Hoàn thiện công tác tiền lương tại tổng công ty gas petrolimex - ctcp

  • Số trang: 49 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 32 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài 1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài Tiền lương có ý nghĩa vô cùng to lớn trong xã hội. Tiền lương được coi là đòn bẩy đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một đất nước. Do vậy các chính sách về tiền lương, phương án trả lương, công tác tiền lương luôn luôn là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia. Lựa chọn các phương án trả lương hợp lý, không những trả đúng, trả đủ cho người lao động, mà còn làm cho tiền lương trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người hăng say làm việc. Các doanh nghiệp chọn hình thức trả lương hợp lý, không những tiết kiệm được chi phí sản xuất mà vẫn thu được lợi nhuận cao. Bởi khi tiền lương cao là động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn thì giá trị thặng dư do lao động của họ đem lại là vô cùng to lớn. Hơn nữa, khi người lao động được bảo đảm mức lương thoả đáng sẽ tạo ra sự gắn kết người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xoá bỏ đi sự ngăn cách giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm với hoạt động của doanh nghiệp. Ngược lại khi lợi ích của người lao động không được chú ý, người lao động không nhận được mức lương thoả đáng với năng lực trình độ hay bằng cấp của mình thì có thể dẫn đến nguồn nhân lực bị giảm sút cả về số lượng và chất lượng. Do đó, đối với doanh nghiệp việc xây dựng một hệ thống trả lương sao cho hoạt động sản xuất ngày càng phù hợp và đảm bảo cuộc sống cho người lao động là điều hết sức cần thiết. Không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động mà tiền lương còn là vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp vì tiền lương chính là một phần nằm trong chi phí sản xuất kinh doanh mà mục tiêu của các doanh nghiệp là phải giảm chi phí này, nhưng vẫn phải đảm bảo trả lương tương xứng cho người lao động. Đây quả là một bài toán khó đối với công tác tiền lương của tất cả các doanh nghiệp. Cách giải quyết duy nhất cho vấn đề này là phải không ngừng hoàn thiện công tác tiền lương tại công ty mình để có thể vừa khắc phục được vấn đề chi phí tiền lương, lại vừa có thể biến tiền lương thực sự trở thành công cụ hữu ích giúp các doanh nghiệp kích thích lao động làm việc hăng say, hiệu quả hơn. 1 Như vậy có thể khẳng định lại một lần nữa rằng tiền lương có vai trò vô cùng quan trọng đối với bất kỳ tổ chức, công ty, doanh nghiệp nào. Tuy nhiên trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện tốt công tác tiền lương. Còn nhiều doanh nghiệp trả lương chưa thỏa đáng với sự đóng góp của người lao động. Điều đó xuất phát từ sự việc xếp bậc công việc, định mức lao động thiếu chính xác, hiện tượng bù bậc vẫn còn nhiều. Do đó ảnh hưởng đến đơn giá tiền lương và việc trả lương theo sản phẩm. Ngoài ra sự quản lý về thời gian làm việc đối với người lao động hưởng lương theo thời gian vẫn chưa được chặt chẽ nên hiệu quả làm việc chưa cao. Xuất phát từ vai trò của tiền lương và những hạn chế còn tồn tại của công tác tiền lương thì việc hoàn thiện công tác tiền lương là rất cần thiết bởi tiền lương là phần thu nhập chủ yếu của người lao động nên động lực để người lao động làm việc trước hết là vì tiền lương. Công tác tiền lương thực hiện tốt sẽ kích thích người lao động làm việc, do đó đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cao và đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển. Qua thời gian tìm hiểu thực tế về công tác trả lương tại Tổng Công ty gas petrolimex - CTCP cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong trả lương của Tổng Công ty. Việc trả lương cho người lao động chưa thực sự đánh giá được chính xác mức độ hoàn thành công việc cũng như chất lượng hoàn thành công việc đó…và còn một số vấn đề tồn tại khác nữa có thể nhận thấy qua việc phân tích khóa luận này. Do vậy, để tiền lương thực sự trở thành công cụ đòn bẩy đối với Tổng Công ty phát huy vai trò của mình thì cần phải có biện pháp để hoàn thiện công tác tiền lương của Tổng Công ty. Trên cơ sở đó tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác tiền lương tại Tổng Công ty gas petrolimex - CTCP” nhằm đóng góp chút sức mình cho việc hoàn thiện công tác tiền lương của Tổng Công ty. 1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài Qua thời gian tìm hiểu thực tế về công tác trả lương tại Tổng Công ty gas petrolimex - CTCP cho thấy bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định trong trả lương của Tổng Công ty. Đề tài: “Hoàn thiện công tác tiền lương tại Tổng Công ty gas petrolimex CTCP” sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề tiền lương tại Tổng công ty, phân tích, đánh giá ưu khuyết điểm của công tác tiền lương, việc hình thành quỹ tiền lương và chia lương 2 cho người lao động trong Tổng Công ty, từ đó sẽ đưa ra những giải pháp cho những vấn đề còn tồn tại. 1.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu những công trình trước đây Tiền lương là một động lực quan trọng để con người lao động, do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn đề này. Dưới đây tôi xin đưa ra một số công trình nghiên cứu của một số tác giả: - Sách: Kỹ thuật xây dựng hệ thống tiền lương và đánh giá thành tích của doanh nghiệp của PGS.TS. Lê Quân, xuất bản năm 2008 Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến rất nhiều vấn đề cả lý thuyết lẫn thực tiễn liên quan đến tiền lương và công tác trả lương của doanh nghiệp như các khái niệm tiền lương, nguyên tắc trả lương, kỹ thuật xây dựng thang bảng lương; tiền lương tại các doanh nghiệp chuyển đổi từ doanh nghiệp chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước và định hướng đổi mới hệ thống tiền lương và đánh giá thành tích tại các doanh nghiệp. Với lý luận chặt chẽ, bằng chứng thuyết phục, ví dụ minh họa rõ ràng dễ hiểu đã giúp nhà nghiên cứu hiểu được rất nhiều vấn đề về tiền lương, có một cái nhìn cụ thể về công tác tiền lương và cung cấp cho những người làm nhân sự những kiến thức cơ bản nhất về kỹ thuật xây dựng thang bảng lương. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng và có ích đối với sinh viên khoa quản trị nhân lực nói riêng và những người làm nghề nhân sự nói chung. - Bài báo: Thực trạng chính sách lương, thưởng và một số gợi ý cho doanh nghiệp của PGS. TS Trần Kim Dung trường đại học kinh tế TP. HCM, năm 2011 Bài báo là kết quả khảo sát thực tế về thực trạng chính sách trả lương của một số doanh nghiệp ở nước ta trong mấy năm lại đây của chính tác giả. Tác giả tiến hành khảo sát rất nhiều khía cạnh về tiền lương của doanh nghiệp như mức lương của doanh nghiệp hiện tại, cơ sở cách thức tính lương, hệ số tính lương, cơ sở cách thức tăng lương, mức độ hiệu quả của hệ thống quy chế chính sách trả lương. Trong bài báo tác giả cũng đề xuất rất nhiều giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện hiệu quả hơn công tác tiền lương. - Luận văn: Hoàn thiện công tác tiền lương tại Công ty Cổ phần Diêm Thống Nhất của Hoàng Thị Trang - Lớp KTLĐ 46B, năm 2010 3 - Luận văn: Bàn về các hình thức trả công trong doanh nghiệp của chị Vương Thùy Trang – Lớp QT 13041 – VĐH Mở Hà Nội, năm 2011 Tại Tổng Công ty Gas petrolimex - CTCP cho đến hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề công tác tiền lương. 1.4. Các mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu lý thuyết: hệ thống hóa các vấn đề lý luận về tiền lương, công tác tiền lương trong doanh nghiệp. - Mục tiêu thực tiễn: vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá công tác trả lương của Tổng Công ty gas petrolimex - CTCP, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương tại Tổng công ty. 1.5. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Trụ sở Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP, tầng 20 tòa nhà MIPEC 229 Tây Sơn- Quận Đống Đa- Thành phố Hà Nội. - Thời gian: Từ năm 2010 đến 2012. - Đối tượng nghiên cứu: Công tác tiền lương tại Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP. 1.6. Phương pháp nghiên cứu  Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: số liệu được thu thập từ các nguồn - Bảng lương tổng hợp - Bảng tính lương cho nhân viên trong Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP - Bảng tiền lương kế hoạch - Kế hoạch quỹ lương của người lao động Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến của các cô chú trong phòng tổ chức hành chính trong Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP và giáo viên hướng dẫn, sách tham khảo, các luận văn cùng các tài liệu có liên quan.  Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Lập bảng câu hỏi điều tra về công tác tiền lương tại Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP và tiến hành lấy ý kiến của cán bộ công nhân trong Tổng công ty. Tiến hành xử lý dữ liệu thu được bằng Excel.  Phương pháp phân tích: - Phương pháp so sánh 4 So sánh số tuyệt đối: Là hiệu số của 2 tiêu chí, tiêu chí lương của lao động theo từng cấp bậc. So sánh tương đối: Là tỷ lệ phần trăm (%) tiền lương giữa 2 cấp bậc khác nhau hay tiền lương ở cấp bậc này gấp bao nhiêu lần tiền lương ở cấp bậc kia. - Phương pháp quy nạp, diễn dịch. 1.7. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng, sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày theo 4 phần: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác tiền lương của doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng công tác tiền lương của Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP Chương 4: Đề xuát một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tiền lương của Tổng Công ty gas petrolimex – CTCP 5 Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác tiền lương 2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2.1.1. Khái niệm về tiền lương. Tuỳ theo cách tiếp cận, phương thức vận hành nền kinh tế và trình độ phát triển của nền kinh tế mà người ta có những quan niệm khác nhau về tiền lương, tiền công. Ta sẽ nghiên cứu một số quan niệm cụ thể sau đây: - Tại Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương, bao hàm tất cả các khoản thu nhập trực tiếp hay gián tiếp mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo hợp đồng lao động. - Tại Đài Loan và Nhật bản, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người lao động nhận được do làm việc. - Tổ chức lao động Quốc tế( ILO) định nhĩa tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính nào, có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định thông qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động - Ở Việt Nam * Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước đây,các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Tiền lương (tiền công) là một phần của thu nhập quốc dân được biểu hiện bằng tiền, được phân chia cho người lao động một cách có kế hoạch, trên cơ sở quy luật phân phối lao động. Quan niệm này phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế chỉ huy tập trung. Trước thời kì đổi mới (1986) nước ta cũng áp dụng quan niệm này. Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường khi sức lao động được thừa nhận là hàng hoá thì quan niệm về tiền lương đã có những sự thay đổi cơ bản. * Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các nhà nghiên cứu quan niệm rằng: Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua sự thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất chất lượng và hiệu quả công việc. Trên thực tế, trong xã hội hiện nay thường có 2 cách hiểu về tiền lương Cách hiểu thứ nhất, tiền lương là bộ phận trong thu nhập của người lao động từ doanh nghiệp. Khi đó tiền lương được hiểu là một khoản tiền tương đối ổn định mà 6 chủ doanh nghiệp chi trả cho người lao động. Ví dụ như tiền lương tháng, tuần, ngày, giờ, tiền lương cơ bản, tiền lương khoán... tiền lương khó đó không bao gồm tiền thưởng và một số khoản thu nhập bổ sung khác. Cách hiểu thứ hai, khá gần với cách hiểu phổ biến trên thế giới, tiền lương được hiểu là toàn bộ thu nhập của người lao động đến từ doanh nghiệp, bao gồm tất cả các khoản thu nhập mà người lao động nhận được từ chủ doanh nghiệp. Các khoản thu nhập này chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập cá nhân. 2.1.2. Các khái niệm khác liên quan đến tiền lương. - Tiền lương cơ bản: Là tiền lương được xác định trên cơ sở tính toán mức độ phức tạp công việc và tiêu hao lao động trong các điều kiện trung bình của từng ngành nghề và tính đủ các nhu cầu về sinh học, xã hội học - Theo sách giáo trình tiền lương tiền công do PGS.TS Nguyễn Tiệp chủ biên thì “Tiền lương tối thiểu là số lượng tiền dùng để trả cho người lao động làm những công việc giản đơn nhất trong xã hội trong điều kiện và môi trường lao động bình thường, chưa qua đào tạo nghề. Đó là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được các tư liệu sinh hoạt và tiêu dùng thiết yếu cho tái sản xuất sức lao động cá nhân và dành một phần bảo hiểm tuổi già và nuôi con” - Tiền lương danh nghĩa: Là lượng tiền mà người sử dụng lao động trả lương cho người lao động, phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã đóng góp - Tiền lương thực tế: là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ mà người lao động trao đổi được bằng tiền lương danh nghĩa của mình sau khi đã đóng các khoản thuế, khoản đóng góp, khoản nộp theo quy định - Tiền lương cứng (tiền lương cố định): Theo góc độ nghiên cứu của đề tài thì tiền lương cứng (tiền lương cố định) được định nghĩa là phần lương người sử dụng lao động trả cho người lao động mà không phụ thuộc vào mức độ tham gia lao động của họ, tiền lương này thường ít có thay đổi. Tương tự như vậy thì tiền lương mềm (tiền lương biến đổi): Là phần tiền lương mà người sử dụng lao động trả cho người lao động dựa trên mức độ tham gia lao động của họ, tiền lương này thường thay đổi theo mức độ tham gia cũng như kết quả lao động của người lao động. 7 - Hệ số tham gia lao động (còn gọi là hệ số tham gia công việc) là chỉ số thể hiện mức độ đóng góp của người lao động đối với kết quả lao động cuối cùng của tập thể lao động chịu sự điều chỉnh của thuế thu nhập. 2.1.3. Khái niệm công tác tiền lương Công tác tiền lương là hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Công tác tiền lương là toàn bộ những hoạt động liên quan đến việc hình thành, quản lý và phân phối tiền lương. Các hoạt động đó được thực hiện trên cơ sở các quyết định của nhà nước, của ngành có liên quan. Vì vậy các doanh nghiệp tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình để thực hiện công tác tiền lương hiệu quả nhất. 2.2. Nội dung tiền lương và công tác tiền lương 2.2.1 Chức năng của tiền lương - Chức năng thước đo giá trị Tiền lương là giá cả sức lao động, vì thế, tiền lương phải là thước đo giá trị sức lao động, phản ánh giá trị sức lao động. Đây là một trong các chức năng quan trọng của tiền lương. Thực hiện chức năng này đòi hỏi việc xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở giá trị sức lao động. Mặt khác, phải xác định được đúng giá trị sức lao động. Đây là một trong những vấn đề khó khăn phức tạp. Khi giá trị sức lao động thay đổi thì tiền lương cũng phải thay đổi theo thì mới phản ánh được giá trị của nó. Do giá trị sức lao động có xu hướng tăng nên tiền lương cũng phải có xu hướng tăng theo các thời kỳ. - Chức năng tái sản xuất sức lao động Quá trình tái sản xuất được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương. Tái sản xuất sức lao động là duy trì và phát triển sức lao động, nghĩa là số tiền lương nhận được người lao động không chỉ đủ sống mà còn đủ để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân và một phần để tích lũy. - Chức năng kích thích người lao động Tiền lương đảm bảo góp phần tác động để tạo cơ cấu hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khích phát triển ngành và lãnh thổ. Khi người lao động được trả công xứng đáng sẽ tạo niềm say mê hứng thú tích cực làm việc, phát huy tinh thần làm việc sáng tạo, tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn trách nhiệm của cá nhân với lợi ích tập thể và công việc. - Chức năng giám sát 8 Người sử dụng lao đông thông qua việc trả lương cho người lao động có thể tiến hành kiểm tra theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch của tổ chức mình, để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại hiệu quả cao. Nhà nước giám sát lao động bằng chế độ tiền lương đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi họ hoàn thành công việc. Đặc biệt trong trường hợp người sử dụng lao động vì sức ép, vì lợi nhuận mà tìm cách giảm chi phí trong đó có chi phí tiền lương trả cho người lao động cần khắc phục ngay. - Chức năng tích luỹ Tiền lương không chỉ được người lao động dùng trong quá trình làm việc mà còn được tích luỹ để dành đề phòng những bất trắc có thể xày ra khi người lao động không thể làm việc được nhưng vẫn phải tiêu dùng. Trên thực tế, tiền lương của người lao động nói chung chỉ đủ dùng, vì thế, không có điều kiện tích luỹ. Chính vì vậy mà nhà nước ta phải buộc người lao động và các doanh nghiệp đóng bảo hiểm cho người lao. Việc tiền lương không thực hiện được chức năng tích luỹ đã gây ra không ít những khó khăn nhất là lúc người lao động ốm đau, tai nạn, thất nghiệp hay khi về hưu… Ngoài các chức năng trên, tiền lương còn có một số chức năng khác như: chức năng đòn bẩy kinh tế, chức năng thanh toán, chức năng giá trị lao động, chức năng điều hòa lao động. 2.2.2. Vai trò của tiền lương Tiền lương có ý nghĩa quan trọng đối với cả người lao động, tổ chức và xã hội. - Đối với người lao động Họ quan tâm đến tiền lương mình nhận được vì tiền lương chính là phần cơ bản nhất trong thu nhập giúp họ và gia đình có thể trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết. Không những thế tiền lương kiếm được phần nào còn ảnh hưởng đến vị thế của họ trong gia đình, cũng như ảnh hưởng đến giá trị tương đối của họ đối với tổ chức và xã hội. Do đó, một mức lương cao sẽ mang lại cho họ động lực để tích cưc học tập, nâng cao trình độ. - Đối với tổ chức Các tổ chức cũng cần phải quan tâm đến tiền lương trả cho người lao động, bởi tiền lương chính là một phần của chi phí sản xuất mà mục tiêu của các doanh nghiệp là làm thế nào để tiết kiệm được chi phí này. Tuy nhiên tiền lương lại là một công cụ 9 giúp các tổ chức có thể duy trì, gìn giữ và thu hút lao động giỏi về làm việc cho mình. Hay nói cách khác nó chính là công cụ (cùng với các loại thù lao khác) giúp các tổ chức quản lý hiệu quả chiến lược nguồn nhân lực của mình. Đối với xã hội Tăng tiền lương có tác động 2 mặt đối với xã hội. Một mặt, tăng tiền lương làm tăng sức mua, do đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng, đồng thời làm tăng thu nhập quốc dân do tăng thuế thu nhập, tăng nguồn nguồn thu của Chính phủ. Mặt khác, việc tăng sức mua làm tăng giá cả, giảm mức sống của người thu nhập thấp. Đến lượt mình giá cả tăng lại làm giảm cẩu về hàng hóa và dịch vụ, dẫn tới giảm việc làm. 2.2.3. Vai trò của công tác tiền lương Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào thì việc thực hiện công tác tiền lương đều rất được coi trọng. Nếu tổ chức thực hiện tốt công tác tiền lương sẽ tạo nên sự phấn khởi cho người lao động và đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng đồng lòng vì sự phát triển của doanh nghiệp. Với bầu không khí làm việc thoải mái, các chế độ chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý sẽ khuyến khích người lao động làm việc, từ đó làm tăng năng suất lao động cá nhân và làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đây là điều kiện để giảm giá thành, hạ giá cả, tăng cường tích luỹ và giành thắng lợi trong cạnh tranh. Ngược lại khi công tác tiền lương không thực hiện tốt, thiếu công bằng thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đó là sự đấu tranh quyền lợi, sự tranh cãi, ganh tị giữa những người lao động trong doanh nghiệp. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của nhiều doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp cần phải đặc biệt coi trọng công tác tiền lương, công tác này càng thực hiện tốt thì doanh nghiệp càng phát triển. 2.2.4. Nguyên tắc tiền lương của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, dù thực hiện bất cứ hình thức tiền lương nào, muốn phát huy đầy đủ tác dụng đòn bẩy kinh tế của tiền lương với sản xuất và đời sống, tiền lương của doanh nghiệp phải được xác định nhằm đáp ứng đầy đủ 3 nguyên tắc cơ bản bao gồm: nguyên tắc công bằng, nguyên tắc cạnh tranh, nguyên tắc cân bằng tài chính. - Tiền lương phải đảm bảo tính cạnh tranh. Tiền lương của doanh nghiệp phải đảm bảo ngang bằng hoặc cao hơn với doanh nghiệp khác, nhất là các doanh nghiệp trong ngành nhằm thu hút được lao động có năng lực. Nguyên tắc này được thực thi sẽ đảm bảo sức thu hút của doanh nghiệp trên thị trường lao động. Muốn đảm bảo 10 nguyên tắc cạnh tranh, doanh nghiệp phải tiến hành khảo sát mức chi trả của thị trường lao động. Ngoài ra, cần căn cứ vào thực tế của doanh nghiệp đẻ phân loại nhân sự, đưa ra chính sách tiền lương cho phép thu hút và tạo ra lực lượng lao động nòng cốt. - Tiền lương phải thể hiện sự công bằng. Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Yêu cầu này phải thể hiện ở mọi khía cạnh của chính sách và tư tưởng, triết lý xuyên suốt toàn bộ chính sách. Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối theo lao động.Trả lương bằng nhau cho lao động như nhau. Có nghĩa là khi quy định tiền lương , tiền thưởng cho người lao động , nhất thiết doanh nghiệp không được phân biệt giới tính, tuổi tác, dân tộc mà phải trả lương cho mọi người tương xứng với số lượng, chất lượng mà họ cống hiến cho doanh nghiệp. Để duy trì nhân viên giỏi ngoài mức lương cao còn phải thực hiện công bằng trong nội bộ doanh nghiệp. Trong trường hợp trả lương không công bằng, người lao động sẽ cảm thấy khó chịu, bị ức chế, chán nản và dễ ròi bỏ doanh nghiệp. - Tiền lương của doanh nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng tài chính. Năng lực chi trả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau, do đó chính sách tiền lương cũng phải đảm bảo doanh nghiệp có thể tồn tại và pháy triển vì tiền lương là yếu tố chi phí đầu vào quan trọng. Doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả thấp thường có mức chi trả thấp và ngược lại. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận tiền lương là công cụ đòn bẩy nâng cao năng suất lao động, do vậy tăng lương là biện pháp tăng năng suất lao động. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt 3 nguyên tắc này, chính sách tiền lương của doanh nghiệp sẽ có tác dụng động viên nhân sự. Ngược lại, chính sách tiền lương sẽ không thực hiện được chức năng của mình. 2.2.5. Xây dựng quỹ lương a) Xác định tiền lương tối thiểu của doanh nghiệp Tiền lương tối thiểu là số tiền được qui định để trả công cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện trung bình của xã hội. Tiền lương tối thiểu được xác định trên cơ sở: - Tiền lương tối thiểu do nhà nước qui định - Hệ số điều chỉnh tăng thêm : kđc TlminDN = (1 + kđc)Tlmin kđc = k1 + k2 11 k1: Hệ số tăng thêm ngành k2: Hệ số tăng thêm vùng TlminDN không được thấp hơn Tlmin chung b) Xác định lao động định biên Mức lao động tổng hợp tính theo công thức sau: Lđb = Lch + Lpv + Lbs +Lql Trong đó: Lđb: Lao động định biên của công ty Lch: Lao động chính định biên Lpv: Lao động phụ trợ, phục vụ định biên Lbs: Lao động bổ sung định biên để thực hiện chế độ ngày, giờ nghỉ theo quy định của pháp luật lao động đối với lao động chính và lao động phụ trợ, phục vụ. Lql: Lao động quản lý định biên c) Xây dựng đơn giá tiền lương Đơn giá tiền lương là lượng tiền trên một đơn vị lao động. Đơn vị lao động có thể là: một giờ lao động, một ngày lao động, một sản phẩm của người lao động tạo ra. Xây dựng đơn giá tiền lương được tiến hành qua các bước: Bước 1: Xác định nhiệm vụ năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương. Có thể lựa chọn nhiệm vụ năm kế hoạch bằng các chỉ tiêu sau: - Tổng sản phẩm (kể cả sản phẩm qui đổi) bằng hiện vật - Tổng doanh thu hoặc tổng doanh số - Tổng thu trừ tổng chi - Lợi nhuận Bước 2: Xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương. Quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương được xác định theo công thức:  Vkh = { Lđb x TlminDN x (Hcb + Hpc) + Vvc} x 12 tháng Trong đó: Lđb : Lao động định biên TlminDN: Mức lương tối thiểu của doanh nghiệp Hcb Hệ số lương cấp bậc công việc bình quân : 12 Hpc : Hệ số các khoản phụ cấp lương bình quân được tính trong đơn giá tiền lương Vvc : Quỹ tiền lương của bộ máy gián tiếp mà số lao động này chưa tính trong định mức lao động tổng hợp Bước 3: Xác định đơn giá tiền lương. * Tính trên đơn vị sản phẩm (hoặc sản phẩm quy đổi) Công thức tính đơn giá: Vđg = Vgiờ x Tsản phẩm Trong đó: Vđg : Đơn giá tiền lương Vgiờ : Tiền lương giờ Tsản phẩm : Mức lao động của đơn vị sản phẩm hoặc sản phẩm quy đổi * Tính trên doanh thu Công thức xác định đơn giá: Vđg =  Vkh  Tkh Trong đó: Vđg : Đơn giá tiền tiền lương  Vkh : Tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch  Tkh : Tổng doanh thu kế hoạch * Tính trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí Công thức xác định đơn giá: Vđg =  Vkh  Tkh   Ckh Trong đó: Vđg : Đơn giá tiền lương  Vkh : Tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch  Tkh : Tổng doanh thu năm kế hoạch  Ckh : Tổng chi phí kế hoạch * Tính trên lợi nhuận Công thức xác định đơn giá tiền lương: 13 Vđg =  Vkh  Pkh Trong đó: Vđg : Đơn giá tiền lương  Vkh : Tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch  Pkh : Lợi nhuận kế hoạch d) Xây dựng quỹ tiền lương Quỹ tiền lương là tổng số tiền trả cho người lao động. Tổng quỹ tiền lương chung năm kế hoạch không phải để xây dựng đơn giá tiền lương mà để lập kế hoạch tổng chi về tiền lương của doanh nghiệp được xác định theo công thức:  Vc =  Vkh + Vpc +Vbs + Vtg Trong đó:  Vc : Tổng quỹ tiền lương chung năm kế hoạch  Vkh : Tổng quỹ tiền lương năm kế hoạch để xây dựng đơn giá tiền lương Vpc : Quỹ kế hoạch các khoản phụ cấp lương và các chế độ khác không được tính trong đơn giá tiền lương theo quy định Vbs : Quỹ tiền lương bổ sung theo kế hoạch Vtg : Quỹ tiền lương làm thêm giờ được theo kế hoạch, không vượt quá số giờ làm thêm qui định của bộ luật lao động 2.2.6 Phân phối quỹ lương Tùy vào điều kiện, đặc điểm sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị, doanh nghiệp, mà họ sẽ lựa chọn hình thức trả lương nào cho thích hợp. Trong thực tế tồn tại một số hình thức trả lương phổ biến là: - Hình thức trả lương theo sản phẩm - Hình thức trả lương theo thời gian - Trả lương theo nguyên lý 3Ps Sau đây, ta sẽ nghiên cứu ba hình thức trả lương này:  Hình thức trả lương theo thời gian 14 Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động trên cơ sở căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và trình độ chuyên môn của người lao động. Tiền lương người lao động nhận được: TLtg = S x T Trong đó: TLtg: Tiền lương theo thời gian S : Suất lương của người lao động T : Thời gian người lao động làm việc Điều kiện áp dụng: Chủ yếu áp dụng đối với cán bộ quản lý. Ngoài ra còn áp dụng với lao động bằng máy móc hoặc làm công việc khó xác định định mức một cách cụ thể, chính xác, công việc đòi hỏi chất lượng cao… Ưu điểm: Dễ hiểu, dễ tính, dễ quản lý. Nhược điểm: Tiền lương họ nhận được không chưa gắn với kết quả lao động mà họ đạt được trong thời gian làm việc nên không khuyến khích tăng năng suất lao động.  Hình thức trả lương theo sản phẩm Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm hay dịch vụ mà họ đã hoàn thành. Tiền lương người lao động nhận được: TLsp = ĐG x SP Trong đó: TLsp: Tiền lương theo sản phẩm ĐG : Đơn giá tiền lương đối với một đơn vị sản phẩm SP : Số lượng sản phẩm Điều kiện áp dụng: Công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Ưu điểm: Theo hình thức này thì tiền lương mà người lao động nhận được phụ thuộc trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm đã hoàn thành. Do đó, có tác dụng khuyến khích tăng năng suất lao động, đồng thời khuyến khích họ ra sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích lũy kinh nghiệm…để có thể nâng cao khả năng làm việc. Mặt khác, việc trả lương theo hình thức này còn góp phần nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động trong làm việc của người lao động. 15 Nhược điểm: Tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là có thể dẫn đến tình trạng chạy theo số lượng mà ít quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và sử dụng hợp lý máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Đây là hình thức được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp và hiện nay tồn tại nhiều chế độ trả lương sản phẩm khác nhau: - Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân - Chế độ trả lương sản phẩm tập thể - Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp - Chế độ trả lương theo sản phẩm lũy tiến - Chế độ trả lương theo sản phẩm khoán 2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiền lương lương của doanh nghiệp 2.3.1. Các yếu tố thuộc môi trường xã hội - Cung – cầu lao động: Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng giảm, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lương có xu hướng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trường lao động đạt tới sự cân bằng. Tiền lương lúc này là tiền lương cân bằng, mức tiền lương này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hưởng tới cung cầu về lao động thay đổi như (năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ …). - Sức mua của đồng tiền: Lạm phát là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quỹ lương của doanh nghiệp. Hàng năm, doanh nghiệp phải điều chỉnh quỹ lương của mình để đảm bảo sức mua thực tế của tiền lương. Như vậy buộc các đơn vị, các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa cho công nhân để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động, đảm bảo tiền lương thực tế không bị giảm. - Pháp luật: Tiền lương cho người lao động, doanh nghiệp phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Một số quy định cụ thể về tiền lương như tiền lương tối thiểu, ngày nghỉ, ngày lễ, phúc lợi, trợ cấp, chi trả lương... là bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ chặt chẽ. - Đặc điểm của thị trường lao động và mức lương trong ngành: Với tư cách là một đơn vị kinh tế thì mọi doanh nghiệp phải quan tâm tới lợi nhuận. Nhưng với tư cách là một tế bào của nền kinh tế của xã hội, mỗi doanh nghiệp đều phải quan tâm đến những vấn đề xã hội đang xảy ra bên ngoài nó. Do đó, khi nghiên cứu về trả 16 lương, doanh nghiệp cần quan tâm đến mức lương của các doanh nghiệp trên thị trường lao động và trong cùng ngành. 2.3.2.Nhóm nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp - Các chính sách của doanh nghiệp: các chính sách lương, phụ cấp, giá thành… được áp dụng triệt để phù hợp sẽ thúc đẩy lao động nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, trực tiếp tăng thu nhập cho bản thân người lao động. - Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương. Với doanh nghiệp có khối lượng vốn lớn thì khả năng chi trả tiền lương cho người lao động sẽ thuận tiện dễ dàng. Còn ngược lại nếu khả năng tài chính không vững thì tiền lương của người lao động sẽ rất bấp bênh. - Cơ cấu tổ chức hợp lý hay bất hợp lý cũng ảnh hưởng ít nhiều đến tiền lương.Việc quản lý được thực hiện như thế nào, sắp xếp đội ngũ lao động ra sao để giám sát và đề ra những biện pháp kích thích sự sáng tạo trong sản xuất của người lao động để tăng hiệu quả, năng suất lao động góp phần tăng tiền lương. 2.3.3 Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động - Trình độ lao động: Với lao động có trình độ cao thì sẽ có được thu nhập cao hơn so với lao động có trình độ thấp hơn bởi để đạt được trình độ đó người lao động phải bỏ ra một khoản chi phí tương đối cho việc đào tạo đó. Có thể đào tạo dài hạn ở trường lớp cũng có thể đào tạo tại doanh nghiệp. Để làm được những công việc đòi hỏi phải có hàm lượng kiến thức, trình độ cao mới thực hiện được, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp thì việc hưởng lương cao là tất yếu. - Thâm niên công tác và kinh nghiệm làm việc thường đi đôi với nhau. Một người qua nhiều năm công tác sẽ đúc rút được nhiều kinh nghiệm, hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra trong công việc, nâng cao bản lĩnh trách nhiệm của mình trước công việc đạt năng suất chất lượng cao vì thế mà thu nhập của họ sẽ ngày càng tăng lên. - Mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đều ảnh hưởng ngay đến tiền lương của người lao động. 2.3.4 Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc - Mức hấp dẫn của công việc: công việc có sức hấp dẫn cao thu hút được nhiều lao động, khi đó doanh nghiệp sẽ không bị sức ép tăng lương, ngược lại với công việc kém hấp dẫn để thu hút được lao động doanh nghiệp phải có biện pháp đặt mức lương cao hơn. 17 - Mức độ phức tạp của công việc: Với độ phức tạp của công việc càng cao thì định mức tiền lương cho công việc đó càng cao. Độ phức tạp của công việc có thể là những khó khăn về trình độ kỹ thuật, khó khăn về điều kiện làm việc, mức độ nguy hiểm cho người thực hiện do đó mà tiền lương sẽ cao hơn so với công việc giản đơn. - Điều kiện thực hiện công việc: Tức là để thực hiện công việc cần xác định phần việc phải làm, tiêu chuẩn cụ thể để thực hiện công việc, cách thức làm việc với máy móc, môi trường thực hiện khó khăn hay dễ dàng đều quyết định đến tiền lương. - Yêu cầu của công việc đối với người thực hiện là cần thiết, rất cần thiết hay chỉ là mong muốn mà doanh nghiệp có quy định mức lương phù hợp. 18 Chương 3: Phân tích thực trạng về công tác tiền lương của Tổng Công ty Gas petrolimex - CTCP 3.1. Đánh giá tổng quan tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Gas petrolimex – CTCP 3.1.1. Giới thiệu sơ lược về Tổng Công ty Gas petrolimex – CTCP 3.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Tên tiếng Việt: Tổng Công Ty Gas Petrolimex - CTCP Tên giao dịch: Petrolimex Gas Corporration - JSC Địa chỉ: 229 Tây Sơn- Quận Đống Đa- Thành phố Hà Nội. Điện thoại: (04) 3864-2243 / 3864-1212 - Fax: (04) 3864-2249 Website: www.pgas.petrolimex.com.vn Các Chi nhánh trực thuộc tại các thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, Phú Thọ, Bắc Ninh Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam được thành lập theo quyết định số 1653/ QĐ- BTM của Bộ thương mại ngày 25/12/1998. Sự ra đời của Công ty gắn liền với quá trình phát triển của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam. Đến ngày 7/2/2013 Công ty đã được chính thức công nhận là Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP. 3.1.1.2.Tổng Công ty có nhiệm vụ: - Đảm bảo đáp ứng nguồn hàng theo nhu cầu của các đơn vị. - Chỉ đạo, tổ chức mạng lưới kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường và định hướng phát triển của Tổng Công ty. Xây dựng chất lượng cho ngành hàng, chỉ đạo thống nhất, quản lý kinh doanh thông qua cơ chế định giá, địa điểm giao nhận hàng, phân công thị trường, các định mức kinh tế kỹ thuật. - Chỉ đạo phối hợp với các đơn vị trong công tác đầu tư liên quan đến việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại các đơn vị. - Thực hiện các hoạt động kinh doanh đảm bảo an toàn về lao động, VSMT. - Đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh của Tổng Công ty, thực hiện đầy đủ quyền lợi, chính sách chế độ về tiền lương, BHXH cho công nhân viên theo Luật lao động và tham gia các hoạt động có ích cho xã hội. 19 - Thực hiện kế hoạch nhà kinh tế nhằm sử dụng hợp lý lao động, tài sản vật tư, tiền vốn, đảm bảo hiệu quả trong kinh doanh, thực hiện đầy đủ các hợp đồng kinh tế ký kết với bạn hàng, chấp hành pháp lệnh kế toán thống kê, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, bảo toàn về vốn. Tạo thêm công ăn việc làm, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên. 3.1.1.3. Ngành nghề kinh doanh của Tổng Công Ty Gas Petrolimex - CTCP Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Tổng Công Ty là xuất nhập khẩu và kinh doanh Gas hoá lỏng. Ngoài ra còn kinh doanh kho bãi, vận tải, vật tư thiết bị, phụ kiện;Tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, bảo dưỡng, sửa chữa, lắp đặt các dịch vụ thương mại và dịch vụ có liên quan đến phục vụ kinh doanh Gas theo qui định của pháp luật; Dịch vụ thương mại; Kinh doanh địa ốc và bất động sản (không bao gồm hoạt động tư vấn về giá đất); Kiểm định, bảo dưỡng các loại vỏ bình gas. 3.1.1.4 Sơ đồ bộ máy tổ chức 20
- Xem thêm -