụng chứng từ 1.2.4.1. Khái niệm Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ hay L/C là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70% giá trị thanh toán. lý do là nó bảo đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán. 16 Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C. Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khi được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và khi đó phương thức thanh toán này được thiết lập. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đã được mở để trả tiền cho người bán. Việc thanh toán của Ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hoá. Nếu thực trạng của hàng hoá không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người mua không thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải trả tiền cho người bán, thực hiện đầy đủ và đúng các điều khoản đã quy định trong L/C, ngân hàng gặp phải rủi ro trong trường hợp này. 1.2.4.2. Đặc điểm Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, khoong dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ. L/C phải chỉ rõ là huỷ ngang hay không huỷ ngang, nếu không nói gì thì được coi như là không huỷ ngang. Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn nhau. Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không qua 7 ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác minh chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng phát hàng không có quyền thông báo sai sót. 17 Ngân hàng không có trách nhiệm kiểm tra những chứng từ không quy định trong L/C. Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ phải thông báo bằng phương tiện truyền thông trước luc đóng cửa của ngày làm việc thứ 7 và phải đưa ra lý do từ chối. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin. Thực chất của phương thức thanh toán L/C là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu cho ngân hàng của nhà nhập khẩu vay để ngay lập tức thanh toán cho nhà xuất khẩu. Đối với nhà nhập khẩu để mở được L/C nhà nhập khẩu phải kí quỹ – lấy một phần tiền gửi chuyên sang tài khoản ký quỹ mở L/C. Mức kí quỹ có thể từ 0% - 100% giá trị thanh toán của thư tín dụng. Những khoản hàng nhập ngân hàng chấp nhận cho vay thì sẽ không phải kí quỹ. Những khoản hàng nhập ngân hàng không chấp nhận cho vay và L/C la loại thanh toán ngay thì phải kí quỹ 100%. Thông thường mức kí quỹ là 25% cao hoặc thấp hơn là tuỳ vào từng trường hợp và tuỳ vào mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, đây còn là công cụ cạnh tranh của các ngân hàng. Có kí qũy vì thời gian từ lúc nhận hàng đến lúc thanh toán dài. Nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền khi chứng minh được hàng hoá đã xuất phù hợp với những yêu cầu được thể hiện trong L/C. Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu phải có đủ uy tín đối với nhà xuất khẩu mới được nhà xuất khẩu chấp nhận là ngân hàng mở L/C. Trong trường hợp ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu không đủ uy tín thì cần có một ngân hàng khác bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải do nhà xuất khẩu chỉ định. Các bên tham gia trong thanh toán L/C: - Nhà nhập khẩu: là người mua hàng hoá, dịch vụ, người yêu cầu mở L/C. 18 - Ngân hàng phát hành: là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu, mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và thanh toán khi nhà xuất khẩu trình bộ chứng từ đòi tiền hoàn hảo. - Nhà xuất khẩu: người bán, người hưởng lợi trong thanh toán. - Ngân hàng thông báo: là ngân hàng tiếp nhận bộ chứng từ L/C từ ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tới thông báo cho nhà xuất khẩu biết nhà nhập khẩu đã mở L/C. - Ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu thường kiêm luôn thông báo, thực hiện chi trả tiền cho nhà xuất khẩu. - Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngưowif mở L/C thưo yêu cầu của người mở L/C trong trường hợp nhà xuất khẩu không biết đến hoặc không tin tưởng vào uy tín của ngân hàng mở L/C.Thường ngân hàng xác nhận phải là ngân hàng có uy tín lớn trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. Muốn xác nhận ngân hàng mở L/C phải mở thủ tục phí rất cao và đôi khi phải đặt cọc trước. Ngoài ra, còn có thể có ngân hàng chiết khấu là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu có kỳ hạn chưa đến hạn trả tiền do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của người mở L/C. Những quy định, hướng dẫn cụ thể về thanh toán theo phương thức L/C được nêu rõ trong UCP500 – hướng dẫn thực hiện thanh toán tín dụng chứng từ ấn phẩm số 500. Tuy nhiên, những quy định trong UCP500 không mang tính pháp lý bắt các bên phải thực hiện. 1.2.4.3. Phân loại Có nhiều loại L/C nhưng cơ bản có hai loại: L/C có thể huỷ ngang và L/C không thể huỷ ngang. L/C có thể huỷ ngang là L/C đã mở nhưng nhà nhập khẩu có quyền huỷ trước khi thanh toán mà không cần sự chấp thuận của nhà xuất khẩu. Sử dụng L/C huỷ 19 ngang nhà xuất khẩu dễ gặp phải những rủi ro do việc đã giao hàng nhưng nhà nhập khẩu có thể chỉnh sửa các điều khoản hoặc huỷ bỏ L/C. Vì vậy, L/C có thể huỷ ngang chỉ được sử dụng trong những trường hợp người mua và người bán có quan hệ tốt với nhau hoặc việc giao nhận hàng giữa công ty mẹ và công ty con. L/C không thể huỷ ngang là L/C đã mở hoặc không được điều chỉnh hoặc không được huỷ bỏ nếu không được sự chấp nhận của nhà xuất khẩu. L/C không thể huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, thể hiện tính ưu việt của phương thức L/C vì vậy nó được áp dụng rất rộng rãi. Ngoài ra, còn có L/C có điều khoản đỏ, L/C tuần hoàn, L/C chuyển nhượng, L/C giáp lưng, L/C dự phòng, L/C xác nhận, L/C trả chậm. L/C có huỷ ngang hay không được quy định rõ trong L/C khi mở. Bộ chứng từ L/C chuyển sang bên ngân hàng của nhà xuất khẩu phải đóng dấu huỷ ngang. Nếu trong hợp đồng thoả thuận là huỷ ngang nhưng quên đóng dấu sẽ được coi là không huỷ ngang. L/C trả chậm là L/C mà nhà nhập khẩu được quyền nhận hàng, bán hàng đi sau đó mới thanh toán tiền cho ngà xuất khẩu. Khi bộ chứng từ chuyển đến đòi tiền bên nhập khẩu chỉ cần kí nhận chấp nhận trả tiền để nhận hàng sau đó mới phải trả tiền sau. 1.2.4.4. Quy trình thanh toán Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C 20
- Xem thêm -