Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính tại công ty TNHH dịch vụ kỹ thuật và công nghệ Tiến Phát

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BCTC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp 1.1.1. Khái quát về doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp - Khái niệm: Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn: Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là t chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi. Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được t chức, có tác động qua lại và theo đu i cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, t chức, nhân sự. Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị t chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. (M.Francois Peroux). Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được (trích từ sách "kinh tế doanh nghiệp” của D.Larua.A Caillat - Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội 1992) Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu t ng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện t chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành t chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi những yếu tố sau đây: 1 Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính. Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội”. Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn là một t chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước); quá trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. - Các loại hình doanh nghiệp: Ở Việt Nam, các doanh nghiệp hình thành và xây dựng dựa trên các điều kiện pháp lý khác nhau. Tuy nhiên các doanh nghiệp chủ yếu được hình thành theo các loại hình sau:  Công ty tư nhân: Công ty tư nhân là t chức kinh tế được đăng ký kinh doanh theo quy định và thực hiện các hoạt động kinh doanh, do một cá nhân làm chủ, có tài sản, có trụ sở giao dịch, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của công ty. Chủ công ty tư nhân là đại diện theo Pháp luật, công ty tư nhâncó thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. công ty tư nhân không có tư cách pháp nhân. 2 Thang Long University Library  Công ty hợp danh là: Công ty trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, ngoài các thành viên công ty hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, các thành viên có quyền quản lý công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh thay công ty, cùng nhau chịu trách nhiệm và nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn được chia lợi nhuận theo tỷ lệ tại quy định điều lệ công ty, các thành viên hợp danh có quyền lợi ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.  Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là: Công ty mà chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty. Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho t chức, cá nhân khác, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.  Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là: Công ty trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Thành viên của công ty có thể là t chức, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi người. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành c phiếu để huy động vốn.  Công ty c phần là: Lại hình công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là c phần được thành lập và tồn tại độc lập. Công ty c phần phải có Đại hội đồng c đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (T ng giám đốc), đối với công ty c phần có trên mười một c đông phải có Ban kiểm soát. C đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, có quyền tự do chuyển nhượng c phần của mình cho người khác, số lượng c đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Công ty c phần có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài theo quy định của pháp luật về chứng khoán.  Hợp tác xã là: Một loại hình công ty đặc biệt, có tư cách pháp nhân, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của mình theo quy định của pháp luật. Hợp tác xã là t chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân là những xã viên có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng nhau thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 3 1.1.1.2. Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực đều có chung các hoạt động cơ bản sau: - Hoạt động kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường; - Thực hiện đầy đủ các cam kết đối với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; - Bảo toàn và tăng trưởng vốn, mở rộng kinh doanh; - Bảo vệ môi trường, bảo vệ sản xuất, bảo đảm an ninh, an toàn và trật tự xã hội; - Chấp hành pháp luật, thực hiện chế độ hạch toán thống kê thống nhất và thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước. - Hoạt động lưu chuyển hàng hóa: Sản xuất ra sản phẩm là khâu đầu tiên, nhưng sản phẩm mới chỉ là sản phẩm ở trạng thái khả năng, chỉ khi nào sản phẩm được đưa vào quá trình sử dụng (trong sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân) thì sản phẩm mới thực sự trở thành sản phẩm và quá trình sản xuất mới hoàn thành. - Thực hiện hoạt động lưu thông hàng hóa một cách chuyên nghiệp, các doanh nghiệp t chức quá trình lưu thông một cách hợp lý, nhanh chóng, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp là người cung ứng hàng hóa cho khách hàng, do đó cần phải quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa (sử dụng như thế nào? Sử dụng làm gì? Đối tượng sử dụng? Thời gian và địa điểm mua bán?) và chi phí lưu thông hàng hóa để có giá cả hợp lý, khách hàng có thể chấp nhận được. - Hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông: Quá trình sản xuất theo nghĩa rộng gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đ i (lưu thông) và tiêu dùng. Bốn khâu này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau trong đó mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng là mối quan hệ cơ bản nhất. - Hoạt động dự trữ hàng hóa và điều hòa cung – cầu: Để thỏa mãn nhu cầu và khả năng của khách hàng, doanh nghiệp phải sử dụng những mặt hàng có chất lượng tốt, đúng yêu cầu của khách hàng, nhưng phải ở nơi có nguồn hàng phong phú, nhiều, rẻ, sau khi cộng với chi phí lưu thông đưa đến thị trường bán, khách hàng vẫn có thể chấp nhận được. Điều này, một cách tự nhiên, doanh nghiệp thực hiện việc điều hòa cung cầu từ nơi có hàng hóa nhiều, phong phú, rẻ đến nơi có hàng hóa ít, khan hiếm, đắt hoặc mua hàng khi thời vụ và bán hàng quanh năm, cung cầu hàng hóa được điều hòa. 4 Thang Long University Library 1.1.2. Hệ thống các BCTC được lập tại doanh nghiệp Báo cáo tài chính doanh nghiệp là phương tiện để cung cấp thông tin về tình hình tài chính và thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng quan tâm. BCTC là phương pháp t ng hợp số liệu từ các s sách kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế, phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp; Tình hình và kết quả hoạt động sản suất kinh doanh; Tình hình lưu chuyển các dòng tiền và tình hình vận động sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Do đó, báo cáo tài chính vừa là phương pháp kế toán, vừa là hình thức thể hiện và chuyển tải thông tin kế toán tài chính của doanh nghiệp đến với những đối tượng sử dụng để ra các quyết định kinh tế. Hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp theo năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam bao gồm 4 báo cáo chính: - Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B 01 - DNN); - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B 02 - DNN); - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B 03 - DNN); - Bản thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B 09 - DNN). 1.1.2.1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính t ng hợp dùng để khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản đó tại một thời điểm nhất định. Bảng CĐKT thể hiện những tài sản do công ty quản lý và nguồn hình thành của những tài sản này (từ vốn của người cho vay, nợ phải trả hoặc vốn góp của các chủ sở hữu, hoặc cả hai nguồn), theo phương trình kế toán : Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Kết cấu bảng cân đối kế toán luôn bao gồm hai phần: “Tài sản” và “Nguồn vốn”. Tài sản Nguồn vốn Phản ánh toàn bộ tài sản hiện có Phản ánh quy mô và cơ cấu nguồn của doanh nghiệp tại thời điểm lập vốn; Thể hiện các nguồn hình thành báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu tài sản này được phân theo tính thanh khoản giảm dần, chia thành 2 nhóm lớn gồm: thời điểm tiến hành lập báo cáo. Các chỉ tiêu này được phân theo thời hạn thanh toán tăng dần, gồm 2 nhóm lớn: - Nợ phải trả: Là những khoản 5 - Tài sản ngắn hạn: Có thời gian tiền(vốn) mà doanh nghiệp đi vay, sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn chiếm dụng được và có trách nhiệm trong một kỳ kinh doanh(năm, quý, phải hoàn trả. tháng...). - Vốn chủ sở hữu: Là những - Tài sản dài hạn: Có thời gian sử nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trên doanh nghiệp và các thành viên một kỳ kinh doanh. tham gia góp vốn. Bảng CĐKT doanh nghiệp nhỏ và vừa được lập theo mẫu số B 01 - DNN (Ban hành theo QĐ 48/2006 QĐ - BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). 1.1.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính t ng hợp, nó phản ánh t ng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp và chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính. Nói cách khác, Báo cáo KQ HĐKD là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu trong Báo cáo KQ HĐKD còn là tiền đề phục vụ cho việc dự báo dòng tiền trong tương lai, làm căn cứ tính thời gian thu hồi vốn đầu tư và nhiều hoạt động khác. Quyết định số 48/2008 QĐ - BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định Báo cáo KQ HĐKD của nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ được trình bày theo mẫu số B 02 - DNN. Theo đó, báo cáo KQ HĐKD có kết cấu gồm 2 phần: Lãi lỗ: Thể hiện toàn bộ lãi (lỗ) của hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính tại doanh nghiệp. Bao gồm Doanh thu; Giá vốn hàng bán; Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh; Lãi (hoặc lỗ). Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nƣớc: Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh nghĩa vụ đối với nhà nước của doanh nghiệp và các khoản thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí hoạt động công đoàn, các khoản chi phí và lệ phí. 1.1.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của Báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đ i trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đ i của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng. 6 Thang Long University Library Về kết cấu, theo quyết định số 48/2006 QĐ - BTC ngày 14/09/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ được trình bày theo mẫu số B03 DNN, gồm 3 phần: Lƣu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: Là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ, duy trì các hoạt động, trả c tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động đầu tƣ: Là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. Lƣu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: Là luồng tiền phản ánh các hoạt động tài chính có liên quan đến những thay đ i về quy mô và kết cấu nguồn vốn chủ sở hữu cũng như vốn vay của doanh nghiệp. 1.1.2.4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính là bộ phận hợp thành của hệ thống BCTC, được lập để giải thích và b sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó chúng ta có cái nhìn cụ thể, chi tiết và chính xác hơn về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, giúp phân tích một cách cụ thể, chính xác từng vấn đề theo mục tiêu đề ra nhằm đạt hiệu quả cao trong việc ra quyết định. Bản thuyết minh báo cáo tài chính doanh nghiệp phải được trình bày một cách có hệ thống. Mỗi khoản mục trong bảng CĐKT, báo cáo KQ HĐKD và báo cáo LCTT cần được đánh dấu dẫn tới các thông tin liên quan trong bản thuyết minh BCTC. Thuyết minh BCTC doanh nghiệp vừa và nhỏ được trình bày dựa trên mẫu số B 09 DNN ban hành theo QĐ số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14 tháng 09 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Kết cấu cơ bản của thuyết minh BCTC gồm những phần như sau: I. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp II. Chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp III. Thông tin b sung cho các khoản mục trình bày trong Bảng CĐKT IV. Thông tin b sung cho các khoản mục trình bày trong BC KQ HĐKD V. Thông tin b sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo LCTT 7 VI. Những thông tin khác Khi giải thích và thuyết minh BCTC cần trình bày bằng lời văn ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Phần giải thích cần nêu thêm những thông tin cần thiết chưa thể hiện được ở các BCTC khác và có thể nêu phần phương hướng kinh doanh trong kỳ tới, chỉ cần nêu những thay đ i so với kỳ báo cáo. Trong phần kiến nghị có thể trình bày những kiến nghị với cấp trên, với Nhà nước về các vấn đề liên quan đến chính sách và chế độ tài chính kế toán. 1.2. Phân tích BCTC doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm, mục đích và vai trò của phân tích BCTC - Khái niệm: Phân tích BCTC doanh nghiệp là việc sử dụng tập hợp các khái niệm, phương pháp phân tích và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán, các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp. Qua đó đánh giá được tiềm năng, chất lượng hoạt động kinh doanh cũng như những nguy cơ rủi ro trong tương lai giúp người sử dụng thông tin nhận thức đúng đắn và có cơ sở để đưa ra các quyết định phù hợp. - Mục đích: Có hai mục đích quan trọng trong phân tích báo cáo tài chính, đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích. Bao gồm: Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để "hiểu được các con số". Tức là sử dụng các công cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu. Thứ hai, trên thực tế tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính với mục đích cố gắng đưa ra các đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty. - Vai trò: Phân tích BCTC có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp, nhà 8 Thang Long University Library đầu tư, khách hàng, nhân viên và cả các cơ quan Nhà nước. Mỗi đối tượng sẽ quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau. Cụ thể:  Đối với người quản lý doanh nghiệp: Trên cơ sở phân tích BCTC mà nội dung chủ yếu là phân tích khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức c phần và lập kế hoạch dự báo tài chính.  Đối với các nhà đầu tư vào doanh nghiệp: Mối quan tâm hàng đầu của họ là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của các doanh nghiệp.  Đối với các chủ nợ của doanh nghiệp: Nếu như các nhà đầu tư và quản lý doanh nghiệp thực hiện phân tích báo cáo tài chính với mục đích đánh giá khả năng sinh lợi và tăng trưởng của doanh nghiệp thì đối với ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng thương mại cho doanh nghiệp, họ lại sử dụng kết quả phân tích BCTC nhằm quản lý nợ cũng như đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Trong nội dung phân tích này, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được xem xét trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn.  Với những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả.  Với những khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.  Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có tác động trực tiếp tới tiền lương, khoản thu nhập chính của người lao động, ngoài ra trong một số doanh nghiệp, người lao động được tham gia góp vốn mua một lượng c phần nhất định. Như vậy, họ cũng là những người chủ doanh nghiệp nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp.  Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Dựa vào bản BCTC của doanh nghiệp, các cơ quan quản lý của Nhà nước như thuế, kiểm toán, ngân hàng sẽ thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra và kiểm soát được các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính của doanh nghiệp có tuân thủ theo đúng chính sách, chế độ và luật pháp 9 nhà nước quy định không, tình hình hạch toán chi phí, giá thành, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và khách hàng. Tóm lại, hoạt động phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp và các chỉ tiêu tài chính đặc trưng thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích với mục đích giúp người sử dụng thông tin xem xét từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, t ng hợp khái quát lại chi tiết tình hình hoạt động tài của chính doanh nghiệp. Từ đó tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp. 1.2.2. Các phương pháp phân tích BCTC Để tiến hành phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hoạt động tài chính người ta không dùng riêng lẻ một phương pháp phân tích nào mà sử dụng kết hợp các phương pháp với nhau để đánh giá tình hình DN một cách xác thực nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất. Việc phân tích báo cáo tài chính thường được tiến hành trên cả hai chiều là phương pháp phân tích theo chiều ngang và phân tích theo chiều dọc của BCTC. Phân tích ngang là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính, còn phân tích dọc là việc sử dụng các quan hệ tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các BCTC với nhau để rút ra kết luận. Hiện nay các nhà phân tích tài chính vẫn thường sử dụng những phương pháp chủ yếu là so sánh và phân tích tỷ lệ, ngoài ra còn phải kể đến phương pháp mô hình phân tích Dupont. 1.2.2.1. Phương pháp so sánh Để áp dụng được phương pháp này cần phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu (phải thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian, đơn vị tính toán của các chỉ tiêu so sánh) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh có thể chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian. Kỳ (điểm) được chọn để phân tích gọi là kỳ phân tích (hoặc điểm phân tích). Các trị số của chỉ tiêu tính ra ở từng kỳ tương ứng gọi là trị số chỉ tiêu kỳ gốc, kỳ phân tích. Để phục vụ mục đích phân tích người ta có thể so sánh bằng các cách như so sánh giá trị tuyệt đối; so sánh bằng giá trị tương đối; so sánh bằng số bình quân. Cụ thể: - So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đ i về tài chính của DN, thấy được sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới. 10 Thang Long University Library - So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch đề ra để thấy được mức độ hoàn thiện chỉ tiêu công việc của doanh nghiệp. - So sánh giữa số thực hiện trong kỳ với mức trung bình của ngành để thấy được tình hình tài chính của DN đang ở tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với các DN cùng ngành. - So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong t ng hợp ở mỗi bản báo cáo. So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến đ i về cả số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua niên độ kế toán liên tiếp. 1.2.2.2. Phương pháp tỷ lệ Đây là phương pháp truyền thống và được sử dụng ph biến trong phân tích tài chính, thực hiện dựa trên ý nghĩa và chuẩn mực các tỷ lệ của chỉ tiêu tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của DN với các tỷ lệ tham chiếu. Phương pháp tỷ lệ có tính hiện thực cao, cùng với đó là các điều kiện áp dụng ngày càng được b xung và hoàn thiện. Bởi lẽ: Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy. Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ. Thứ ba, phương pháp phân tích này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Trong phân tích tài chính DN, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của DN. Đó là các nhóm tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỷ lệ về khả năng sinh lời. 1.2.2.3. Phương pháp phân tích tài chính Dupont Phương pháp phân tích tài chính Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bảng cân đối kế toán để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính qua đó giúp phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định. Đây là kỹ thuật mà các nhà quản lý nội bộ doanh nghiệp thường sử dụng để xác định các yếu tố tạo nên điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh, từ đó có cái nhìn cụ thể hơn, sâu sắc hơn trong việc ra quyết định. 11 Bản chất của của phương pháp này là tách một chỉ tiêu kinh tế t ng hợp thành tích của một chuỗi các tỷ số có quan hệ mật thiết với nhau. Điều này cho phép phân tích tác động của từng chỉ tiêu thành phần đến chỉ tiêu t ng hợp, từ đó ra quyết định phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Cụ thể, mô hình Dupont thực hiện việc tách các tỷ số ROA, ROE thành các bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng. ROA (Return On Assets): Là tỷ số lợi nhuận trên t ng tài sản, cho biết một đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA = = x = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng t ng TS Theo công thức khai triển trên, ROA chịu tác động bởi các chỉ tiêu “tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu” và “hiệu suất sử dụng t ng tài sản”. Qua đó, nhà quản lý doanh nghiệp có thể thông qua việc tăng các tỷ số thành phần trên để tăng tỷ số lợi nhuận trên t ng tài sản. ROE (Return on Equity): Là tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, cho biết một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiều đồng lợi nhuận. ROE = = x x = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng t ng TS x Hệ số đòn bẩy tài chính = ROA x Hệ số đòn bẩy tài chính Trên cơ sở nhận biết các nhân tố trong công thức cơ bản trên, nhà quản trị doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau: - Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động; - Tăng hiệu suất sử dụng tài sản, nâng cao số vòng quay của tài sản thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của t ng tài sản; 12 Thang Long University Library - Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Tóm lại, phương pháp phân tích Dupont là một công cụ đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả, cho phép nhà phân tích có thể nhìn khái quát được toàn bộ các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Điều này có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến t chức quản lý của doanh nghiệp. 1.2.3. Quy trình phân tích BCTC Phân tích tài chính có thể được ứng dụng theo những hướng khác nhau với những mục đích tác nghiệp khác nhau, tuy nhiên trình tự tiến hành phân tích tài chính luôn tuân theo các nghiệp vụ phân tích thích ứng với từng giai đoạn dự đoán tài chính: Giai đoạn dự đoán: Chuẩn bị và xử lý các nguồn thông tin. Các nghiệp vụ phân tích trong giai đoạn này là xử lý thông tin kế toán, tính toán các chỉ số và tập hợp các bảng biểu, đồ thị. Giai đoạn xác định: Biểu hiện đặc trưng là giai đoạn xác định điểm mạnh, yếu của doanh nghiệp. Các nhiệm vụ phân tích trong giai đoạn này là giải thích, đánh giá các chỉ số, bảng biểu các kết quả về sự cân bằng tài chính, năng lực hoạt động tài chính, cơ cấu vốn và chi phí vốn, cơ cấu đầu tư và mức doanh lợi. Giai đoạn phân tích thuyết minh: Phân tích nguyên nhân, thuận lợi cũng như khó khăn, phương tiện và thành công của doanh nghiệp. Các nhiệm vụ phân tích trong giai đoạn này là t ng hợp, đánh giá và quan sát. Giai đoạn tiên lượng và chỉ dẫn: Các nghiệp vụ cần phân tích trong giai đoạn này là xác định được hướng phát triển, giải pháp tài chính hoặc các giải pháp khác cho doanh nghiệp. 1.2.4. Nội dung phân tích BCTC doanh nghiệp 1.2.4.1. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn là hoạt động xem xét, đánh giá sự thay đ i của mỗi chỉ tiêu giữa đầu kỳ so với cuối kỳ, đầu năm so với cuối năm, năm này so với năm khác để xác định cơ cấu và tình hình tài sản, nguồn vốn. Quá trình này đòi hỏi nhà phân tích cần phải phân tích mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán dựa trên quan điểm luân chuyển vốn trong doanh nghiệp. Việc đầu tên khi phân tích cơ cấu tài sản - nguồn vốn của công ty là phải tính được chênh lệch tương đối cũng như tuyệt đối của mỗi chỉ tiêu trong bảng CĐKT. Công thức được sử dụng như sau: 13 Chênh lệch tương đối = Giá trị tài sản(NV) năm n – Giá trị sản(NV) năm n-1 Chênh lệch tuyệt đối = Dựa vào những số liệu được t ng hợp từ Bảng CĐKT, tiến hành xem xét và phân tích các biến động tăng, giảm, chênh lệch tuyệt đối cũng như tương đối của từng khoản mục tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp qua các kỳ. Qua đó đưa ra nhận xét về mức độ đảm bảo tài sản, nguồn vốn cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Tiếp theo, cần phân tích một số chỉ tiêu tỷ trọng tài sản, nguồn vốn như: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn = Tỷ trọng Tài sản dài hạn = Tỷ trọng tài sản ngắn hạn cho biết trong 100 đồng tài sản của doanh nghiệp thì có bao nhiêu đồng là TSNH, tỷ trọng tài sản dài hạn cho biết cũng trong 100 đồng tài sản ấy thì có bao nhiêu đồng là TSDH. Tỷ trọng nợ = Tỷ trọng vốn CSH = Tỷ trọng nợ cho biết trong 100 đồng nguồn vốn của công ty được hình thành từ bao nhiêu đồng nợ. Tương tự, tỷ trọng nguồn vốn CSH cũng cho biết trong cơ cấu 100 đồng vốn của công ty thì có bao nhiêu đồng đến từ vốn chủ sở hữu. Tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của mỗi doanh nghiệp sẽ có những đòi hỏi về tỉ trọng của từng chỉ tiêu tài sản (nguồn vốn) là khác nhau. Do đó nhà phân tích phải đặt các chỉ tiêu này trong mối quan hệ so sánh với mức trung bình ngành để thấy được tình trạng và vị trí của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Đây là cơ sở để đưa ra nhận xét, tiến hành tìm hiểu và giải thích nguyên nhân, từ đó xây dựng các phương án quản lý phù hợp. 1.2.4.2. Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có thể kiểm tra, phân tích, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong kỳ, so sánh với kỳ trước và với DN khác để nhận biết khái quát hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ và dự đoán xu hướng vận động trong tương lai. 14 Thang Long University Library - Phân tích theo chiều ngang: Dựa vào Báo cáo KQ HĐKD, tiến hành phân tích các biến động tăng giảm của từng khoản mục tại cuối năm (kỳ) so với đầu năm (kỳ). - Phân tích theo chiều dọc: Các khoản mục sẽ được nhà phân tích tiến hành so sánh với doanh thu, từ đó xác định và phân tích tỷ lệ kết cấu của từng khoản mục. Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN chính xác, có cơ sở khoa học cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu t ng quát và các chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu phải phản ánh được sức sản xuất, sinh lợi và suất hao phí của từng yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức tính hiệu quả chung. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra được xác định bằng các chỉ tiêu như: T ng sản lượng, doanh thu thuần, lãi gộp, thu nhập thuần. Các yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn vay, vốn CSH. Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất, sức sinh lợi của các nhân tố đầu vào. Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh còn được đo bằng cách nghịch đảo công thức trên, theo đó phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí đầu vào. 1.2.4.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ Dựa trên báo cáo LCTT nhà phân tích sẽ tiến hành phân tích các dòng tiền thu vào và chi ra theo từng hoạt động giúp các đối tượng quan tâm có cái nhìn sâu hơn về những dòng tiền tệ của doanh nghiệp, biết được những nguyên nhân, tác động ảnh hưởng đến tình hình tăng giảm vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền trong kỳ. Phân tích Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ được tiến hành bằng việc so sánh lượng lưu chuyển tiền thuần của từng hoạt động cả về số tuyệt đối và tương đối để xác định sự biến động, mức độ ảnh hưởng của tiền thu vào và chi ra ảnh hưởng đến lưu chuyển tiền thuần trong kỳ của từng hoạt động dựa vào công thức: LCT thuần trong kỳ = LCT thuần của hoạt động KD + LCT thuần của hoạt động đầu tư + LCT thuần từ hoạt động tài chính Trong đó: LCT thuần từng HĐ = T ng tiền thu vào từng HĐ - T ng tiền chi ra từng HĐ Người phân tích cần xác định và so sánh giữa kỳ này với kỳ trước về tỷ trọng lưu chuyển tiền thuần của từng hoạt động trong t ng lưu chuyển tiền thuần trong kỳ để nghiên cứu và đánh giá tình hình lưu chuyển tiền trong mối liên hệ giữa các hoạt động. 15 1.2.5. Các chỉ tiêu tài chính 1.2.5.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán Một doanh nghiệp được đánh giá là có tình hình tài chính lành mạnh trước hết phải được thể hiện ở khả năng chi trả, thanh toán các khoản nợ. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán (KNTT) phản ánh mối quan hệ giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kì với các khoản thanh toán trong kì, bao gồm: Khả năng thanh toán ngắn hạn: Phản ánh việc công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hay không. Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác. Chỉ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện tỉ lệ tài sản ngắn hạn hiện thời của công ty có thể chuyển đ i thành tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản vay ngắn hạn khi đến hạn trả nợ, đây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá năng lực tài chính của công ty. Tỷ số này cao thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn tốt. Khả năng thanh toán nhanh: Phản ánh việc công ty có thể thanh toán được các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển thành tiền một cách nhanh nhất. Khả năng thanh toán nhanh = Chỉ số này tương tự như thanh toán ngắn hạn, nếu chỉ số cao thể hiện khả năng thanh toán nhanh của công ty tốt, tuy nhiên nếu quá cao sẽ lại mang ý nghĩa như một biểu hiện xấu khi đánh giá về khả năng sinh lời. Khả năng thanh toán tức thời: Là chỉ tiêu tài chính phản ánh việc công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ trả các khoản nợ tức thời bằng tiền mặt và các khoản tương đương tiền hay không. Khả năng thanh toán tức thời = Trong đó, tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (dưới 3 tháng) có thể chuyển đ i thành tiền bất kỳ lúc nào như: chứng khoán ngắn hạn, thương phiếu, nợ phải thu ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác. 16 Thang Long University Library Tỷ số khả năng thanh toán tức thời >1 thể hiện khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp đang trong tình trạng tốt. Tuy nhiên nếu tỷ số này quá cao thì lại là một biểu hiện xấu do việc tài sản ngắn hạn quá nhiều (tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho...) ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty. 1.2.5.2. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý tài sản Hệ số thu nợ: Là một chỉ tiêu tài chính thể hiện mức độ đầu tư vào các khoản phải thu để duy trì mức doanh số bán hàng cần thiết, cho thấy thực trạng của chính sách tín dụng với khách hàng được áp dụng tại doanh nghiệp. Hệ số thu nợ = Hệ số thu nợ cho biết với bao nhiêu đồng doanh thu phát sinh thì doanh nghiệp cho khách hàng nợ một đồng. Hệ số này càng cao nghĩa là tỷ lệ nợ của khách hàng càng thấp, thời gian quay vòng vốn của công ty nhanh hơn, mang lại hiệu quả kinh doanh cao. Tuy nhiên, nếu quá cao thì có thể khiến cho doanh nghiệp bị mất khách hàng bởi họ có tâm lý muốn chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp khác cung cấp tín dụng tốt hơn. Điều đó đặt ra đòi hỏi nhà phân tích phải so sánh chỉ tiêu này với các doanh nghiệp cùng ngành, với mức trung bình toàn ngành để có được đánh giá chính xác nhất. Thời gian thu nợ trung bình: Cho biết số ngày trung bình mà doanh nghiệp có thể thu hồi nợ của khách hàng tính từ khi xuất hàng đến khi thu được tiền về. Thời gian thu nợ trung bình = Thời gian thu nợ trung bình cao chứng tỏ việc thu hồi nợ của doanh nghiệp diễn ra chậm, vốn bị ứ đọng nhiều trong khâu thanh toán, kéo theo nhu cầu về vốn gia tăng trong điều kiện quy mô sản xuất không đ i, hay nói cách khác là doanh nghiệp đang bị khách hàng của mình chiếm dụng vốn. Điều này thể hiện chính sách tín dụng của doanh nghiệp là kém hiệu quả hoặc cũng có thể doanh nghiệp đang thực hiện nới lỏng tín dụng để tăng doanh số. Hệ số trả nợ: Là một chỉ tiêu tài chính thể hiện thời gian chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu hệ số trả nợ càng nhỏ chứng tỏ thời gian thanh toán các khoản nợ càng dài, mức độ chiếm dụng vốn cao doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn tiền này để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, việc này sẽ khiến cho uy tín của doanh nghiệp bị giảm sút. 17 Hệ số trả nợ = Thời gian trả nợ trung bình: Là chỉ tiêu quan trọng cần được xem xét trong quá trình phân tích tài chính công ty, cho biết số ngày trung bình của một kỳ trả nợ. Chỉ tiêu này càng lớn tức là hệ số trả nợ càng nhỏ, thể hiện việc chiếm dụng vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình được công ty thực hiện một cách triệt để thông qua việc cố gắng trì hoãn thanh toán các khoản nợ. Thời gian trả nợ trung bình = Vòng quay hàng tồn kho: Thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho = Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Khi phân tích cần lưu ý rằng lượng hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh riêng nên không thể cứng nhắc luôn cho rằng doanh nghiệp có mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là biểu hiện xấu. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều, doanh nghiệp sẽ có ít rủi ro hơn. Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho thấp gây nguy cơ sẽ không đáp ứng đủ khi nhu cầu thị trường tăng đột ngột. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Số ngày tồn kho (thời gian luân chuyển kho trung bình): Là một trong những tỷ số tài chính dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Số ngày tồn kho = Số ngày tồn kho chính là số ngày của một vòng quay hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Số ngày tồn kho lớn là một dấu hiệu của việc doanh nghiệp đầu tư quá nhiều cho hàng tồn kho hoặc doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa. Chu kỳ kinh doanh: Là một chỉ tiêu tài chính cho biết số ngày của một chu kỳ hoạt động tại doanh nghiệp, tính từ khi phát sinh khoản nợ với nhà cung cấp hàng hóa 18 Thang Long University Library đầu vào để nhập kho cho đến khi công ty bán hàng hóa đó và thu được tiền về từ khách hàng. Chu kỳ kinh doanh tính theo công thức sau: Chu kỳ kinh doanh = Thời gian thu nợ TB + Thời gian luân chuyển kho TB Chu kỳ kinh doanh dài thể hiện rằng việc thu nợ và luân chuyển hàng hóa trong kho diễn ra chậm, công ty bị ứ đọng vốn, tiền xoay vòng chậm. Lượng tiền mặt mà doanh nghiệp cần cho các hoạt động sản xuất kinh doanh khác trở nên khan hiếm hơn dẫn đến việc mất đi nhiều cơ hội đầu tư, đồng thời làm tăng chi phí sử dụng vốn. Thời gian luân chuyển tiền (Cash conversion cycle): Là một chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp, cho biết số ngày giữa chi tiêu tiền mặt và thu nhập tiền mặt liên quan đến việc thực hiện hoạt động kinh doanh. Thời gian luân chuyển tiền = Chu kỳ kinh doanh – Thời gian trả nợ TB Thời gian luân chuyển tiền được tính từ khi doanh nghiệp chi trả cho người bán các nguyên vật liệu đầu vào tới khi nhận được tiền mặt từ hoạt động bán hàng. Thời gian luân chuyển tiền thấp thể hiện việc quay vòng vốn để tái đầu tư kinh doanh hiệu quả. Mục đích của việc phân tích chỉ tiêu này là để nghiên cứu dòng tiền tại doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở quyết định các chính sách liên quan đến tín dụng mua hàng, bán hàng. Các tiêu chuẩn cho hoạt động thanh toán hay thu nợ có thể được thay đ i trên cơ sở báo cáo của chỉ số thời gian luân chuyển tiền, nếu nó cho khả năng thanh toán tiền mặt tốt, chính sách tín dụng trong quá khứ có thể được duy trì. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn: Cho biết 1 đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu, qua đó có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng TSNH = Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao càng tốt, nó chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH trong việc sản xuất kinh doanh để đem về doanh thu thuần cho doanh nghiệp là càng cao. Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn: Cho biết 1 đồng tài sản dài hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, qua đó đánh giá được hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của công ty. Hiệu suất sử dụng TSDH = Khi phân tích hiệu suất sử dụng TSDH tại doanh nghiệp, trước hết phải xem xét tình hình tăng giảm của tài sản dài hạn giữa thực tế với kế hoạch, giữa đầu kỳ với cuối 19 kỳ. Đồng thời tính và so sánh tỷ trọng và tốc độ tăng của từng loại TSDH, từ đó xác định việc đầu tư và sử dụng có hiệu quả hay không . Vòng quay vốn chủ sở hữu: Là một chỉ tiêu rất hữu ích trong việc phân tích các khía cạnh tài chính doanh nghiệp, đo lường mối quan hệ giữa doanh thu và vốn CSH của công ty. Vòng quay vốn CSH = Chỉ số vòng quay vốn chủ sở hữu đo lường mối quan hệ giữa doanh thu thuần và VCSH bình quân của doanh nghiệp, cho biết thông qua quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ số này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng VCSH trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. 1.2.5.3. Nhóm chỉ tiêu về khả năng quản lý nợ Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Là một tỷ số tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp, cho biết 100 đồng vốn chủ sở hữu của công ty sẽ ứng với bao nhiêu đồng nợ phải trả. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu = 100% x Tỷ số này thể hiện mối quan hệ giữa vốn huy động từ đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ, có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh. Khi dùng tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu để đánh giá cần so sánh tỷ số của doanh nghiệp với tỷ số bình quân của toàn ngành. Tỷ suất tự tài trợ: Cũng giống như Hệ số nợ, đây là một tỷ số ảnh hưởng đến chính sách đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Tỷ suất tự tài trợ = Tỷ số này càng cao đồng nghĩa với mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp càng giảm trên cả góc độ chủ sở hữu và ngân hàng. Đối với doanh nghiệp, tỷ suất tự tài trợ cao bảo đảm cho doanh nghiệp độc lập về mặt tài chính. Khi có những biến động không thuận lợi trên thị trường thì tác động đến lợi nhuận của công ty ít hơn do hệ số đòn bẩy tài chính thấp, nhà quản lý được tin cậy và dễ dàng hơn khi tìm kiếm các nguồn tài trợ bên ngoài. Đối với ngân hàng (bên cho vay), nếu tỷ suất này thấp 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -