Hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở &

  • Số trang: 187 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
thanhdoannguyen

Đã đăng 6184 tài liệu

Mô tả:

BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ  THÂN VĂN QUÂN hoµn thiÖn kü n¨ng d¹y häc cho trî gi¶ng ë ®¹i häc qu©n sù hiÖn nay Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử giáo dục học Mã số : 62 14 01 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS, TS. Trần Đình Tuấn 2. PGS, TS. Trần Thị Tuyết Oanh HÀ NỘI – 2013 1 MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ MỞ ĐẦU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC CHO TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ 1.1. Các khái niệm cơ bản 1.2. Nội dung hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở đại học quân sự 1.3. Con đƣờng hoàn thiện thiện kỹ năng dạy học và các tiêu chí đánh giá kỹ năng dạy học của trợ giảng ở đại học quân sự Chƣơng 2 2.1. 2.2. 2.3. Chƣơng 3 3.1. 3.2. 3.3. 3.4. Chƣơng 4 4.1. 4.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC CHO TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY Đặc điểm của trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay Những yếu tố cơ bản ảnh hƣởng tới quá trình hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay Thực trạng và một số kinh nghiệm hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DẠY HỌC CHO TRỢ GIẢNG Ở ĐẠI HỌC QUÂN SỰ HIỆN NAY Bổ sung kiến thức sƣ phạm, kinh nghiệm sƣ phạm cần thiết cho trợ giảng Quy trình hóa hoạt động rèn luyện kỹ năng chuẩn bị và tiến hành bài giảng của trợ giảng Rèn các kỹ năng dạy học cơ bản cho trợ giảng thông qua thực tiễn hoạt động nghiệp vụ sƣ phạm thƣờng xuyên Đổi mới phƣơng pháp, hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng dạy học cho trợ giảng theo hƣớng kết hợp truyền thống với hiện đại THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM Những vấn đề chung của thực nghiệm Xử lý và phân tích kết quả sau tác động thực nghiệm KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 2 3 4 5 6 7 12 30 30 47 55 61 61 64 68 90 90 94 106 112 125 125 135 150 153 154 162 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết đầy đủ TT Chữ viết tắt 1 Bài giảng BG 2 Chính trị quốc gia CTQG 3 Đảng uỷ Quân sự Trung ƣơng ĐUQSTƢ 4 Đại học quân sự ĐHQS 5 Đơn vị cơ sở ĐVCS 6 Đối chứng ĐC 7 Giáo dục GD 8 Giáo dục học GDH 9 Giảng viên GV 10 Học viên HV 11 Khoa học xã hội và nhân văn KHXH&NV 12 Kỹ năng KN 13 Kỹ năng dạy học KNDH 14 Nhà xuất bản Nxb 15 Quân đội nhân dân QĐND 16 Số lƣợng SL 17 Tâm lí học TLH 18 Thực nghiệm TN 19 Trợ giảng TG 20 Xã hội chủ nghĩa XHCN 3 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TT Tên bảng, Nội dung biểu đồ 1 1.1 Bảng tiêu chí đánh giá KN chuẩn bị và tiến hành BG của TG 2 2.4 Bảng tổng hợp kết quả điều tra nhận thức về sự quan tâm của trợ giảng và cán bộ, GV về hoàn thiện KNDH 3 4 5 4.1 4.2 4.3 7 8 4.4 4.5 4.6 58 78 Bảng các tiêu chí đánh giá và thang đánh giá KN chuẩn bị và tiến hành BG của TG 130 Phân phối tần số điểm đánh giá trình độ đầu vào KNDH của các nhóm ở hai cơ sở TN 134 Kết quả khảo sát trình độ đầu vào KNDH của các nhóm ở hai cơ sở TN 6 Trang 134 Bảng thống kê kết quả sau TN về sự tiến bộ của KNDH ở cơ sở TN 1 137 Bảng phân phối tần suất về sự tiến bộ của KNDH ở nhóm TN và ĐC tại cơ sở TN 1 137 Bảng phân phối tần suất tích luỹ kết quả về sự tiến bộ của KNDH ở nhóm TN và ĐC tại cơ sở TN 1 137 9 4.7 Mức độ tiến bộ về KNDH sau TN ở cơ sở thực nghiệm 1 138 10 4.8 Bảng phân phối các tham số đặc trƣng về sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 1 139 Bảng thống kê kết quả sau TN về sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm TN và ĐC tại cơ sở TN 2 142 Bảng phân phối tần suất về kết quả sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 2 142 11 12 13 4.9 4.10 4.11 Bảng phân phối tần suất tích luỹ kết quả sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 2 142 14 4.12 Mức độ tiến bộ về KNDH sau TN ở cơ sở TN 2 143 15 4.13 Bảng phân phối các tham số đặc trƣng về sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm TN và ĐC tại cơ sở TN 2 144 Bảng so sánh kết quả đánh giá về tính tích cực hoàn thiện KNDH của TG ở các nhóm TN và nhóm ĐC 148 16 4.14 4 17 2.1 Tổng hợp kết quả điều tra các KNDH cần hoàn thiện cho TG ở ĐHQS 178 179 18 2.2 Bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá của TG về trình độ KNDH 19 2.3 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá của cán bộ, GV về trình độ KNDH của TG 20 2.5 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá của TG về tổ chức các hoạt động sƣ phạm nhằm hoàn thiện KNDH 21 2.6 2.7 2.8 2.1 2.2 2.3 2.4 4.1 4.2 4.3 4.4 135 Biểu đồ so sánh về sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm ĐC và nhóm TN tại cơ sở TN 1 31 134 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra đầu vào trình độ KNDH của nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 2 30 81 Biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra đầu vào trình độ KNDH của nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 1 29 81 Biểu đồ kết quả đánh giá của cán bộ, GV về tổ chức các hoạt động sƣ phạm nhằm hoàn thiện KNDH 28 78 Biểu đồ kết quả đánh giá của trợ giảng về tổ chức các hoạt động sƣ phạm nhằm hoàn thiện kỹ năng dạy học 27 73 Biểu đồ so sánh nhận thức của TG và cán bộ GV về hoàn thiện KNDH 26 184 Biểu đồ so sánh nhận thức về sự cần thiết của các KNDH giữa TG và cán bộ, GV 25 183 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá của cán bộ, GV về tính tích cực của TG khi tham gia các hoạt động hoàn thiện KNDH 24 182 Bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá của TG về tính tích cực khi tham gia các hoạt động hoàn thiện KNDH 23 181 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá của cán bộ, GV về tổ chức các hoạt động hoàn thiện KNDH cho TG 22 180 138 Biểu đồ so sánh kết quả sự tiến bộ của các KNDH ở nhóm ĐC và nhóm TN tại cơ sở TN 2 143 5 DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ TT 1 Tên đồ Nội dung thị, Sơ đồ 2.1 Đồ thị so sánh kết quả tự đánh giá của TG về tính tích cực khi tham gia các hoạt động hoàn thiện KNDH 2 2.2 4.1 4.2 nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 2 143 34 1.1 Mối quan hệ giữa hai thành tố trong cấu trúc của KN 6 1.2 Cấu trúc quá trình phát triển KNDH trong các chức danh nhà giáo ở ĐHQS 43 55 7 1.3 Hệ thống các KNDH cần hoàn thiện cho TG ở ĐHQS 8 3.1 Sơ đồ quy trình hoàn thiện KN chuẩn bị và tiến hành BG của TG 10 2.1 4.1 138 Đồ thị biểu diễn tần suất tích lũy về sự tiến bộ KNDH của 5 9 84 Đồ thị biểu diễn tần suất tích lũy về sự tiến bộ của KNDH ở nhóm TN và nhóm ĐC tại cơ sở TN 1 4 83 Đồ thị so sánh kết quả đánh giá của cán bộ, GV về tính tích cực của TG khi tham gia các hoạt động hoàn thiện KNDH 3 Trang 96 Mối quan hệ của các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng tới quá trình hoàn thiện KNDH cho TG ở trƣờng ĐHQS 177 Sơ đồ khái quát quá trình thực nghiệm 185 6 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu Trợ giảng là một trong những giai đoạn của các chức danh nhà giáo, là bƣớc quan trọng để xây dựng nền tảng vững chắc cho các phẩm chất và năng lực sƣ phạm của ngƣời GV. Hoàn thiện KNDH cho TG là nhiệm vụ thƣờng xuyên trong quá trình bồi dƣỡng, phát triển đội ngũ GV ở trƣờng ĐHQS hiện nay. Thực tiễn sƣ phạm cho thấy, trong quá trình phát triển đội ngũ GV, TG đƣợc quan tâm rèn luyện, hoàn thiện thƣờng xuyên sẽ tạo ra một thế hệ GV kế cận có năng lực sƣ phạm tốt, có phẩm chất nhân cách mẫu mực, thực sự là tấm gƣơng mẫu mực cho HV noi theo. Tuy nhiên, hoàn thiện KNDH cho TG hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn trong cả lý luận và thực tiễn, đòi hỏi cần có một cơ sở khoa học xác đáng, phƣơng hƣớng, biện pháp thực hiện phù hợp, khả thi với trƣờng ĐHQS, sự phối hợp đồng bộ của các chủ thể mới tạo sự chuyển biến tích cực. Đề tài Luận án “Hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay” đƣợc thực hiện với mong muốn đƣa ra các kiến giải khoa học góp phần nâng cao chất lƣợng thực hiện nhiệm vụ, hoàn thiện KNDH cho TG trong thời gian tập sự. Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận hoàn thiện KNDH cho TG; đánh giá thực trạng trình độ KNDH và thực trạng hoàn thiện KNDH cho TG ở trƣờng ĐHQS, tìm ra những nguyên nhân chủ yếu. Từ đó, đề xuất biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS. Kết cấu của đề tài gồm phần mở đầu, 4 chƣơng, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 2. Lý do lựa chọn đề tài Để phát triển đất nƣớc, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, Đảng ta đã xác định rõ: “phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt” [16, tr.131]. Trong đó, chú trọng nâng cao trình độ tay nghề, bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm và đạo đức nhà giáo, đảm bảo đội ngũ nhà giáo “đủ về số lƣợng, đáp ứng yêu cầu về chất lƣợng” [16, tr.216]. Hoàn thiện KN nghề nghiệp là một yêu cầu thƣờng xuyên của bất cứ ngành nghề nào. KNDH là một trong những KN quan trọng của ngƣời GV ở 7 ĐHQS, là bộ phận cấu thành năng lực sƣ phạm trong cấu trúc văn hoá sƣ phạm của ngƣời GV, không có KNDH hoặc KNDH yếu, GV sẽ không đảm nhiệm đƣợc chức năng chủ yếu của mình. Hoàn thiện KNDH là yêu cầu thƣờng xuyên, liên tục và bắt buộc đối với ngƣời GV nói chung, trong ĐHQS nói riêng. Nghị quyết số 86 của ĐUQSTƢ về Công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới đã chỉ rõ: “Chú trọng về nâng cao trình độ học vấn, năng lực và tay nghề sƣ phạm, kinh nghiệm thực tiễn” [19, tr.22]. Đây cũng là những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với mỗi GV trong qúa trình tự hoàn thiện mình. Những năm qua, nhìn chung đội ngũ GV ở ĐHQS đã đảm đƣơng đƣợc nhiệm vụ, phát huy đƣợc chức năng của mình trong giáo dục và đào tạo. Một số GV phát triển tốt cả về phẩm chất và năng lực sƣ phạm, trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, đứng trƣớc yêu cầu mới, chất lƣợng đội ngũ giáo viên nhà trƣờng quân đội còn: “Thiếu về số lƣợng và tỷ lệ đạt chuẩn về chất lƣợng còn thấp…Kết quả tự học, tự nghiên cứu của một số nhà giáo còn hạn chế”[19, tr.7]. Trong quá trình đào tạo tại các nhà trƣờng, HV đƣợc trang bị hệ thống kiến thức và KN sƣ phạm chung cho hoạt động nghề nghiệp tƣơng lai. Sau khi ra trƣờng nhận công tác ở các trƣờng ĐHQS, để trở thành GV, họ phải trải qua thời gian làm TG để tiếp tục hoàn thiện những phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn sƣ phạm quân sự. Thời kỳ TG chính là giai đoạn “quá độ” quan trọng để họ có thể chuyển hoá từ HV thành GV, đây cũng là thời gian để TG tập làm các công việc của ngƣời GV trong thực tiễn nghề nghiệp. Trợ giảng là lực lƣợng GV kế cận quan trọng ở các trƣờng ĐHQS. Thực tiễn sƣ phạm hiện nay cho thấy, TG sau khi đƣợc phân công đảm nhiệm công tác giảng dạy đã phát huy đƣợc vai trò, chức trách của mình, thƣờng xuyên tự bồi dƣỡng kiến thức, rèn luyện tay nghề sƣ phạm, tu dƣỡng phẩm chất nhân cách. Nhiều đồng chí đã vƣơn lên trở thành GV có uy tín trong công việc và trong cuộc sống. Tuy nhiên, vẫn còn một số đồng chí trong thời kì TG chất lƣợng thực hiện nhiệm vụ còn chƣa cao; 8 nắm và vận dụng các KNDH vào thực tiễn sƣ phạm quân sự còn lúng túng, nhiều KNDH còn chƣa thành thạo (kể cả những KNDH đơn giản); “Khả năng tƣ duy, năng lực thực hành độc lập sáng tạo và quản lý bộ đội còn yếu”[17, tr.3], chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu chức trách, nhiệm vụ; chậm thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn sƣ phạm quân sự; một số KNDH cơ bản chƣa đƣợc chú ý và rèn luyện đúng mức, nặng về làm theo mẫu đơn thuần; chất lƣợng BG chƣa cao, chƣa làm chủ đƣợc nội dung và phƣơng pháp, cách thức truyền đạt kiến thức còn đơn điệu... Nguyên nhân, do TG nặng về học theo, bắt chƣớc, chƣa tích cực rèn luyện KNDH; phƣơng pháp tƣ duy sƣ phạm của một bộ phận TG còn yếu; trải nghiệm thực tiễn sƣ phạm quân sự, lãnh đạo, chỉ huy còn ít; một số chƣa qua đào tạo sƣ phạm. Mặt khác, công tác bồi dƣỡng, hoàn thiện KNDH nói riêng, năng lực sƣ phạm nói chung của lãnh đạo, chỉ huy các cấp cho TG còn ít đƣợc quan tâm tổ chức thƣờng xuyên, trong khi “Kết quả tự học, tự nghiên cứu của một số nhà giáo còn hạn chế” [19, tr.7], các tiêu chí và xét công nhận các chức danh nhà giáo ở ĐHQS còn chƣa thống nhất đã ảnh hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng thực hiện nhiệm vụ và ý chí vƣơn lên của TG. Quá trình hoàn thiện KNDH cho TG trong các trƣờng ĐHQS hiện nay còn mang tính tự phát, chƣa có kế hoạch, nội dung, chƣơng trình hoàn thiện cụ thể. Một số TG bằng lòng với hiện tại, sự tiến bộ còn chậm. Hiện nay, trƣớc yêu cầu của chiến tranh hiện đại, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đã và đang đặt ra những yêu cầu cao trong việc chuẩn hoá chất lƣợng đội ngũ GV ở ĐHQS, buộc họ phải không ngừng trau dồi, tự hoàn thiện thƣờng xuyên mới có thể thực hiện tốt nhiệm vụ. Đặc biệt, trƣớc yêu cầu đổi mới nền giáo dục, nâng cao chất lƣợng dạy học ở các trƣờng ĐHQS thì việc hoàn thiện KNDH cho TG trong thời kỳ tập sự là một trong những vấn đề cấp thiết để tạo ra một thế hệ GV kế cận có “tâm”, có “tầm”, hết lòng phụng sự đất nƣớc, phụng sự nhân dân. Từ những lý do cơ bản trên, chúng tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng ở đại học quân sự hiện nay", để nghiên cứu với mong muốn góp phần đƣa ra những kiến giải khoa học trƣớc thực trạng nêu trên. 9 3. Mục đích nghiên cứu Đề xuất các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG nhằm góp phần nâng cao năng lực sƣ phạm của TG trong các trƣờng ĐHQS hiện nay. 4. Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Khách thể nghiên cứu: Quá trình bồi dƣỡng GV ở các trƣờng ĐHQS. * Đối tượng nghiên cứu: Hoàn thiện KNDH cho TG ở các trƣờng ĐHQS. * Phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài đi sâu nghiên cứu tìm ra các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG trong thời gian tập sự, làm cho KNDH của họ thuần thục hơn, chuẩn bị và tiến hành BG trên lớp đạt hiệu quả hơn. Sau thời gian tập sự, TG có đủ điều kiện để trở thành GV. Kỹ năng dạy học bao gồm hệ thống rất nhiều các KN và nằm trong hệ thống các KN sƣ phạm có quan hệ biện chứng với nhau. Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu các KNDH mà dựa trên hệ thống các KNDH của ngƣời GV ở ĐHQS, chúng tôi tập trung đi sâu vào hoàn thiện KN chuẩn bị và tiến hành BG trên lớp (lý thuyết) cho TG với các KN cơ bản, phục vụ cho hoạt động dạy học của TG trong thời gian tập sự đạt hiệu quả. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5.1. Những đóng góp mới của Luận án Luận án làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của hoàn thiện KNDH cho TG ở các trƣờng ĐHQS. Với cách tiếp cận, tác giả đã đƣa ra quan niệm mới về hoàn thiện KNDH cho TG ở ĐHQS hiện nay. Theo đó, hoàn thiện KNDH là một khái niệm động, đƣợc tiến hành thƣờng xuyên đối với GV đại học nói chung, GV ở ĐHQS nói riêng. Mục tiêu và nội dung hoàn thiện kỹ năng dạy học cho trợ giảng là hoàn thiện theo chuẩn chức danh nhà giáo, đồng thời hoàn thiện theo yêu cầu phát triển mới của lý luận dạy học và thực tiễn sƣ phạm quân sự. Đặc biệt, Luận án đã xây dựng đƣợc hệ thống các KNDH cơ bản mà TG cần hoàn thiện trong thời gian tập sự. 10 Luận án đã đề xuất các biện pháp và quy trình hoàn thiện KNDH của TG trong thời gian tập sự, đây cũng là quy trình chung góp phần hoàn thiện KNDH cho GV ở trƣờng ĐHQS hiện nay. 5.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần bổ sung, phát triển làm phong phú thêm kho tàng lý luận và thực tiễn hoạt động bồi dƣỡng GV ở ĐHQS hiện nay, đặc biệt sẽ là nội dung tham khảo hữu ích trong công tác xây dựng, phát triển lực lƣợng GV ở các trƣờng ĐHQS. Trên cơ sở hƣớng tới tìm ra các biện pháp hoàn thiện KNDH cho TG, Luận án còn có ý nghĩa nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp lãnh đạo, quản lý trong công tác bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm, xây dựng và phát triển đội ngũ GV ở các trƣờng ĐHQS hiện nay; bồi dƣỡng, rèn luyện thói quen hành vi, KN và phƣơng pháp tự hoàn thiện cho TG. 11 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.1. Những nghiên cứu về kỹ năng dạy học và hoàn thiện kỹ năng dạy học trên thế giới Trong lịch sử phát triển của giáo dục thế giới, các nhà sƣ phạm đã sớm nhận ra vai trò của KNDH và hoàn thiện KNDH đối với ngƣời thầy. Ngay từ thời Cổ đại, các nhà tƣ tƣởng tiến bộ đã đề cập nhiều đến vấn đề năng lực và phẩm hạnh của ngƣời giáo viên. Có thể kể tên một số nhà giáo dục tiêu biểu nhƣ: Socrate, Platon, Aristote, Khổng Tử, Mạnh tử… Khổng Tử (551 - 479 TCN), ngƣời đƣợc mệnh danh là "Vạn thế sƣ biểu" (Ngƣời thầy của muôn đời) đã chỉ rõ: Trong giảng dạy, ngƣời thầy phải biết cách (KN) để truyền thụ kiến thức cho học trò nhƣ: Dụ: ví von. Đạo: hƣớng dẫn. Trợ: giúp đỡ. Khải: mở mang. Phát: khêu gợi. "Tuần tuần thiện dụ nhân" (Thầy khéo dẫn dắt ngƣời từng bƣớc, mở rộng tri thức ta bằng văn chƣơng, ƣớc thúc hành vi ta bằng lễ tiết, khiến ta muốn ngừng hoạt động cũng không thể đƣợc). Cách dạy học của Khổng Tử là sự gợi mở để trò tự tìm ra chân lý, thầy không bao giờ làm thay, bày sẵn cho ngƣời học mà phải bằng sự khéo léo, hƣớng dẫn, khêu gợi, mở mang tạo nên ở ngƣời học sự hứng thú, tích cực, độc lập nhận thức trong quá trình dạy học [5, tr.8 - 13]. Hay là quan điểm: “Học hải vô nhai” (Biển học vô bờ), qua đó nhắc nhở cả thầy và trò không bao giờ đƣợc sao nhãng việc học tập, biết tự trau dồi học vấn để trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Đặc biệt, với ngƣời thầy giáo, Ông luôn đề ra yêu cầu cao trong việc phải thƣờng xuyên tu dƣỡng đạo đức và trí tuệ để làm gƣơng cho học trò noi theo. Mặc dù không đề cập trực tiếp tới hoàn thiện KNDH nhƣng Khổng Tử đã chỉ ra vai trò quan trọng của việc tu dƣỡng những phẩm chất và năng lực của ngƣời thầy giáo. Ngƣời thầy phải trở thành hình ảnh mẫu mực nhất, toàn diện nhất trong học trò. Socrate (469 – 399 TCN), đã sáng tạo ra phƣơng pháp tranh luận (Thuật đỡ đẻ) trong dạy học với những KN gợi mở cần thiết của ngƣời thầy 12 giúp cho ngƣời học tự suy nghĩ, tự tìm tòi và tự tìm ra chân lý. Ở mức độ nào đó, Socrate đã đƣa ra đƣợc các yêu cầu trong tổ chức quá trình nhận thức của ngƣời học với cách thức, phƣơng pháp dạy học, kỹ thuật dạy học hƣớng tới phát huy đƣợc sự sáng tạo của học sinh, làm cho họ tích cực, chủ động nhận thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học [63, tr.40]. Ông đã đƣa ra yêu cầu cao với ngƣời thầy giáo là phải thƣờng xuyên trau dồi kiến thức, phẩm chất đạo đức. Theo Ông, kiến thức là thực tiễn cuộc sống, chân lý có sẵn trong mỗi con ngƣời là vô tận, điều quan trọng là mỗi ngƣời phải tự mình tìm ra nó để tự hoàn thiện mình. Từ thời kỳ Phục hƣng trở đi, vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH của ngƣời thầy giáo trong các nhà trƣờng đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn với những quan điểm khoa học và những hoạt động cụ thể đƣợc tiến hành nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học của giáo viên, các nghiên cứu gắn với tên tuổi của các nhà sƣ phạm nổi tiếng nhƣ : Mông-te-nhơ (Pháp), Kômenxki (Tiệp Khắc), Rút-xô (Pháp), Usin-xki (Nga), Đitexvec... Trong đó, nổi bật là tƣ tƣởng của Kômenxki (1592 - 1670), ngƣời đƣợc mệnh danh là “Ông tổ của nền sƣ phạm cận đại” cho rằng: ngƣời thầy phải có phƣơng pháp giảng dạy thích hợp với từng đối tƣợng và sáng tạo nhiều phƣơng pháp phong phú nhƣ: đàm thoại, kể chuyện, câu đố; ngƣời giáo viên phải quan tâm tìm tòi tất cả mọi con đƣờng dẫn tới việc mở mang trí tuệ và tận dụng hợp lí những con đƣờng đó. Kômenxki luôn qúy trọng, đề cao và tôn vinh nghề dạy học và chức vị giáo sƣ (giáo viên). Với vị trí, chức năng của nghề dạy học, Ông yêu cầu ngƣời thầy phải mẫu mực, trong sáng về đạo đức và tác phong, có lòng nhân ái: “Không thể trở thành ngƣời thầy nếu không phải là một ngƣời cha”[63, tr.88]. Ngƣời thầy giáo không chỉ cần tấm lòng bao dung, độ lƣợng của một ngƣời cha, mà còn biết không ngừng mệt mỏi tìm kiếm phƣơng thức mở mang trí tuệ cho ngƣời học, đồng thời mở mang trí tuệ cho chính bản thân 13 mình. Với ý nghĩa nhƣ vậy, Kômenxki cũng đã yêu cầu ngƣời thầy giáo phải biết không ngừng tự hoàn thiện mình. Cũng đề cao vai trò của ngƣời thầy giáo, theo Usinxki (1824 - 1870) ngƣời thầy giáo là cầu nối giữa quá khứ và tƣơng lai, sự nghiệp của ngƣời thầy giáo là sự nghiệp vĩ đại nhất trong lịch sử. Trong dạy học và giáo dục, ông cho rằng: “Điều chủ yếu là nhân cách của ngƣời giáo viên trực tiếp làm việc với học sinh. Nhân cách của nhà giáo dục có sức mạnh giáo dục to lớn đến mức không thể thay thế bằng sách giáo khoa, bằng lời khuyên bảo về đạo đức, bằng hệ thống khen thƣởng và kỷ luật nào cả” [10, tr.75]. Đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của ngƣời thầy trong giáo dục, Usinxki là ngƣời đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới đã đề xuất ý tƣởng thành lập trƣờng sƣ phạm, trƣờng chuyên làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên. Qua môi trƣờng chuyên biệt đó, các phẩm chất và năng lực sƣ phạm của ngƣời giáo viên đƣợc hình thành, rèn luyện và phát triển một cách có hệ thống và khoa học. Đây là cơ sở quan trọng giúp ngƣời giáo viên tự hoàn thiện tay nghề trƣớc những yêu cầu của thực tiễn sƣ phạm. Nhƣng phải đến thế kỷ XX, vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH cho ngƣời thầy giáo mới đƣợc đề cập một cách chi tiết và khoa học. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều rất quan tâm đến việc nâng cao chất lƣợng đào tạo, rèn luyện kỹ xảo, KN nghề nghiệp sƣ phạm. Đặc biệt, ở Liên Xô (trƣớc đây) và các nƣớc XHCN ở Đông Âu, hàng loạt các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã ra đời. Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhiều nhà giáo dục đã tiếp tục khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của các KNDH, hoàn thiện KNDH của ngƣời giáo viên nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả dạy học. Đặc biệt, các nghiên cứu về KNDH, hoàn thiện KNDH không chỉ hƣớng tới mục đích giúp học sinh sau khi ra trƣờng có thể thích ứng nhanh với nghề nghiệp mà còn hƣớng tới cho họ khả năng tự hoàn thiện, tự đào tạo mình trong cuộc sống. 14 Antôn Sêmiônôvic Makarenko (1888 - 1939) là nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc, khi bàn về vấn đề này, Ông đã yêu cầu ngƣời thầy giáo phải rèn luyện, học tập và tự hoàn thiện mình về phẩm chất tƣ cách, năng lực. Ông cho rằng: “Tôi đi đến một niềm tin sâu sắc là không có nhà giáo dục nào cả còn tốt hơn là có những nhà giáo dục tự rèn luyện kém’’[63, tr.272]. Ông đã chỉ ra một số nghệ thuật giáo dục mà nhà giáo dục phải rèn luyện và hoàn thiện nhƣ: Phải biết giọng nói của mình nhƣ thế nào, nói năng với học sinh ra sao, nói gì và khi nào nên nói. Với ông thì một ngƣời thầy giáo không làm chủ đƣợc vẻ mặt hoặc khí sắc là một nhà giáo không tốt. Phải biết giữ dáng điệu, phải biết đùa cợt, phải biết vui buồn và có khả năng điều khiển học sinh. Phải biết xử lý mọi cử chỉ để nó có tác dụng giáo dục... [63, tr.272], để có đƣợc KN đó đòi hỏi ngƣời thầy giáo phải khổ công rèn luyện, biết tự hoàn thiện mình mãi mãi. Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, O.A. Apdullina với công trình: “Bàn về KN sƣ phạm”, đã nêu rõ từng loại KN sƣ phạm của ngƣời giáo viên, đồng thời đi sâu phân tích KN chung và KN chuyên biệt trong hoạt động giảng dạy và giáo dục của họ. Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến KNDH và đã đề xuất những biện pháp phát triển các KN đó ở ngƣời giáo viên. Ông nhấn mạnh vai trò của KNDH đối với ngƣời giáo viên, việc phát triển các KN đó không chỉ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trƣờng sƣ phạm mà ngay cả khi họ đã tốt nghiệp, trên cƣơng vị thực tế của mình. Cùng quan điểm đó, Ph.N. Gônôbôlin trong tác phẩm: “Những phẩm chất tâm lý của ngƣời giáo viên” đã đƣa ra những năng lực sƣ phạm, mà sinh viên cần rèn luyện và phát triển. Theo Ông, phát triển và hoàn thiện các năng lực cho sinh viên phải đƣợc tổ chức thƣờng xuyên ở trên lớp và trong thực tập sƣ phạm, đây là các cơ hội cơ hội để "lần đầu tiên" "lựa chọn", "lắp ráp", "ứng dụng" các thuộc tính tâm lý của ngƣời giáo viên vào những yêu cầu hoạt động sƣ phạm" [24, tr.111], từng bƣớc giúp sinh viên rèn luyện và tự hoàn thiện năng lực sƣ phạm của mình. Đối với 15 ngƣời giáo viên sau khi tốt nghiệp ra trƣờng, Ông cho rằng: “Dù cho việc học tập trong nhà trƣờng sƣ phạm có ý nghĩa to lớn thế nào đi chăng nữa trong việc đào tạo ngƣời giáo viên tƣơng lai, nhƣng trong bốn bức tƣờng của nhà trƣờng không thể nảy sinh ra một con ngƣời có những năng lực sƣ phạm đã đƣợc hình thành đầy đủ” [24, tr.11]. Nhƣ vậy, sự phát triển các năng lực sƣ phạm của ngƣời giáo viên chủ yếu diễn ra trong quá trình họ công tác trong nhà trƣờng; hoạt động sƣ phạm sáng tạo đòi hỏi lao động căng thẳng hàng ngày; sự giúp đỡ của lãnh đạo, đồng nghiệp lớn tuổi đối với các giáo viên mới vào nghề chỉ là những góp ý và chỉ dẫn chung. Còn bản thân ngƣời giáo viên phải giải quyết nhiều nhiệm vụ khó khăn. Và chính ở đây, trong quá trình lao động thực sự sáng tạo và đầy tính trách nhiệm, các năng lực sƣ phạm của họ mới đƣợc thực sự hình thành. Tác phẩm giúp cho GV trẻ mới bƣớc vào nghề thấy đƣợc những yêu cầu mà nghề nghiệp đề ra cho họ, họ cần rèn luyện và phát triển các năng lực sƣ phạm nhƣ thế nào, đặc điểm của công tác giáo dục và giảng dạy là gì... để rèn luyện tay nghề một cách đầy đủ, có hệ thống và vững chắc hơn. Đây chính là cơ sở lý luận để khẳng định hoàn thiện KN sƣ phạm nói chung, KNDH nói riêng phải đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục ở mỗi giai đoạn, mỗi mức độ phát triển khác nhau trong nghề dạy học của ngƣời GV. Những năm 70, nhiều công trình nghiên cứu về KNDH và hoàn thiện KNDH cho giáo viên ra đời nhằm nâng cao chất lƣợng quá trình dạy học, đào tạo nguồn nhân lực. Tiêu biểu có các tác giả nhƣ: M. Ia. Côvaliôv, Iu.K. Babanxki, N.I. Bônđƣrev… Nổi bật là công trình nghiên cứu của X.I. Kixegop: “Hình thành các KN, kỹ xảo sƣ phạm trong điều kiện giáo dục đại học”. Tác giả đã khẳng KNDH đƣợc hình thành thông qua luyện tập, qua rèn luyện nghiệp vụ trong nhà trƣờng sƣ phạm. Ông đã chia thực tập sƣ phạm của sinh viên làm 2 giai đoạn: Thực tập tập luyện và thực tập tập sự. Ở giai đoạn thứ nhất, sinh viên cần hình thành các KN, nhƣ: KN thiết kế, KN kiến thiết, KN 16 nhận thức, KN tổ chức, KN giao tiếp... Ở giai đoạn thứ hai, ông cho rằng điều cốt yếu của sinh viên là tiếp thu các KN đó để tiến hành giờ lên lớp có hiệu quả. Mặc dù Kixegop đã đƣa ra hệ thống các KNDH và luận chứng khoa học về quá trình hình thành và phát triển chúng trong rèn luyện tay nghề sƣ phạm cho sinh viên. Tuy nhiên, việc rèn luyện, hoàn thiện các KNDH đó nhƣ thế nào sao khi họ ra trƣờng thì chƣa đƣợc bàn đến. Cùng với X.I. Kixegop, O.A.Apđulinna cũng đã luận chứng đƣa ra một hệ thống các KN giảng dạy và các KN giáo dục riêng biệt, các KN đƣợc mô tả cụ thể theo thứ bậc. Trong nghiên cứu, các tác giả đã liệt kê đƣợc hơn 100 KN nghiệp vụ giảng dạy và giáo dục, trong đó tập trung vào 50 KN cần thiết nhất, đƣợc phân chia luyện tập theo từng thời kỳ thực hành, thực tập cụ thể. Các KN giảng dạy và KN giáo dục đƣợc các tác giả mô tả theo thứ bậc. Một số nƣớc phƣơng Tây và tƣ bản phát triển nhƣ Hoa Kỳ, Canada, Úc… cũng quan tâm đến KNDH của ngƣời thầy giáo trong việc tạo ra hứng thú học tập cho học sinh. Các nghiên cứu đã có nhiều khám phá trong việc tổ chức rèn luyện, hoàn thiện KNDH cho sinh viên theo những luận điểm của các nhà TLH hành vi nhƣ J. Watson 1926, A. Pojoux 1926, F. Skinner 1963… Những công trình tiêu biểu nhƣ: The process of learning của J.B Bigs và R.Tellfer, 1987; Beginning teaching của K.Barry và L.King 1993 đang đƣợc sử dụng và đƣa vào giáo trình thực hành lý luận dạy học trong đào tạo giáo viên ở Úc và một số nƣớc khác. Trung Quốc là quốc gia gần gũi với Việt Nam, công cuộc cải cách giáo dục của họ đang đƣợc tiến hành rất mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực phƣơng pháp giảng dạy. Những cách dạy học trƣớc đây đƣợc các nhà sƣ phạm làm mới lại theo tinh thần coi ngƣời học là trung tâm, một trong những nghiên cứu về KNDH và hoàn thiện KNDH nổi bật là “Bộ sách bồi dƣỡng KNDH môn Ngữ văn cho giáo viên Trung học cơ sở, Trung học phổ thông”. Bộ sách gồm 6 cuốn, giới thiệu và huấn luyện các KNDH rất cơ bản của ngƣời giáo viên 17 nhƣ: KN tổ chức lớp – KN biến hoá trong giảng dạy [13], KN giảng giải, KN nêu vấn đề [14], KN dẫn nhập, KN kết thúc [20], KN phản hồi, KN luyện tập [28], KN trình bày bảng, KN trình bày trực quan [81], KN ngôn ngữ, KN nâng cao hiệu quả học tập [89]. Các KN trên đƣợc trình bày kỹ lƣỡng về cơ sở lý thuyết kèm theo các BG mẫu minh họa. Theo các tác giả, thông qua việc bồi dƣỡng nâng cao các KNDH này: Sinh viên sƣ phạm có thể có đƣợc trình độ cơ bản để đảm nhiệm công việc dạy học của ngƣời giáo viên; ngƣời giáo viên mới vào nghề có thể làm cho KNDH của mình đƣợc chuẩn hoá, thuần thục hơn, nhanh chóng đáp ứng đƣợc những yêu cầu trong công tác giảng dạy; giáo viên lâu năm thì có thể tôi luyện nghệ thuật dạy học của mình thành thạo, điêu luyện hơn, đồng thời kết hợp giữa kinh nghiệm dạy học phong phú của bản thân với kiến thức chuyên ngành để hình thành đƣợc phong cách và mầu sắc độc đáo trong giảng dạy [89, tr.7]. Có thể nói, đây là bộ sách đầu tiên đƣợc biên soạn chi tiết nhằm hoàn thiện KNDH môn Ngữ văn cho giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông. Đây là những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn sinh động để tiến hành hoàn thiện các KNDH cho GV đại học. Theo UNESCO: Ngƣời thầy giáo thế kỷ XXI phải là một nhà chuyên môn nắm vững khoa học cơ bản, thấm nhuần một khoa học sƣ phạm mới dựa trên cơ sở liên ngành, có khả năng đối thoại với sinh viên, chuẩn bị cho sinh viên lựa chọn và sử dụng một cách có phê phán các thông tin công cộng và làm quen với một vài nguyên tắc cơ bản về giáo dục ngƣời lớn. Khuyến cáo trên của UNESCO muốn đi đến một khẳng định, giáo viên phải đƣợc đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là trở thành ngƣời “thợ dạy”. Ngƣời giáo viên không phải là một cỗ máy dạy học cứng nhắc mà họ phải là ngƣời thổi linh hồn vào các BG 18 thông qua vận dụng hiệu quả các KNDH. Ngƣời giáo viên phải là tấm gƣơng mẫu mực về đạo đức, học tập và rèn luyện không ngừng nghỉ để học sinh noi theo. Khi bàn về xã hội tƣơng lai là “xã hội dựa vào tri thức”, “kiến thức là sức mạnh”, với mục tiêu đào tạo những con ngƣời hiếu học, một “xã hội học tập”, R. Singh đã yêu cầu cần nhận thức lại vai trò của ngƣời giáo viên trong dạy học. Ông cho rằng: Giáo viên không chỉ là ngƣời truyền thụ những phần tri thức rời rạc, giáo viên phải là ngƣời cố vấn, hƣớng dẫn, ngƣời mẫu mực của ngƣời học. Để có đƣợc điều đó, giáo viên phải có các KN tƣơng ứng, và muốn nhƣ vậy không có cách nào tốt hơn ngƣời giáo viên phải đƣợc thƣờng xuyên bồi dƣỡng về mọi mặt, phải là ngƣời học tập suốt đời [60, tr.90 - 115]. Ngoài ra, còn rất nhiều tác giả và các công trình nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề KNDH, hoàn thiện KNDH. Các nghiên cứu đều rất quan tâm đến việc dạy nghề cho sinh viên, đặc biệt là hình thành và rèn luyện KNDH cho sinh viên sƣ phạm. 1.2. Những nghiên cứu về kỹ năng dạy học và hoàn thiện kỹ năng dạy học ở Việt Nam Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, dƣới ảnh hƣởng mạnh mẽ của Nho giáo, các triều đại đã nhận thấy vai trò to lớn của giáo dục đối với sự hƣng thịnh đất nƣớc. Xã hội đặt lên vai ngƣời thầy trọng trách to lớn là giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo nhân tài cho đất nƣớc, nhƣng chính những ngƣời thầy cũng luôn “tự biết mình, trau đồi vốn kiến thức và học vấn sâu sắc, uyên thâm và rộng mới có thể đi dạy đƣợc ngƣời khác” [32, tr.20]. Việc học tập, tu dƣỡng, tự hoàn thiện của các thầy giáo trong lịch sử đã trở thành những tấm gƣơng bất hủ, mãi mãi đƣợc các thế hệ học trò kính trọng và noi theo. Cùng với sự thƣơng yêu học trò hết mực của thầy, sự thông minh, cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi của những thế hệ học trò đã tạo nên truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. 19 Vấn đề KNDH và hoàn thiện KNDH chỉ đƣợc quan tâm thực sự khi có một nền giáo dục mới, nền giáo dục XHCN. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta bắt tay vào thực hiện cải cách nền giáo dục. Trong đó, Đảng ta xác định vấn đề then chốt, quyết định chất lƣợng giáo dục chính là đội ngũ thầy giáo, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo cả về số lƣợng và chất lƣợng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: phải xây dựng đƣợc đội ngũ đông đảo những ngƣời làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trƣờng, hết lòng thƣơng yêu, chăm sóc giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dƣỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gƣơng sáng cho học sinh noi theo. Ngƣời thƣờng nhắc nhở các thầy, cô giáo: “Dạy cũng nhƣ học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” [44, tr.329]. Ngƣời đề cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là linh hồn của ngƣời thầy giáo, Ngƣời luôn căn dặn: “Muốn cho học sinh có đạo đức thì giáo viên phải có đức … Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gƣơng mẫu” [44, tr.492]. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự trau đồi, rèn luyện phẩm chất và năng lực của ngƣời làm công tác giáo dục. Theo Ngƣời thì tự trau dồi đạo đức là nguyên tắc để phát triển các phẩm chất đạo đức cách mạng, để “tự mình tiến bộ mãi”, đây là một trong những cơ sở xuất phát quan trọng cho việc nghiên cứu, phát triển các phẩm chất nhân cách, hoàn thiện KN nghề nghiệp của ngƣời giáo viên. Cùng với các quan điểm đó là các trƣờng sƣ phạm, các trung tâm bồi dƣỡng giáo viên đƣợc thành lập, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về KNDH và những yêu cầu hoàn thiện phẩm chất nhân cách của ngƣời giáo viên đƣợc tiến hành một cách toàn diện và sâu sắc. Tác giả Lê Văn Hồng với công trình nghiên cứu về: “Một số vấn đề về năng lực sƣ phạm của ngƣời giáo viên xã hội chủ nghĩa”(1975), đã đƣa ra hệ thống những năng lực sƣ phạm của ngƣời giáo viên XHCN cần phải có trong sự
- Xem thêm -