Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị Công ty cổ phần

  • Số trang: 128 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 663 |
  • Lượt tải: 3
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Hoàng Thị Mai 1 LỜI CẢM ƠN Trong suố t quá trình học tập và hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám hiê ̣u Trường Đại học Quốc gia Hà Nội , Phòng đào tạo sau đại học Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điề u kiê ̣n thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đang công tác và giảng dạy tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và chỉ bảo tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, giúp tôi trang bị đầy đủ kiến thức để nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu. Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Am Hiểu, thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này. Qua đây, tôi cũng xin được cảm ơn gia đình cùng bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn thạc sỹ của mình. 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BCTC : Báo cáo tài chính BKS : Ban kiểm soát CTCP : Công ty cổ phần ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông ĐKKD : Đăng ký kinh doanh DN : Doanh nghiệp GĐ : Giám đốc HĐQT : Hội đồng quản trị LCT : Luật Công ty LDN : Luật Doanh nghiệp NĐ : Nghị định TAND : Tòa án nhân dân TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TGĐ : Tổng giám đốc TTCK : Thị trường chứng khoán Luật sửa đổi luật mẫu về công ty kinh doanh (Mỹ) RMBCA : (viết tắt của Revised Model Business Corporations Act) 3 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1 : Quyền biểu quyết của cổ đông theo tỷ lệ cổ phần sở hữu 4 70 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG MỤC LỤC MỞ ĐẦU...........................................................................................................1 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ..................................................................7 2. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................................8 2.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................................8 2.2. Mục tiêu cụ thể ...................................................................................................8 3. Tình hình nghiên cứu đề tài ...............................................................................8 4. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu ...................................................................10 5. Phương pháp nghiên cứu đề tài ........................................................................10 6. Kết cấu Luận văn .............................................................................................11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CTCP ..............................................................................................................12 1.1. Khái niệm CTCP...........................................................................................12 1.2. Khái niệm quản trị CTCP ................................................................................14 1.3. Sự cần thiết của quản trị trong CTCP ở Việt Nam .........................................16 1.4. Mô hình quản trị CTCP ...................................................................................19 1.5. Các khuyến nghị của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) về quản trị công ty 25 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ CTCP ..............................................................................................................28 2.1. Mô hình quản trị CTCP ...................................................................................28 2.2. ĐHĐCĐ...........................................................................................................31 2.3. HĐQT ..............................................................................................................49 2.4. GĐ hoặc TGĐ .................................................................................................60 5 2.5. BKS .................................................................................................................65 2.6. Cổ đông CTCP ................................................................................................71 2.7. Minh bạch và công khai thông tin trong CTCP ..............................................72 2.8. Giám sát các giao dịch có khả năng tư lợi và giao dịch với các bên liên quan79 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN TRỊ CTCP .........................................................................................82 3.1. Phương hướng chung nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP .............82 3.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP ..........87 KẾT LUẬN ..................................................................................................116 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................118 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Hình thức CTCP ra đời là một tất yếu trong quá trình vận động của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để mở rộng quy mô kinh doanh. Ở Việt Nam, kể từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra cơ hội, và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân phát huy khả năng sản xuất kinh doanh. Từ đó, hình thức CTCP ngày càng phổ biến và chứng minh được vai trò tích cực của nó trong nền kinh tế. Để phát huy thế mạnh của hình thức công ty này trong nền kinh tế thì trước hết trong nội tại CTCP phải hoạt động có hiệu quả, mà vấn đề được quan tâm đầu tiên là quản trị CTCP, tổ chức quản lý trong chính nội bộ công ty. Nhận thức vai trò quan trọng của yếu tố quản trị trong CTCP, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có nhiều chế định liên quan, tạo cơ sở pháp lý chung để những nhà quản lý DN áp dụng vào thực tiễn công ty mình, nhằm làm cho bộ máy CTCP vận hành có hiệu quả. Tiếp thu kinh nghiệm pháp luật công ty của các nước phát triển trên thế giới, trong thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong nhận thức và thực tiễn thi hành pháp luật, nếu so sánh với những quy định về CTCP nói chung và vấn đề quản trị CTCP nói riêng thì pháp luật của nước ta đã có cách tiếp cận và phát triển khá bài bản, đã giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội đất nước và nhu cầu mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao, pháp luật về quản trị CTCP đang bộc lộ nhiều vấn đề chưa hoàn thiện. Nhiều vụ việc tranh chấp nội bộ, nhiều hành vi lợi dụng vai trò, ảnh hưởng của người quản lý để trục lợi, làm thiệt hại đến lợi ích của cổ đông vẫn xảy ra thường xuyên mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập và thiếu sót của pháp luật về quản trị CTCP. LDN 2014 đã có nhiều đổi mới về vấn đề quản trị CTCP nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nhiều bất cập từ LDN 2005 vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung tr 7 iệt để, đặc biệt cần đồng bộ LDN 2014 với các văn bản luật chuyên ngành, văn bản dưới luật để tạo thành một hệ thống thống nhất. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện vấn đề pháp lý liên quan đến quản trị CTCP trong giai đoạn này là việc làm cần thiết. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 2. Mục đích nghiên cứu 2.1. Mục tiêu tổng quát Bằng việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về quản trị CTCP về phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn thi hành, luận văn tập trung phân tích những điểm bất cập, hạn chế, những điểm chưa phù hợp trong quy định của pháp luật hiện hành qua đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam. 2.2. Mục tiêu cụ thể Để thực hiện được mục đích tổng quát đề ra, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề chung về quản trị CTCP, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện vấn đề quản trị CTCP ở Việt Nam; - Phân tích, đánh giá quy định pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam và thực tiễn thi hành các quy định này trên thực tế; - Tìm hiểu bộ phận pháp luật tương ứng của một số quốc gia trên thế giới trong mối tương quan, so sánh với pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP; - Chỉ ra những yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện quy định pháp luật về quản trị CTCP và đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh vấn đề này. 3. Tình hình nghiên cứu đề tài Pháp luật về CTCP nói chung và quản trị CTCP nói riêng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: - Luận văn thạc sỹ luật học, “Chế độ pháp lý về quản trị CTCP theo LDN” (2006) của Trần Lương Đức, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật về quản trị 8 CTCP của Việt Nam theo quy định của LDN 2005. Trong luận văn này, đã có sự so sánh giữa LDN 1999 và LDN 2005, phân tích chỉ ra những điểm mới, tiến bộ của LDN 2005 về quản trị CTCP và đề xuất các giải pháp đề áp dụng pháp luật trong thực tiễn. - Luận văn thạc sĩ luật học, “Pháp luật về quản lý nội bộ trong CTCP ở Việt Nam” (2002) của Lưu Tiến Ngọc, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội. Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý như cơ cấu quản lý nội bộ, vốn, cổ đông của quản trị nội bộ CTCP theo LDN 1999 trên cơ sở so sánh, đối chiếu với quy định về quản trị CTCP trong pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó kiến nghị một số nội dung cần hoàn thiện về CTCP ở Việt Nam, tiếp cận từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới. - Sách: “LDN bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiễn” (2011) của TS. Bùi Xuân Hải. Cuốn sách này tập trung phân tích làm rõ thực trạng pháp luật về quyền của cổ đông, cách thức và biện pháp bảo vệ cổ đông CTCP trên cơ sở có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung LDN năm 2005 nhằm tăng cường bảo vệ cổ đông CTCP. - Bài viết “Một số so sánh về CTCP theo LCT Nhật Bản và LDN Việt Nam”, của Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, số 25/2009; Bài báo cáo “Một số vấn đề về mô hình quản trị công ty trên thế giới và Việt Nam”, của TS. Bùi Xuân Hải, Hội thảo khoa học: Pháp luật về quản trị công ty - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, 2011; Bài viết: “So sánh cấu trúc quản trị công ty điển hình trên thế giới” của TS. Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Khoa học pháp lý số 6/2006; Bài viết “Tạo thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền cổ đông trong Luật Liên minh châu Âu và luật Đức - Kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Phan Huy Hồng, Tạp chí khoa học pháp lý, tháng 3/2010;... Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích làm rõ một số khía cạnh pháp lý trong quá trình tổ chức và hoạt động kinh doanh của CTCP, quyền và nghĩa vụ của cổ đông CTCP, cơ cấu tổ chức ĐHĐCĐ, HĐQT, 9 BKS... Tuy nhiên, các vấn đề trên mới được đề cập dưới góc độ của LDN 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành nên chưa làm rõ được những vấn đề cần hoàn thiện của hệ thống pháp luật về quản trị CTCP sau khi LDN 2014 được thông qua. Vì vậy, đề tài đi sâu nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP, tuy nhiên tập trung nghiên cứu toàn diện những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật Việt Nam theo LDN 2014 về quản trị CTCP trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của LDN 2005, các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện. 4. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu CTCP với tư cách là một loại hình kinh doanh trong nền kinh tế là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. Do đó, luận văn không tập trung nghiên cứu về vấn đề quản trị CTCP dưới góc độ của khoa học kinh tế mà chỉ nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý. Theo cách tiếp cận của luận văn, tác giả không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề pháp lý về quản trị CTCP mà chỉ tập trung vào các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là LDN 2014 về quản trị CTCP trên cơ sở phân tích, đánh giá pháp luật thực định và thực tiễn thi hành trên cơ sở so sánh với pháp luật về quản trị CTCP của một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học luật, cụ thể: - Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng chủ yếu trong Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề chung lý luận cơ bản về quản trị CTCP, cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam; - Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh luật học được sử dụng chủ yếu ở Chương 2 khi phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về quản trị CTCP và chỉ ra những điểm bất cập trong pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam; 10 - Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong Chương 3 để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị CTCP ở Việt Nam. 6. Kết cấu Luận văn Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản để giải quyết được mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, cụ thể như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản trị CTCP Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP 11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CTCP 1.1. Khái niệm CTCP Khái niệm về CTCP của các nước trên thế giới không giống nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất quan niệm: CTCP là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty, vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn. Chẳng hạn Điều 1041 LCT Anh 2006 định nghĩa: “CTCP có nghĩa là một công ty - (A) có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác và (B) thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác”. Ở Pháp, CTCP hay còn gọi là công ty vô danh được ra đời khá sớm (Luật công ty ngày 14/12/1985). Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty nếu đủ điều kiện, có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Theo Luật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán là: phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 25.000 FF (đối với các công ty không phát hành chứng khoán) và 1.500.000 FF (đối với các công ty phát hành chứng khoán), mệnh giá thống nhất mỗi cổ phiếu là 100 FF. Về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới tương đối tương đồng khi quy định về khái niệm CTCP. Điều 110 LDN 2014 quy định “CTCP là DN, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và 12 nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN. CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”. Tương tự như LDN 2005, LDN 2014 không đưa ra một khái niệm khái quát mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP nhưng quy định này đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình CTCP với các loại hình DN khác. LDN 2014 không có nhiều sửa đổi về khái niệm CTCP, chỉ thay đổi cụm từ “Giấy chứng nhận ĐKKD” thành “Giấy chứng nhận đăng ký DN” cho phù hợp với tên của loại giấy chứng nhận hiện đang được áp dụng; và sửa đổi nội dung: CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Theo đó, CTCP giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là “chứng khoán các loại” như trước đây. Từ khái niệm về CTCP quy định tại Điều 110 LDN 2014, có thể nhận thấy, CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau: Một là, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Hai là, về tư cách pháp lý: CTCP có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký DN (trước đây gọi là giấy chứng nhận ĐKKD; ĐKKD và đăng ký thuế), hoạt động độc lập, tự mình tham gia vào các giao dịch; xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty. Ba là, về số lượng cổ đông: CTCP phải có ít nhất ba cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Như vậy, về lý thuyết các CTCP có thể có hàng ngàn, hàng vạn cổ đông... và cổ đông có thể mang quốc tịch khác nhau. Tuy nhiên, do có quá nhiều cổ đông nên việc sở hữu vốn điều lệ của công ty sẽ bị phân tán cho nhiều cổ đông, lợi ích của các cổ đông cũng có thể không thống nhất hay đôi khi là sự xung đột lợi ích 13 giữa các nhóm cổ đông. Khác với công ty TNHH, nhiều cổ đông CTCP không biết nhau và chủ yếu họ quan tâm đến cổ phần và cổ tức, giá trị gia tăng của cổ phần. Bốn là, chế độ trách nhiệm: cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; như vậy, cổ đông của CTCP chỉ chịu TNHH đối với các khoản nợ của công ty. CTCP với tư cách là một pháp nhân sẽ tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản của công ty, cổ đông không phải chịu trách nhiệm thay CTCP về các khoản nợ của công ty. Năm là, về khả năng chuyển nhượng cổ phần: So với mô hình công ty TNHH, phần vốn góp của cổ đông trong CTCP (tức là cổ phần) có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn. Về nguyên tắc, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Điều 84) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 81). Sáu là, huy động vốn: Trước đây, theo khoản 3, Điều 77 LDN 2005 thì CTCP có quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn theo quy định của pháp luật. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán. Khoản 3 Điều 110 LDN 2014 đã quy định CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. Như vậy, điều luật này không hạn chế quyền phát hành các loại chứng khoán khác của CTCP, nhưng cũng không thừa nhận rõ ràng quyền phát hành các loại chứng khoán khác. Vì vậy, sẽ dẫn đến tình trạng phải áp dụng pháp luật chứng khoán để điều chỉnh vấn đề này. 1.2. Khái niệm quản trị CTCP Quản trị CTCP hay còn gọi là quản trị công ty có nhiều cách hiểu khác nhau tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… Hiện nay có một số cách hiểu về quản trị CTCP như sau: Theo Ngân hàng thế giới (WB), quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể 14 thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị công ty là: Thứ nhất, tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; Thứ hai, bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, Thứ ba, các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [8]. Ngoài ra có quan điểm cho rằng quản trị công ty có thể hiểu theo hai nghĩa, “quản trị công ty theo nghĩa hẹp được hiểu là cơ chế quản lý – giám sát của chủ sở hữu với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu. Theo nghĩa rộng hơn, quản trị công ty gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí khách hàng của công ty. Về mặt tổ chức, quản trị công ty là tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, HĐQT và các bên liên quan nhằm: xác định mục tiêu, hình thành các công cụ để đạt đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty” [8]. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, HĐQT, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó. Định nghĩa này của OECD có thể coi là định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty, nó đã và đang được rất nhiều nước trên thế giới vận dụng để xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty, trong đó có Việt Nam. Theo Quy chế Quản trị Công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng Khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán do Bộ Tài Chính ban hành tháng 03 năm 2007, quản trị công ty được định nghĩa như sau: “Quản trị công ty là 15 hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Như vậy, khái niệm quản trị CTCP dưới góc độ luật học có thể hiểu là: hệ thống các thiết chế, theo đó việc tổ chức quản lý công ty được thực hiện trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các chủ sở hữu, người quản lý, những người có lợi ích liên quan, và các phương pháp áp dụng theo một trình tự thủ tục nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động công ty một cách hiệu quả nhất. 1.3. Sự cần thiết của quản trị trong CTCP ở Việt Nam Trong những năm qua, kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng với tốc độ cao. Với vai trò là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đầu năm 2007, Việt Nam đã thúc đẩy việc cải tổ và phát triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường. Sự phát triển này đòi hỏi sự tập trung nhiều hơn vào hiệu quả hoạt động của các CTCP, bởi CTCP là nơi sản xuất ra lượng lớn những sản phẩm và dịch vụ khác nhau để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước và tăng cường chất lượng cuộc sống. Cùng với công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, số lượng các DN, đặc biệt là các CTCP tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Từ hình thức sơ khai ban đầu, CTCP dần được hoàn thiện cả về hình thức sở hữu, cơ cấu đầu tư, huy động vốn, chính sách quản trị hành chính và nhân sự… Theo đó, quản trị CTCP đã được đặt ra ngày càng bức thiết để giải quyết những vấn đề thuộc về đặc trưng của CTCP như: Thứ nhất, một trong những đặc điểm nổi trội của CTCP là khả năng huy động rộng rãi trong công chúng, trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề thông qua hình thức phát hành cổ phiếu ra thị trường; việc chuyển nhượng vốn tương đối dễ dàng. Vì vậy, CTCP có khả năng tập trung vốn cao độ và vấn đề quản lý nguồn vốn được đặt ra trước hết là nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Thứ hai, cũng xuất phát từ khả năng huy động vốn cao từ ngành nghề, lĩnh vực khác nên hoạt động của CTCP có khả năng chi phối thị trường, chi phối nền kinh tế, đặc biệt là ở các công ty đại chúng, các tập đoàn kinh tế… Nếu không giải quyết 16 vấn đề quản trị công ty thì không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một công ty riêng lẻ mà còn có khả năng ảnh hưởng lớn đến cả nền kinh tế. Thứ ba, mặc dù huy động vốn từ công chúng nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng là những nhà đầu tư hay kinh doanh chuyên nghiệp, hiểu rõ hoạt động của CTCP và sự biến động của nền kinh tế. Nhà đầu tư chỉ có khả năng tiếp cận thông tin từ nguồn do công ty cung cấp, và chế tài buộc công bố thông tin của pháp luật. Vì vậy, quản trị công ty không giới hạn ở quản lý nội bộ, quản trị nội bộ mà còn phải đảm bảo sự công khai, minh bạch thông tin, hạn chế giao dịch nội gián, bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư. Vấn đề minh bạch hóa và công khai thông tin trong CTCP được thực hiện thông qua các hoạt động của BKS với tính chất là một cơ quan chuyên môn và chủ yếu qua các cơ chế cung cấp, báo cáo hay tiếp cận các thông tin trong CTCP. Việc tiếp cận hay cung cấp thông tin không chỉ đơn thuần là vấn đề minh bạch; quan trọng hơn thế, phạm vi và chất lượng thông tin được cung cấp hay tiếp cận sẽ có tác động không nhỏ đến việc thực hiện quyền quyết định của nhà đầu tư. Thứ tư, CTCP là pháp nhân độc lập, có vốn tách biệt với chủ sở hữu, một CTCP có thể có rất nhiêu cổ đông, nhưng cơ cấu quản lý chỉ tập trung vào một số người với hoạt động của ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS, GĐ hoặc TGĐ công ty. Vì vậy ở CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, không phải mọi cổ đông đều tham gia vào quản lý công ty. Người quản lý thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, và cổ đông có thể thực hiện chức năng sở hữu chủ yếu trong công ty là một trong những nguyên tắc cơ bản của OECD khuyến nghị các quốc gia nên thực hiện. Với mục đích hoàn thiện môi trường pháp lý để duy trì sự tồn tại và phát triển của CTCP thì vấn đề đặt ra phải đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi của cổ đông, xây dựng mô hình quản trị nội bộ phù hợp để điều hòa các lợi ích trong công ty. Thứ năm, bảo vệ quyền lợi người lao động. Với khả năng huy động vốn rộng rãi, CTCP có điều kiện để mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo nguồn việc làm cho người lao động thì những biến động trong CTCP có thể gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người lao động công ty, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến tình hình kinh tế, 17 xã hội. Vì vậy, quản trị CTCP không chỉ đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu và người quản lý công ty mà còn là vấn đề được đặt ra để bảo vệ quyền lợi người lao động. Thứ sáu, thị trường chứng khoán Việt Nam hiện tồn tại nhiều CTCP được thành lập chủ yếu từ quá trình cổ phần hóa DN nhà nước nên vẫn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình quản trị DN nhà nước trước đây. Những người đại diện của các công ty này thường là những người đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước trong DN và họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của quản trị DN nói chung. Ngoài ra phải kể đến một số lượng không nhỏ các công ty niêm yết là công ty gia đình – một mô hình khá phổ biến ở các nước châu Á – nơi mà vấn đề quản trị vốn không được chú trọng hoặc dễ bị lạm dụng quyền hạn trong các vấn đề có liên quan đến cơ cấu tổ chức, công khai hóa thông tin, giao dịch tư lợi. Bên cạnh đó, rất nhiều DN niêm yết trên sàn chứng khoán là DN có vốn đầu tư nước ngoài, những DN này luôn áp dụng hệ thống quản trị công ty từ hệ thống quản trị công ty mẹ ở trụ sở chính, vì vậy cơ cấu quản trị rất chặt chẽ. Mặc dù có cơ cấu quản trị chặt chẽ nhưng những DN đầu tư nước ngoài này lại hướng tới mục đích chính là phục vụ cho lợi ích của nhà đầu tư ở trụ sở chính, và vì thế, lợi ích của các cổ đông thiểu số (mà trong các công ty liên doanh thì cổ đông thiểu số thường là bên Việt Nam) không được đề cao và bảo vệ hợp lý. Cùng với xu thế hội nhập thì việc đề cao quản trị CTCP ở Việt Nam càng phải được chú trọng để tiệm cận với các nền kinh tế lớn trên thế giới, tự hoàn thiện và phát triển bản thân DN Việt Nam, từ đó thu hút đầu tư nước ngoài và cạnh tranh lành mạnh với nhà đầu tư nước ngoài. Xuất phát từ thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội cũng như thực trạng hoạt động của các CTCP Việt Nam với những lý do trình bày ở trên, có thể thấy, hiện nay, các CTCP Việt Nam đã phần nào nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác quản trị công ty và thấy được sự cần thiết phải thay đổi hệ thống quản trị CTCP, vì nếu không thay đổi thì sự đào thải của các CTCP Việt Nam là rất lớn trong quá trình hội nhập. Toàn cầu hoá và tự do hoá thị trường tài chính mở ra những thị trường mới báo hiệu những cơ hội lợi nhuận đáng kể. Nhưng nó cũng đưa DN đến những cuộc cạnh tranh khốc liệt và những biến động khôn lường trong thị 18 trường tài chính. Và quản trị công ty được coi là cơ sở của “luật chơi” giữa các CTCP, nếu các CTCP không tuân thủ và thực hiện đúng, tất yếu sẽ bị đào thải khỏi môi trường kinh doanh. Đó chính là lí do vì sao quản trị CTCP đã, đang và sẽ được quan tâm tại Việt Nam. 1.4. Các mô hình quản trị CTCP trên thế giới Để nhận biết và phân loại các mô hình quản trị công ty, các nhà nghiên cứu trên thế giới thường dựa vào mục đích quản trị công ty hoặc theo cấu trúc quản trị nội bộ của công ty theo luật định. Thứ nhất, căn cứ vào mục đích của quản trị công ty, các mô hình quản trị công ty thường được phân chia thành mô hình quản trị hướng tới cổ đông và mô hình quản trị công ty hướng tới lợi ích của tất cả những bên có quyền lợi liên quan của công ty, thậm chí người ta còn xác định cả mô hình quản trị công ty hướng tới lợi ích của người lao động hay nhà nước [42]. Bên có quyền lợi liên quan của công ty có thể hiểu là các cá nhân, tổ chức có mối quan hệ liên quan đến quá trình quản trị, điều hành, kiểm soát công ty hoặc là những chủ thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của công ty hay quyết định của công ty thông qua các cơ quan trong bộ máy quản trị [41]. Mục đích quản trị CTCP có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Nếu như mô hình quản trị công ty ở Nhật Bản, Đức… thường đề cao lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan thì các nhà quản trị công ty của Mỹ, Anh, Úc… thường cố gắng tối đa hoá lợi nhuận, vì lợi ích của các cổ đông; và ở những nước này, cổ đông trao cho HĐQT rất nhiều quyền lực [41]. Ở Việt Nam, tuy mục đích quản trị nội bộ CTCP không được ghi nhận cụ thể trong các văn bản pháp luật có liên quan nhưng thông qua các quy định về cơ cấu tổ chức nội bộ công ty và những tư tưởng thể hiện trong các quy định pháp luật này, có thể hiểu hệ thống quản trị công ty của chúng ta dường như hướng tới lợi ích của các bên có quyền lợi liên quan nhiều hơn là chỉ hướng tới lợi ích của các cổ đông. Tuy vậy, tư tưởng này có được thực thi trên thực tế hay không còn phụ thuộc vào những người quản lý điều hành của mỗi công ty. 19 Thứ hai, căn cứ theo cấu trúc quản trị nội bộ của công ty theo luật định, hiện nay, trên thế giới tồn tại chủ yếu hai mô hình cấu trúc quản trị nội bộ CTCP cơ bản là cấu trúc hội đồng kép hay còn gọi là hội đồng hai tầng, đa hội đồng và mô hình hội đồng đơn hay còn gọi là hội đồng một tầng. Cấu trúc quản trị theo mô hình hội đồng hai tầng có nguồn gốc từ nước Đức với các cơ quan: ĐHĐCĐ, Hội đồng giám sát và HĐQT [13]. Sở dĩ mô hình này được gọi là hội đồng hai tầng bởi cấu trúc bộ máy quản trị công ty có hai hội đồng theo thứ bậc, trong đó Hội đồng giám sát là hội đồng bậc trên còn HĐQT là hội đồng bên dưới. Về nguyên tắc, ĐHĐCĐ sẽ bầu chọn thành viên Hội đồng giám sát nhưng người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên vào Hội đồng này. Chủ tịch Hội đồng giám sát do ĐHĐCĐ bầu chọn và khi số phiếu biểu quyết trong Hội đồng giám sát ngang nhau, ý kiến cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng giám sát. Chức năng, quyền hạn của Hội đồng giám sát là lựa chọn, bổ nhiệm, cách chức thành viên HĐQT, đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty cũng như giám sát hoạt động của HĐQT. Trong khi đó, HĐQT có thẩm quyền điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty và báo cáo Hội đồng giám sát. Mô hình quản trị hội đồng hai tầng hướng tới bảo vệ những người có quyền lợi liên quan, nhất là người lao động và chủ nợ. Tuy nhiên, chính sự bảo vệ mạnh mẽ người lao động và các chủ nợ đã khiến cho tư bản vốn ở những nước theo mô hình này kém linh hoạt so với mô hình thị trường tự do kiểu Anh - Mỹ. Thực tế này khiến cho mô hình đại hội hai tầng ít được học hỏi và áp dụng trên thế giới, ngay cả những nơi mà luật dân sự và thương mại Đức có ảnh hưởng lớn như tại các nước châu Âu, mô hình này cũng không được ưa chuộng [42]. Ngược lại với cấu trúc quản trị theo mô hình hội đồng hai tầng, ở các quốc gia theo truyền thống common law như Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Canada…cấu trúc quản trị nội bộ thường được tổ chức theo mô hình hội đồng một tầng, bên cạnh đó một số nước thuộc dòng họ luật thành văn (Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ý…) cũng theo mô hình này. Cấu trúc quản trị theo mô hình hội đồng một tầng 20
- Xem thêm -