Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông

  • Số trang: 109 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “ Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông (Lấy ví dụ tại Công ty TNHH Các Hệ thống Viễn thông VNPT-FUJITSU)” là do bản thân tôi nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng với sự hướng dẫn của Thầy hướng dẫn. Tôi xin cam đoan và chịu toàn bộ trách nhiệm về tính trung thực cũng như sự hợp pháp của vấn đề nghiên cứu. Ký tên Ngô Mai Chi MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TÓM TẮT LUẬN VĂN MỞ ĐẦU.................................................................................................................. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI...................................................................... 1.1 Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài: khái niệm, đặc điểm và vai trò............................................................................................................. 1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài....................................... 1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài............... 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam................................................................................ 1.2 Các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài............... 1.2.1. Quan niệm về cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài..................................................................................................... 1.2.2 Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài.................................................................................... 1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài................................................................ 1.2.4 Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài.................................................................................... 1.3. Kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài........................................................................... 1.3.1 Kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp............. 1.3.2. Bài học rút ra cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông................................................ CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH CÁC HỆ THỐNG VIỄN THÔNG VNPT – FUJITSU...................................................................................................... 2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT – FUJITSU..................................................................... 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU................................................................................. 2.1.2 Cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU................................................................ 2.2 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU............................................................. 2.2.1 Thực trạng luật pháp, chính sách và các quy định liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp................................................................................. 2.2.2 Thực trạng quy trình quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU.......................................................................... 2.2.3 Thực trạng tổ chức quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU.......................................................................... 2.2.4 Thực trạng cơ chế giám sát, kiểm tra các hoạt động tài chính....................... 2.3. Đánh giá chung về thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU..................................... 2.3.1 Những thành tựu đạt được............................................................................. 2.3.2 Hạn chế và những nguyên nhân.................................................................... CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI NGÀNH VIỄN THÔNG......................................... 3.1. Phương hướng hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông................................ 3.1.1. Những căn cứ đề xuất phương hướng........................................................... 3.1.2. Định hướng hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông...................................................... 3.2. Những giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành Viễn thông............................... 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện các Luật pháp, chính sách và quy định liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài.......................... 3.2.2. Xây dựng quy trình quản lý tài chính trong doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành Viễn thông phù hợp với điều kiện thực tế........................ 3.2.3. Nâng cao hiệu quả trong tổ chức quản lý tài chính........................................ 3.2.4. Nâng cao hiệu lực của bộ máy và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính......................................................................................................... 3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp...................................................... 3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất để thực hiện việc quản lý tài chính có hiệu quả, đúng mục tiêu đề ra............................................................................... 3.3. Các kiến nghị đối với VNPT và đối tác nước ngoài – FUJITSU.............. 3.3.1. Kiến nghị đối với VNPT............................................................................... 3.3.2. Kiến nghị đối với FUJITSU.......................................................................... KẾT LUẬN............................................................................................................ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT - CBCNV : Cán bộ công nhân viên - CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa - DN : Doanh nghiệp - DNLD : Doanh nghiệp liên doanh - ĐTNN : Đầu tư nước ngoài - FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài - NVL : Nguyên vật liệu - SXKD : Sản xuất kinh doanh - TCT : Tổng công ty - TNHH : Trách nhiệm hữu hạn - TSCĐ : Tài sản cố định - UBND : Ủy ban nhân dân - VFT : Công ty trách TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU - VNPT : Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VT-CNTT : Viễn thông- Công nghệ thông tin DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ BẢNG Bảng 2.1 : Tỷ lệ vốn góp của các bên liên doanh trong Công ty VFT..............51 Bảng 2.2 : Vốn chủ sở hữu của Công ty VFT từ năm 2008-2010....................52 Bảng 2.3: Chi phí SXKD theo yếu tố của Công ty VFT từ năm 2006-2010....57 BIỂU ĐỒBiểu đồ 2.1 : ..................Doanh thu của Công ty VFT từ năm 2006-2010 ........................................................................................................56 Biểu đồ 2.2: Chi phí của Công ty VFT từ năm 2006-2010..................................58 Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận sau thuế của Công ty VFT từ năm 2006-2010...............59 SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 : Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty VFT.....................................45 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành, các hình thức đầu tư nước ngoài và liên doanh với nước ngoài đã được quan tâm phát triển. Đó là nguồn vốn quan trọng cho sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao tay nghề cho người lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật- công nghệ cho đất nước. Tuy nhiên , bên cạnh những thành tựu đạt được quá trinh phát triển các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tồn tại một số vấn đề như : số lượng dự án có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù có nhiều nhưng hoạt động có hiệu quả không nhiều, không ổn định, tác động của các doanh nghiệp liên doanh đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đạt được định hướng như mong muốn. Chúng ta chưa khai thác có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên cơ sở những lợi thế của đất nước Việt nam… Từ đó đặt ra nhiều vấn đề quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô, đặc biệt là lĩnh vực quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể thấy rõ một nguyên nhân căn bản và ảnh hưởng trực tiếp đến những tồn tại trên là những bất cập và yếu kém về quản lý tài chính trong doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Nhiều vấn đề cấp thiết đặt ra như : làm thế nào để xác định đúng nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp, làm thế nào sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các nguồn thu chi và bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp, thực hiện phân phối lợi nhuận, nộp thuế cho nhà nước, trích lập và sử dụng các quỹ như thế nào cho hợp lý…. 2 Nhằm góp phần nhỏ bé và giải quyết những vấn đề cấp bách trên, với tư cách là kế toán trưởng của một công ty liên doanh, tôi mạnh dạn chọn đề tài sau làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế là : “ Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông (Lấy ví dụ tại Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU)”. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp đã có một số đề tài nghiên cứu cụ thể như: - Hoàn thiện cơ chế quản ly tài sản cố định tại Công ty Thông tin di động VMS- Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Hữu Hiếu - Đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 theo mô hình Công ty mẹ- Công ty con- Luận văn Thạc sỹ Trần Vĩnh Hưng - Hoàn thiện cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho giáo dục ở Tỉnh Nghệ An- Luận văn Thạc sỹ Hồ Thị Xuân - Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam- Luận văn thạc sỹ. - Đổi mới cơ chế tài chính tại Tổng công ty quản lý bay Việt Nam theo mô hình công ty mẹ- công ty con.- Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thế Quang Trung. - Tiến sỹ Mai Văn Bảo, “ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước”- Tạp chí lý luận chính trị số 8. - TS. Huỳnh Văn Tâm, “Thấy gì qua thanh tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai” - Tạp chí Hoạt động khoa học số 4 . Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông . Vì vậy đề tài vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. 3 3. Mục tiêu và nhiệm vụ 3.1 Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính của doanh nghiệp. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Khái quát hoá quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU thông qua các hoạt động tài chính của công ty. - Đánh giá những thành công và những tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính của công ty, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra. - Đề xuất những nguyên tắc định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở công ty, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại trong quản lý tài chính của công ty, tạo điều kiện để công ty phát triển . 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành viễn thông. 4.2 Phạm vi nghiên cứu Qua khảo sát và thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính tại Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU . Về thời gian : luận văn tập trung vào nghiên cứu ,phân tích về cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPTFUJITSU trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến nay. 4 5. Phương pháp nghiên cứu - Vận dụng phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá, khái quát hoá, kết hợp lịch sử và lôgic. - Kết hợp các phương pháp phân tích diễn giải, thống kê, phân tích đánh giá và tổng hợp, so sánh, điều tra khảo sát thực tế tại Công ty VFT. 6. Những đóng góp của luận văn - Là công trình bước đầu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành Viễn thông hiện nay. - Xác định thực trạng , những nhân tố ảnh hưởng và tính tất yếu khách quan hoàn thiện công tác quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU. - Đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành Viễn thông ở Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn kết cấu gồm 3 chương : Chương 1 : Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Chương 2 : Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của Công ty TNHH các hệ thống viễn thông VNPT-FUJITSU Chương 3 : Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính ở doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài ngành Viễn thông. 5 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH VỚI NƯỚC NGOÀI 1.1 Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài: khái niệm, đặc điểm và vai trò 1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài Từ cuối thế kỷ 19, với sự xuất hiện của hoạt động xuất khẩu tư bản giữa các cường quốc tư bản, các thực thể kinh doanh dựa trên cơ sở sự pha trộn của các tác nhân về vốn, lao động, máy móc, thị trường của các công ty mang quốc tịch khác nhau được hình thành. Những thực thể kinh doanh hợp nhất này là mầm mống đầu tiên của các DNLD có vốn ĐTNN. Trong cuốn “ Từ điển tiếng Anh kinh doanh ” của J.H. Adam đã định nghĩa: “Xí nghiệp liên doanh là một quan hệ bạn hàng tạm thời nhưng đôi khi có tính chất lâu dài được thành lập từ hai hoặc nhiều cá nhân hoặc công ty hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh nhất định trong đó có rủi ro về thua lỗ nhưng vẫn có thể mong đợi một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Các bên liên doanh cùng chia sẻ các khoản chi phí và lợi nhuận theo các tỷ lệ đã được thỏa thuận”. Định nghĩa này chỉ ra rằng rủi ro và lợi nhuận là động lực để thành lập các doanh nghiệp liên doanh. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm về liên doanh như sau: “Trên quan điểm cạnh tranh, liên doanh là một hình thức nằm giữa hợp đồng và liên minh trong đó hai hoặc nhiều công ty liên kết hoạt động với nhau trong một hoặc hơn các lĩnh vực sau đây: 6 - Tiến hành các hoạt động mua hoặc bán. - Khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển hoặc điều hành các hoạt động sản xuất. - Nghiên cứu và triển khai. - Hoạt động, chế tạo và xây dựng Định nghĩa này chỉ ra được liên doanh có thể thành lập trên cơ sở hai hoặc nhiều công ty liên kết lại với nhau, nhưng đây chỉ là những hoạt động có tính chất bộ phận. Liên doanh còn được định nghĩa: “Là những thỏa thuận kinh doanh trong đó hai hoặc nhiều công ty hoặc thực thể kinh doanh kết hợp với nhau để hình thành một hoạt động kinh doanh nhất định. Các liên doanh có thể được thành lập giữa hai công ty đa quốc gia, giữa một công ty đa quốc gia với các nhà kinh doanh địa phương” (cuốn Kinh doanh quốc tế - Internationl Business của trường Đại học Tổng hợp America). Định nghĩa này đã chỉ ra liên doanh về thực chất là những thỏa thuận kinh doanh giữa hai hay nhiều bên. Tính đa dạng của các đối tác tham gia liên doanh cũng đã được chỉ ra trong định nghĩa này một cách cụ thể. Cách kết hợp giữa các chủ thể tham gia liên doanh cũng được xem như là một tiêu chuẩn để phân loại liên doanh. Tuy nhiên, yếu tố quốc tịch của các bên tham gia liên doanh – một căn cứ quan trọng để phân biệt liên doanh trong nước với liên doanh quốc tế vẫn chưa được đề cập trong định nghĩa này. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra định nghĩa về DNLD như sau: “Doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh lý kết giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài hoặc giữa xí nghiệp liên doanh với bên hoặc các bên nước ngoài nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc 7 dân Việt Nam. Trong trường hợp đặc biệt , DNLD có thể được thành lập trên cơ sở Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài”. Theo cách tiếp cận này, cơ sở thành lập các DNLD là hợp đồng liên doanh ký kết giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài. Cũng có thể các DNLD được thành lập là một bên của DNLD mới. Tuy nhiên trong điều kiện của Việt Nam, có một ngoại lệ do hoàn cảnh lịch sử để lại là cơ sở pháp lý của DNLD có thể là một hiệp định quốc tế được ký giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài. Qua phân tích trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận đối với hình thức DNLD với nước ngoài. Một là, DNLD với nước ngoài là một hình thức tổ chức liên doanh có tính chất quốc tế. Cụ thể hơn, DNLD với nước ngoài là một hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp. Tính chất quốc tế được thể hiện chủ yếu ở sự khác nhau về quốc tịch của các bên tham gia liên doanh, quá trình thành lập liên doanh và sự hoạt động ra ngoài biên giới quốc gia của chúng. Hai là, DNLD với nước ngoài là một quan hệ bạn hàng lâu dài và là một mối liên kết hữu cơ của hai bên hoặc nhiều bên nhưng các bên này ít nhất thuộc hai quốc tịch khác nhau. Ba là, DNLD với nước ngoài được hình thành từ những sự khác nhau của các bên về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận và chia sẻ các rủi ro. Điều này phản ánh thuộc tính “cộng đồng” về trách nhiệm của các bên đối với những hoạt động của liên doanh. Bản chất của lợi thế này của liên doanh không phải là phép cộng đơn giản các lợi thế sẵn có của các bên mà chính là việc tạo ra những lợi thế mới hơn khả năng nội tại của các bên. Bốn là, lĩnh vực hoạt động của DNLD với nước ngoài có thể bao gồm 8 các hoạt động chế tạo, chế biến, buôn bán, hoặc các hoạt động dịch vụ như dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, bảo hiểm, vận tải, tư vấn, hoạt động nghiên cứu cơ bản và R&D,… Năm là, cơ sở pháp lý của sự tồn tại và các hoạt động của các DNLD với nước ngoài là hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên và luật pháp của nước sở tại. Sự thỏa thuận của các bên dưới sự bảo đảm của luật pháp tạo nên một thực thể thống nhất. Ở đây, DNLD với nước ngoài phải chấp nhận tiến hành hoạt động kinh doanh theo hệ thống luật pháp của nước sở tại với điều kiện hệ thống pháp luật đó phải thích ứng với thông lệ quốc tế và hấp dẫn ở mức độ nhất định đối với các đối tác nước ngoài tham gia thành lập DNLD. Tóm lại, DNLD với nước ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên tham gia phù hợp với quy định luật pháp của nước sở tại. 1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài 1.1.2.1. Đặc trưng về mặt kinh doanh DNLD với nước ngoài được thành lập trên cơ sở các bên cùng góp vốn, cùng tham gia quản lý, cùng phân chia lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro. Mỗi yếu tố này phản ánh những khía cạnh khác nhau về mặt kinh doanh cua DNLD, cụ thể là: - Cùng góp vốn. Các bên tham gia liên doanh cùng đóng góp tiền mặt (nội ngoại tệ, vàng, bạc, cổ phiếu, trái phiếu, …), máy móc, thiết bị, công nghệ, giá trị quyền sử dụng đất đai, mặt nước, nước biển, các dịch vụ sản xuất, xây dựng, 9 uy tín, nhãn hiệu hàng hóa, … Do tính chất đa dạng của các loại tài sản góp vào liên doanh cho nên có loại tài sản có thể định giá được, có loại tài sản khó định giá. Vì vậy, trong nhiều trường hợp khó xác định được phần góp vốn của các bên trong liên doanh. - Cùng tham gia quản lý. Tùy thuộc vào tỷ lệ góp vốn pháp định của các bên tham gia liên doanh mà số lượng thành viên tham gia Hội đồng quản trị cũng như mức độ quyết định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các bên khác nhau. Theo như Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định ít nhất một bên tham gia có hai thành viên trong hội đồng. Bộ máy quản lý DNLD có vai trò điều hành hoạt động của doanh nghiệp, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân, … - Cùng phân chia lợi nhuận. Các bên tham gia liên doanh cùng phân chia các khoản lợi nhuận thu được của doanh nghiệp sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài chính đối với nước sở tại. Tỷ lệ phân chia lợi nhuận giữa các bên dựa theo tỷ lệ vốn góp của chúng trong vốn pháp định của DNLD. Tuy vậy cơ chế phân chia lợi nhuận còn tùy thuộc vào hình thức thành lập DNLD. - Cùng chia sẻ rủi ro. Các bên cùng chia sẻ các loại rủi ro có thể xảy ra đối với DNLD. Các loại rủi ro rất đa dạng có thể là rủi ro về chính trị, được hiểu là sự thay đổi về thể chế chính trị, sự thay đổi của chính phủ hay nhà nước; rủi ro về pháp lý, được hiểu là sự thay đổi của hệ thống pháp luật, các loại chính sách và các quy định áp dụng cho DNLD; rủi ro về kinh tế, được hiểu là sự thay đổi giá cả, quan hệ cung cầu của các mặt hàng liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của liên doanh hoặc do tình trạng kinh tế của đất nước đang ở giai đoạn suy thoái; rủi ro trong kinh doanh, được hiểu là sự thay đổi của khối khách hàng, tình trạng cạnh tranh trên thị trường hoặc rủi ro do thiếu hiểu biết về 10 môi trường văn hóa, phong tục tập quán của người tiêu dùng tại nước sở tại. Những rủi ro này càng lớn nếu thị trường hoạt động của doanh nghiệp càng xa lạ với công ty có chiến lược đầu tư ra nước ngoài trong dài hạn. Độ rủi ro càng cao thì khả năng thu lợi nhuận càng lớn nhưng đi đôi với đó là xác suất đổ vỡ của các DNLD càng cao. Đối với những doanh nghiệp đầu tư một khối lượng vốn lớn vào một lĩnh vực kinh doanh thì hình thức liên doanh sẽ tạo điều kiện giảm bớt tổn thất xảy ra trong kinh doanh đối với doanh nghiệp này do được chia sẻ rủi ro với các bên cùng tham gia liên doanh. 1.1.2.2. Đặc trưng về mặt pháp lý. DNLD với nước ngoài là một thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp của nước sở tại, có tư cách pháp nhân. Trong quá trình hoạt động, DNLD phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, các quy định của Giấy phép đầu tư, các điều khoản của Hợp đồng liên doanh, Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh. Mọi điều khoản của Hợp đồng liên doanh, Điều lệ Doanh nghiệp liên doanh trái với nội dung của Giấy phép đầu tư này và Pháp luật Việt Nam phải được hiểu theo quy định của Giấy phép đầu tư và pháp luật Việt Nam. Việc xây dựng mới các công trình của DNLD phải tuân thủ các quy định của Nhà nước Việt Nam về quản lý xây dựng cơ bản. Nếu áp dụng quy trình, quy phạm của nước ngoài phải được Bộ Xây dựng chấp thuận. Việc DNLD nhận công nghệ chuyển giao từ bên ngoài phải thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước Việt Nam về chuyển giao công nghệ. Hợp đồng trợ giúp kỹ thuật và hợp đồng li xăng ký giữa DNLD và công ty nước ngoài phải được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xem xét, phê duyệt theo quy định hiện hành. DNLD phải áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng – chống 11 cháy, nổ và an toàn lao động theo các quy định của Nhà nước Việt Nam. Đặc trưng kinh doanh và đặc trưng pháp lý có mối liên hệ qua lại lẫn nhau. Đặc trưng kinh doanh phản ánh thực chất và quy định bản chất nội tại của DNLD. Đặc trưng pháp lý quy định tính chất độc lập của DNLD và phản ánh tính hợp pháp của sự tồn tại của nó theo điều kiện của nước sở tại. Cả hai đặc trưng này đều phản ánh một thực thể độc lập – DNLD. 1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Xét một cách tổng thể, có thể khái quát những đóng góp của các DNLD với nước ngoài ở các mặt sau: Thứ nhất, DNLD đã góp phần tạo ra những năng lực sản xuất mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, phương thức quản lý và phương thức sản xuất kinh doanh mới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN luôn có chỉ số phát triển cao hơn chỉ số phát triển của các thành phần kinh tế khác và cao hơn hẳn chỉ số phát triển chung của cả nước. Các doanh nghiệp đang hoạt động đã tạo ra nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới góp phần làm tăng năng lực của một số ngành nghề. Khu vực kinh tế này cũng đã góp phần gia tăng nhiều công nghệ mới hiện đại cho nền kinh tế đất nước mà biểu hiện cụ thể nhất là ở các lĩnh vực như: viễn thông, dầu khí, hóa chất, điện tử, tin học, ô tô, xe máy, … từ đó làm tiền đề cho sự phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn khác. Thực tế, những thiết bị, công nghệ của nước ngoài chuyển vào Việt Nam lâu nay chưa phải là những loại thuộc thế hệ hiện đại nhất của thế giới nhưng phần lớn là hiện đại hơn so với những dây chuyền thiết bị đã được sử dụng trước đây ở Việt Nam. Một số vấn đề nữa rất quan trọng là nếu như trước đây, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ biết sản xuất thụ động theo sự chỉ định kế hoạch của cấp trên, không 12 cần đầu tư cải tiến, tìm hiểu thị trường, xúc tiến quảng cáo, tiếp thị; sản phẩm sản xuất ra không có sự cạnh tranh, … thì với sự xuất hiện của các doanh nghiệp này đã trở thành nhân tố tác động mạnh mẽ làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo hướng tích cực và ngày càng thích nghi với nền kinh tế thị trường. Nhiều sản phẩm được sản xuất ra từ các doanh nghiệp này có chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng hơn hẳn so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp trong nước. Không những thế, các doanh nghiệp này lại còn dành dự quan tâm đáng kể cho các công tác nghiên cứu thị trường, tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại,…. Như vậy, sự có mặt của các doanh nghiệp này dã đương nhiên đặt các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam trước hoàn cảnh bắt buộc tham gia cạnh tranh về mọi mặt để xác định hoặc tồn tại để phát triển hoặc phá sản. Muốn vậy, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải thay đổi một cách căn bản từ công nghệ, phương thức sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ người lao động. Cứ như vậy, một mặt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện tiếp cận và bắt nhịp được vào quỹ đạo của sự phát triển. Mặt khác, người tiêu dùng lại có lợi hơn. Đồng thời, qua đó chúng ta học tập và rút kinh nhiệm được nhiều mô hình quản lý tiên tiến và các phương thức kinh doanh hiện đại đã được áp dụng trong các DNLD có vốn ĐTNN ở một số lĩnh vực. Thứ hai, DNLD tham gia tích cực vào cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và mở rộng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Nhờ có lợi thế trong hoạt động trên thị trường thế giới nên tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các DNLD cao hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và cao hơn cả các doanh nghiệp trong nước. Sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp này thời gian qua chủ yếu là hàng tiêu dùng như dệt may, da giầy, điện tử, hàng nông lâm thủy sản chế 13 biến. Phần đóng góp này tuy chưa đáng kể nhưng nếu xét trong bối cảnh vốn đầu tư thực hiện còn thấp, nhiều dự án khác tập trung vào sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu thì kết quả trên là đáng khích lệ. Cùng với quá trình phát triển, mức đóng góp vào ngân sách thông qua việc nộp các loại thuế theo quy định của nhà nước Việt Nam, các DNLD đã có đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước góp phần nâng cao khả năng chủ động của nhà nước ta trong việc cân đối ngân sách. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn tạo ra nhiều hàng hóa cung ứng cho thị trường trong nước, góp phần thay thế hàng nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước. Thứ ba, DNLD góp phần tạo ra một khối lượng lớn việc làm cho người lao động, góp phần hình thành cơ chế thúc đẩy việc nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam, tham gia phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Tạo ra nhiều việc làm cho lao động trong nước là một trong những mục tiêu đặt ra khi thực thi chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đến nay, ta thấy đây là mục tiêu mà chúng ta đã thu được kết quả cao hơn so với một số mục tiêu khác. Thứ tư, hoạt động của DNLD đã thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hướng mở cửa và hội nhập tương đối có hiệu quả. Khu vực kinh tế này đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta. Nhờ có hoạt động của khu vực kinh tế này mà các mối liên kết kinh tế song phương, đa phương của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới đã được thiết lập và củng cố. Với sự ra đời của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế này, Việt Nam đang từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, mở rộng bạn hàng và thị phần ở nước ngoài. Đối với những hàng hóa xuất khẩu của các doanh nghiệp này đã biến các bạn hàng 14 truyền thống của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thành bạn hàng của Việt Nam. Đối với Việt Nam, mặc dù yêu cầu mở rộng thị phần là rất lớn và cấp bách nhưng do hạn chế về năng lực tiếp thị quốc tê, trình độ công nghệ và quản lý nên rất khó khăn khi trực tiếp giải quyết vấn đề này. Công việc này đối với các nhà đầu tư nước ngoài lại rất có ưu thế vì họ là người tương đối am hiểu thị trường thế giới, có các cơ sở tiếp thị ở những thị trường quan trọng có tiềm lực về vốn và công nghệ, có sẵn những mối làm ăn cũng như kinh nghiệp buôn bán, có nhiều thủ thuật để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Đây là cơ hội cho Việt Nam tiếp cận với thị trường quốc tế một cách thuận lợi hơn. Qua đó từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 1.2 Các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài 1.2.1. Quan niệm về cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài Trong Từ điển tiếng Việt, từ “Cơ chế” được giải nghĩa là “cách thức theo đó một quá trình được thực hiện”. Trong lĩnh vực quản lý, “Cơ chế” được hiểu là tổng thể các phương thức, các biện pháp, các công cụ được vận dụng để tác động lên một hệ thống liên kết, điều hòa phân phối hoạt động giữa các bộ phận trong hệ thống nhằm đạt những mục tiêu của quá trình quản lý nói chung và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và DNLD với nước ngoài đều là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao động để tạo ra hàng hóa, các dịch vụ để thu lợi nhuận . Quá trình hoạt động của doanh nghiệp, DNLD là quá trình tạo lập, phân
- Xem thêm -