Hoàn thiện chiến lược thị trường phần mềm cho công ty s3i

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG PHẦN MỀM VIỆT NAM 1.1. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG PHẦN MỀM 1.1.1. Quy mô của thị trường phần mềm * Quá trình hình thành và phát triển của thị trường phần mềm Việt Nam 5 năm đã qua kể từ khi Bộ Chính trị ra Chỉ thị 58/CT-TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và Chính phủ ra Nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về việc xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm trong đó xác định “công nghiệp phần mềm là ngành công nghiệp được đặc biệt khuyến khích đầu tư, Nhà nước áp dụng mức ưu đãi cao nhất cho các doanh nghiệp làm công nghiệp phần mềm”, đến nay có thể nói công nghiệp phần mềm đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ, tuy nhiên ngành công nghiệp non trẻ này cũng đang đối mặt với không ít khó khăn. Nhờ những cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hiệp hội, trong 5 năm qua ngành công nghiệp phần mềm đã có nhiều khởi sắc. Suốt từ năm 2000 đến nay công nghiệp phần mềm luôn giữ mức tăng trưởng với tốc độ khá cao, trung bình khoảng 35% năm, gần gấp 3 lần tốc độ phát triển trung bình của toàn ngành công nghiệp. Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh (HCA) cho thấy đến nay cả nước có khoảng 720 doanh nghiệp phần mềm đang thực sự hoạt động, thu hút được hơn 20.000 lao động phần mềm chuyên nghiệp. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp phần mềm năm 2005 ước đạt khoảng 250 triệu USD, trong đó có khoảng 70 triệu USD xuất khẩu. như vậy quy mô ngành công nghiệp phần mềm nước ta cả về lực lượng lao động lẫn tổng doanh thu hiện nay đã tăng lên gấp 4 lần so với năm 2000, đó thực sự là một bước phát triển tốt với một ngành công nghiệp mới như công nghiệp phần mềm ở Việt Nam. Hơn nữa, một số chuyên gia còn cho rằng phương 1 pháp thống kê nói trên chưa đầy đủ, còn bỏ sót một số lĩnh vực như chưa tính lực lượng làm phần mềm bán chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị không chuyên công nghệ thông tin. Lực lượng này cũng khá đông, hàng năm, sản xuất, cung cấp không ít các sản phẩm, dịch vụ phần mềm “in house” theo kiểu tự cung tự cấp để phục vụ cho hoạt động của cơ quan, đơn vị mình. Theo các chuyên gia này, nếu tính hết quy mô ngành phần mềm Việt Nam hiện đã có hơn 30.000 lao động, với doanh số quy đổi lên tới trên 350 triệu USD. * Tình hình phát triển của các doanh nghiệp phần mềm Đi sâu vào tình hình phát triển của các công ty phần mềm, có thể thấy vài năm gần đây công nghiệp phần mềm Việt Nam đang chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô của nhiều doanh nghiệp, điển hình trong đó có các công ty lớn như FPT và TMA với mức tăng trưởng nhân lực 75 – 100%/năm. Mặc dù công nghiệp phần mềm mới chỉ là một ngành công nghiệp non trẻ nhưng đã và đang có nhiều doanh nghiệp nỗ lực hết mình để được công nhận trên thị trường trong nước cũng như quốc tế bằng cách đạt được những chứng chỉ về quy trình uản lý chất lượng phần mềm uy tín trên thế giới như CMMI hoặc CMM… là những chứng chỉ uy tín được chấp nhận trên toàn thế giới. STT 1 2 Chứng chỉ CMMI – 5 5 Số doanh nghiệp 2 (FPT và PSV) CMM – 3 hoặc CMM – 4 3 ISO 9001 35 Bảng thống kê số doanh nghiệp phần mềm Việt Nam đạt được các chứng chỉ uy tín về quản lý chất lượng phần mềm 2 (Nguồn: www.vinasa.org.vn) Trong đó:  CMMI-5 (Capability Maturity Model Integration) là chứng chỉ cao nhất về quy trình quản lý chất lượng sản xuất phần mềm quốc tế do tổ chức Quality Assurance Institute - Ấn Độ thực hiện.  CMM (Capalility Maturity Model) là chuẩn quốc tế đánh giá năng lực sản xuất của một tổ chức phát triển phần mềm do tổ chức Quality Assurance Institute - Ấn Độ thực hiện.  ISO 9001 là chứng chỉ về quản lý chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, có rất nhiều doanh nghiệp khác cũng đang cố gắng phấn đấu để lấy chứng chỉ CMM, CMMI hoặc ISO vào những năm tới. Đây là những dấu hiệu rất đáng mừng về năng lực phát triển của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam. Theo thống kê của Hiệp hội các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam VINASA năm 2004 thì Việt Nam có khoảng 2500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phần mềm, tuy nhiên chỉ có khoảng hơn 700 doanh nghiệp là hoạt động thực sự và có hiệu quả. Tháng 8 năm 2004, VINASA đã tiến hành một cuộc tổng điều tra tại hơn 1000 doanh nghiepẹ phần mềm trong nước và đã thu được các số liệu thống kê cụ thể về loại hình doanh nghiệp, quy mô lao động cũng như doanh thu bình quân 1 năm của các doanh nghiệp phần mềm như sau: STT 1 Loại hình doanh nghiệp Công ty cổ phần Tỷ lệ 86% Công ty TNHH 2 3 Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp Nhà nước Công ty liên doanh Công ty 100% vốn nước ngoài Tổng 3 6% 8% 100% STT 1 Loại hình doanh nghiệp 82% Tỷ lệ Ít hơn 50 người 2 3 STT 1 2 3 4 5 Từ 7,5 tỷ đến 15 tỷ 6 7 Nhiều hơn 50 người Từ 500 đến 1000 người Tổng 17% 1% 100% Doanh thu bình quân 1 năm Ít hơn 500 triệu Từ 500 triệu đến 75 triệu Từ 750 triệu đến 1,5 tỷ Từ 1,5 tỷ đến 7,5 tỷ 7% Tỷ lệ 35% 26,5% 19% 10% Từ 15 tỷ đến30 tỷ Trên 30 tỷ Tổng 2% 0.5% 100% Bảng số liệu thống kê của hơn 1000 doanh nghiệp phần mềm Việt Nam thaáng8 năm 2004 (Nguồn: www.vinasa.ỏg.vn) Từ những số liệu thống kê trên có thể nhận thấy một điều là các doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam hiện nay nhìn chung chỉ có quy mô nhỏ hoặc trung bình, quy mô nhân lực ít, doanh thu không nhiều… Những mặt yếu kém trên đã phần nào có tác động tiêu cực đến sự phát triển của cả ngành công nghiệp phần mềm trong những năm tới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phần mềm vẫn còn một số mặt yếu kém khác như: 4  Chưa có nhiều sản phẩm đạt tầm giải pháp đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của các đối tượng khách hàng.  Chưa chú trọng khâu thiết kế, phát triển sản phẩm hướng đến người sử dụng mà chỉ thiên về công nghệ tạo sự cách biệt giữa người sử dụng và người sản xuất.  Chất lượng và độ ổn định của các sản phẩm phần mềm không cao.  Không có các qy trình kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Rất ít doanh nghiệp phần mềm trong nước có được quy trình triể khai ứng dụng trong doanh nghiệp một cách khoa học, dẫn đến rủi ro cao trong quá trình triển khai và thường kéo dài tiến độ.  Chưa có sự phối hợp với các đơn vị sản xuất phần cứng, dẫn đến đổ thừa trách nhiệm cho nhau khi phần mềm xảy ra sự cố, gây khó khăn cho khách hàng.  Đội ngũ chuyên gia phần mềm bậc cao còn ít.  Chưa có kinh nghiệm Marketing  Chưa đủ năng lực tài chính để có thể tăng mức đầu tư cho các hoạt động Marketing, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Thống kê của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh HCA cho thấy số doanh nghiệp chi cho Marketing từ 10% đến 20% tính trên tổng chi phí chỉ vào khoảng 27%. Thống kê này cũng cho thấy có đến 33% doanh nghiệp có tổng chi phí cho cả đào tạo phát triển nguồn nhân lực lẫn chi cho nghiên cứu phát triển chỉ dưới mức 5% so với tổng chi phí, và cũng chỉ có 27% doanh nghiệp chi trên 10% cho các hoạt động này. Sự thiếu đầu tư nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm và nguồn nhân lực là nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh yếu của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam. Hơn nữa, tâm lý “muốn làm tất cả từ A đến Z” với mong muốn kiếm siêu 5 lợi nhuận bán phần mềm đóng gói cho nhiều khách hàng đã khiến cho không ít doanh nghiệp phần mềm Việt Nam không lượng đúng sức mình khi tham gia thị trường phần mềm đóng gói rất cạnh tranh, mà bỏ qua thị trường làm dịch vụ phần mềm còn khá rộng. Về năng lực hoạt động của các doanh nghiệp phần mềm thì có khoảng 29% doanh nghiệp hoà vốn sau 2 năm thành lập. Đây là một tỉ lệ tương đối tốt, nhưng cũng có tới 28% doanh nghiệp hoà vốn sau từ 3 đến 4 năm. Số doanh nghiệp phần mềm có lãi hàng năm từ 10% đến 30% chiếm tỉ lệ 42%, từ đó cho thấy đa số doanh nghiệp phần mềm có thể khẳng định sự thành công ban đầu của mình. Tuy nhiên, chỉ có 13% doanh nghiệp phần mềm có doanh thu cao hơn chi phí từ 30% đến 50%. Đây không phải là một tỉ lệ khích lệ trong bối cảnh công nghiệp phần mềm Việt Nam trong giai đoạn đầu phát triển. Thống kê cũng cho thấy các doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn thường đã có thời gian hoạt động trên 5 năm. Sự tăng tốc đều đến ở giai đoạn sau năm hoạt động thứ 5 trở đi. Các doanh nghiệp này thường có định hướng xây dựng thị trường, chuyên môn hoá cao, rất chuyên nghiệp trong lĩnh vực gia công phần mềm và dịch vụ, từ đó qản bá được năng lực, bước đầu xây dựng được thương hiệu riêng. Nhu cầu từ thị trường ngoài nước hiện đang tăng trưởng mạnh, và doanh nghiệp phần mềm quy mô lớn càng có cơ hội kiếm được nhiều khách hàng. Với các cơ sở xây dựng được 5 năm qua, cộng thêm sự hỗ trợ của Nhà nước, chắc chắn giai đoạn tới sẽ có sự bùng nổ phát triển của các doanh nghiệp phần mềm hàng đầu. * Hoạt động phát triển nguồn nhân lực Chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin mấy năm qua đã bắt đầu phát huy tác dụng. Công nghệ thông tin là một trong số các ngành được mở ở nhiều trường đại học nhất hiện nay. Tất cả các trường đại học, cao đẳng dân lập và hầu hết các trường đại học công lập về khoa học, kỹ thuật tại Việt Nam đều có đào tạo cử nhân/ kỹ sư công nghệ thông tin. Hằng năm, lực lượng này có thể cung 6 ứng cho thị trường 7.000 – 10.000 chuyên viên công nghệ thông tin, gần ngang với chỉ tiêu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đặt ra cho hệ thống đào tạo chính quy tại các trường đại học. Nhân lực phần mềm Việt Nam được đánh giá là năng động, thông minh, có kiến thức cơ bản, có khả năng đào tạo nâng cao trình độ nhanh, dễ thích nghi với điều kiện làm việc cường độ cao, và có giá nhân công thấp. Tuy nhiên lao động Việt Nam phần lớn còn thiếu kinh nghiệm, kỹ thuật chuyên sâu và trình đột iếng Anh. Đặc biệt hiện nay công nghiệp phần mềm Việt Nam rất thiếu các chuyên gia giỏi về quản trị dự án, thiết kế giải pháp, quản trị Marketing, đảm bảo chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, còn bất cập, mất cân đối, chưa có nhiều giáo viên có kinh nghiệm thực tế làm phần mềm; cơ sở phòng thí nghiệm, thiết bị cho đào tạo thực hành còn sơ sài. Điều này khiến cho nhiều sinh viên tốt nghiệp còn thiếu hoặc yếu cả về kiến thức chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp, làm việc trong môi trường công nghiệp. Vì nhân lực được coi là chìa khoá cho sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm vốn còn non trẻ của Việt Nam nên Nhà nước cần có những chính sách ưu đãi cũng như nhiều biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng giáo dục nhân lực cho ngành phần mềm trong tương lai. * Khái quát thị trường trong nước Phần mềm là một bộ chương trình các chỉ thị điện tử ra lệnh cho máy tính thực hiện một điều nào đó theo yêu cầu của người sử dụng. Chúng ta không thể thấy hoặc sờ được phần mềm, mặc dầu ta có thể hiển thị được chương trình trên màn hình hoặc máy in. Phần mềm có thể được ví như hồn của máy tính mà phần cứng của nó được xem như phần xác. Thị trường phần mềm Việt Nam có một khoảng trống rất lớn giữa người tiêu thụ có nhu cầu về phần mềm tiếng Việt (cá nhân, các cơ quan, xí nghiệp…) và những nhà lập trình sản xuất ra phần mềm phục vụ cho các nhu cầu đó. Phần mềm máy tính là một sản phẩm đặc biệt không thể bày 7 bán và tiếp thị theo kiểu thông thường như các sản phẩm khác. Người mua cần những thông tin chính xác và đầy đủ về các tính năng, đặc điểm, cách sử dụng của chương trình hơn là dựa vào các giác quan của mình khi chọn lựa. Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm đang kinh doanh phần mềm của mình theo kiểu hàng hoá bình thường, chỉ chú trọng quảng cáo về cảm quan hơn là cung cấp thông tin đầy đủ nên vẫn không thể làm cho nhiều người biết về phần mềm của mình. Điều này dẫn đến tình trạng cung và cầu không gặp nhau, phần mềm viết ra không bán được, còn người sử dụng thì không biết mua phần mềm nào để dùng. * Cung phần mềm Thị trường phần mềm Việt Nam hienẹ nay được cung ứng bởi 2 lực lượng chủ yếu là các doanh nghiệp phần mềm trong nước và các doanh nghiệp phần mềm nước ngoài.  Các doanh nghiệp phần mềm trong nước Hiện này Việt Nam có khoảng hơn 2500 doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phần mềm nhưng chỉ có khoảng hơn 700 doanh nghiệp là hoạt động thực sự. Phần lớn những doanh nghiệp phần mềm này là những công ty có qy mô vừa và nhỏ, quy mô lớn chỉ chiếm rất ít, khoảng 1% trong tổng số. Với năng lực quản lý và kinh doanh yếu kém, trình độ nguồn nhân lực lại có hạn nên mặc dù chiếm ưu thế là số đông các nhà cung ứng nhưng chỉ chiếm giữ được thị phần nhỏ so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài của mình. Khảo sát của hội tin học thành phố Hồ Chí Minh HCA cho thấy có 69% số doanh nghiệp phần mềm chủ yếu định hướng thị trường trong nước (thị trường trong nước chiếm từ 70% trở lên), và 28% số doanh nghiệp định hướng thị trường ngoài nwocs (thị trường ngoài nước chiếm từ 70% trở lên). Điều này phản ánh một thực tế phần nhiều doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chưa dám (hoặc chưa đủ sức) vươn ra thị trường nước ngoài, tuy 8 nhiên, nó cũng cho thấy hiện tại thị trường trong nước vẫn cần được xem là thị trường quan trọng.  Các doanh nghiệp phần mềm nước ngoài Đây là những tập đoàn phần mềm lớn trên thế giới, có uy tín cũng như kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh phần mềm nhiều năm. Sản phẩm phần mềm của họ tiếp cận thị trường Việt Nam chủ yếu là phân phối gián tiếp, thông qua các nhà nhập khẩu trung gian. Mặc dù số lượng các doanh nghiệp phần mềm nước ngoài không nhiều nhưng họ lại chiếm được phần lớn thị phần trong nước. Nguyên nhân là họ hơn các doanh nghiệp phần mềm trong nước về mọi mặt, từ quy mô doanh nghiệp, khả năng tài chính… cho đến các hoạt động nghiên cứu và triển khai Marketing. Có thể kể đến một số nhà cung cấp phần mềm tên tuổi như Microsoft, Oracle… * Cầu phần mềm Hiện nay, phần lớn cầu thị trường phần mềm chủ yếu vẫn dựa vào sức mua của các tổ chức và doanh nghiệp nhà nước bao gồm các Tổng công ty lớn, các cơ quan Chính phủ, các ngân hàng, trường học, bệnh viện hay những tổ chức khác… Khi quyết định sử dụng một phần mềm quản lý, doanh nghiệp thường đứng trước nhiều sự lựa chọn. Bên cạnh những sự lựa chọn như sẽ sử dụng phần mềm của nhà cung cấp giải pháp nào? Mức giá phần mềm như thế nào thì phù hợp… Còn có một sự lựa chọn rất đáng quan tâm đó là nên mua một phần mềm đóng gói hay là đặt hàng giải pháp theo yêu cầu của mình và gửi đến một công ty nào đó. Phần mềm đóng gói cũng có những cái hay, cái không hay mà phần mềm đặt hàng theo yêu cầu cũng thế. Vì sự lựa chọn này sẽ có những tác động rất lớn trong quá trình khai thác và sử dụng về sau nên doanh nghiệp cần thiết phải có những nguồn thông tin tham khảo.  Phần mềm đóng gói 9 Phần mềm đóng gói là một phần mềm được các nhà sản xuất đầu tư nghiên cứu, tổng hợp từ những lần khảo sát nhu cầu thực tế các nghiệp vụ hoặc một số lĩnh vực nào đó của doanh nghiệp. Từ những thông tin khảo sát thu nhập các dữ liệu đồng thời kết hợp với những chuẩn mực, nghiệp vụ đặc trưng của doanh nghiệp, nhà sản xuất sẽ tập hợp thành những điểm chung và xây dựng nên một mô hình tổng thể, thống nhất khả dĩ thích ứng với các doanh nghiệp ở một mức độ nào đó. Phần mềm đóng gói có thể được phân ra thành hai nhóm chính: Nhóm phần mềm thích ứng sử dụng được ở tất cả các ngành nghề và nhóm phần mềm chuyên dụng cho những ngành nghề riêng. Đối với nhóm thứ nhất, các phần mềm đóng gói thường chỉ đáp ứng một phần nhỏ trong toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp ví dụ: các phần mềm đóng gói như phần mềm bán hàng, quản lý nhân sự, quản lý công nợ…. Đối với nhóm thứ hai, các phần mềm có phạm vi ứng dụng lớn hơn trong một doanh nghiệp hoạt động trong nhóm ngành nghề đó. Ví dụ: các phần mềm đóng gói phục vụ quản lý cho ngành may mặc, xây dựng… Phần mềm đóng gói cũng giống như các sản phẩm tiêu dùng khác, nghĩa là khi doanh nghiệp mua về sẽ mang vào sử dụng mà ít được quyền yêu cầu chỉnh sửa những gì đã có và chỉ sử dụng những tiện ích đang có mà thôi.  Phần mềm đặt hàng theo yêu cầu Số lượng doanh nghiệp đặt hàng phần mềm theo những yêu cầu riêng, xuất phát từ thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh rất lớn. Có một thực tế là đa số phần mềm đóng gói chỉ giải quyết được một phần nào đó trong hàng loạt yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc đặt hàng phần mềm cho một nhà cung cấp giải pháp, doanh nghiệp sẽ nhận được những hỗ trợ khá chu đáo trong quá trình triển khai ứng dụng vào công tác bảo trì, nâng cấp phần mềm… Phần mềm đặt hàng theo yêu cầu sẽ được các nhà cung cấp thiết kế, xây dựng thích ứng những đặc điểm, quy trình hoạt động mà doanh nghiệp 10 đang áp dụng. Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ tiếp cận với các tiện ích của phần mềm. Quy trình sản xuất, kinh doanh không bị xáo trộn nhiều. Vì những lợi ích mang tính thiết thực và gần gũi như thế nên các nhà cung cấp giải pháp thường tính giá khá cao, thêm vào đó là các chi phí về triển khai, nâng cao ứng dụng trong tương lai và thường thì, doanh nghiệp có thể phải đặt mối liên hệ lâu dài với nhà cung cấp phần mềm… Phần mềm đặt hàng cũng có nhiều hình thức. Có loại chỉ đáp ứng và chuyên sâu cho một lĩnh vực hoạt động nào đó, có loại thì bao quát và hỗ trợ tổng thể toàn bộ quy trình quản lý và các công đoạn sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Tiêu chí STT 1 Phần mềm đặt hàng Phần mềm đóng gói Đặc điểm 1. Hướng đến những nghiệp vụ chức năng mang tính tổng quát, chung của các doanh nghiệp 2. Giải quyết những vấn đề mang tính chung đó, khó đi sâu và bao quát hết tất cả những đặc điểm của đa số doanh nghiệp. 3. Có thể áp dụng được nhiều nơi, rộng khắp cho nhiều ngành, nhiều công ty. 4. Thời gian triển khai ít, dễ cài đặt, sử dụng, với một hệ thống công cụ giúp đỡ và 11 không phức tạp lắm về mặt chức năng. 1. Đa phần chỉ hướng đến và đáp ứng những nhu cầu đang có của khách hàng. 2. Giải quyết triệt để những yêu cầu đó. 3. Thường chỉ đáp ứng riêng cho đơn vị đặt hàng, còn rất khó đáp ứng cho các doanh nghiệp khác. Hướng đến nhiều doanh nghiệp, 2 các nghiệp vụ Mục đích chuẩn, mang tính chung. ứng dụng Hướng đến nhu cầu cụ thể, thực tế của một doanh 3 4 Khả năng ứng dụng Phạm vi cả, chi phí 6 7 nào đó trong số các nhu các yêu cầu của doanh cầu. Rộng, nhiều ngành… ứng dụng 5 Giá nghiệp. Giải quyết được một phần Giải quyết khá triệt để nghiệp đặt hàng. Hẹp, thường chỉ một doanh nghiệp. Đắt hơn, nhiều hơn Rẻ hơn, ít hơn. Sự hỗ trợ Ít hơn, kém hơn. Khả năng Cập nhật theo phiên bản phát triển 12 Nhiều hơn, tốt hơn. Có thể thực hiện ngay. Bảng so sánh giữa phần mềm đóng gói và phần mềm đặt hàng (Nguồn: Theo tạp chí Tin học và Đời sống) Chọn phần mềm đóng gói hay sẽ đặt hàng giải pháp cho một nhà sản xuất phần mềm nào đó? Đây là một trong những vướng mắc thường xuất hiện khi doanh nghiệp đặt ra nhu cầu tin học hoá hay ứng dụng phần mềm phục vụ công tác quản lý, điều hành. Cả hai đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng vì thế sẽ có những tác động khác nhau đối với doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực nhỏ, hẹp với quy mô không lớn với các nghiệp vụ, chức năng hoạt động ổn định, theo chuẩn mực như: bán hàng, dịch vụ kho bãi, xuất nhập khẩu… vì mức đầu tư cho các phần mềm quản lý có thể không nhiều, nên hướng đến các giải pháp đóng gói. Điều đó sẽ giúp cần đối giữa vấn đề chi phí và hiệu quả khai thác phần mềm. Đối với các doanh nghiệp có quá nhiều điểm riêng biệt trong hoạt động và có thể thay đổi quy trình bất cứ lúc nào thì nên hướng đến việc sử dụng phần mềm đặt hàng theo yêu cầu quản lý cho một nhà cung cấp giải pháp nào đó đồng thời thiết lập một kênh quan hệ với nhà cung cấp giải pháp này. Tuy nhiên, để thích ứng với nhu cầu của thị trường các nhà cung cấp giải pháp ngày nay bên cạnh phân ra các sản phẩm đóng gói và các phần mềm sản xuất theo đơn đặt hàng thì họ đã tích cực kết hợp hai phân loại này thành một thể thống nhất và linh động hơn. Nghĩa làm họ vừa là sản phẩm đóng gói, đưng đồng thời cũng bỏ ra một khoản đầu tư thích ứng để các sản phẩm đóng gói đó sau một số bước chỉnh sửa, cập nhật sẽ trở thành một sản phẩm dưới dạng phần mềm theo đơn đặt hàng. Điều này vừa giúp ích cho nhà sản xuất đồng thời cũng mang lại cho người dùng nhiều tiện ích thuận lợi và dễ dàng hơn trong vấn đề lựa chọn phần mềm. * Khái quát thị trường ngoài nước (xuất khẩu phần mềm) 13 Đối với thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam chủ yế cung cấp dịch vụ software outsourcing – gia công phần mềm. Một số doanh nghiệp muốn tham gia thị trường gia công phần mềm cần phải đầu tư nghiên cứu phát triển để có được một trình độ chuyên môn sâu, hiểu rõ quy trình nghiệp vụ để phân tích và thực hiện đúng yêu cầu của bài toán đặt ra, đồng thời phải có một quy trình đảm bảo chất lượng đáp ứng được yêu cầu của đối tác. Doanh nghiệp phần mềm hoàn toàn có thể thông qua các dự án làm gia công phần mềm cho đối tác nước ngoài để nâng cao năng lực sản xuất, khả năng nghiên cứu phát triển và quy trình quản lý chất lượng, từ đó có thể xây dựng được thương hiệu, khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Kinh nghiệm của Ấn Độ, Ailen, Trung Quốc cho thấy các doanh nghiệp phần mềm lớn của các quốc gia này đều đi lên từ cung cấp dịch vụ phần mềm (gia công phần mềm) chứ không phải là làm phầm mềm đóng gói. Thực tế, ở Việt Nam các doanh nghiệp phần mềm lớn và thành công hiện nay cũng đều là những doanh nghiệp định hướng làm gia công phần mềm cho nước ngoài. Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế xếp hạng thứ 20 trong số 25 các quốc gia hấp dẫn về gia công phần mềm. Nếu như các doanh nghiệp định hướng thị trường nội địa gặp khó khăn về thông tin (thiếu việc làm), thì khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp định hướng thị trường gia công phần mềm lại không phải là thiếu việc làm mà thiếu người làm. Quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp phần mềm làm gia công phần mềm là phát triển nguồn nhân lực và nâng cao quy trình quản lý chất lượng. Các thị trường lớn của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam hiện nay là Bắc Mỹ và Nhật Bản, trong đó Nhật Bản đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm do sự quan tâ của Chính phủ và doanh nghiệp Nhật đốiv ới doanh nghiệp phần mềm Việt Nam, cũng như các thuận lợi về văn hoá, địa lý. Hiện nay quan tâm chung lớn nhất của các doanh nghiệp phần mềm để phát triển thị trường nước ngoài là hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng hình ảnh hương 14 hiệu chung cho công nghiệp phần mềm Việt Nam trên trường quốc tế, ưu tiên thứ hai là tổ chức các hội trợ triển lãm quốc tế về phần mềm ở Việt Nam thay vì tham gia các cơ hội triển lãm ở nước ngoài. * Vấn đề sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm Theo khảo sát đánh giá của Liên minh phần mềm thương mại (BSA), hiện nay Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm cao nhất thế giới (95% năm 2002; 92% năm 2004). Sự vi phạm sở hữu trí tuệ xảy ra trong hầu hết các môi trường, từ người dùng cá nhân, doanh nghiệp và thậm chí cả trong các cơ quan Nhà nước. Vi phạm sở hữu trí tuệ không chỉ xảy ra đối với các phần mềm nước ngoài có giá bản quyền khá cao so với thu nhập bình quân của Việt Nam, mà cũng xảy ra đối với các sản phẩm trong nước với mức giá khá hợp lý. Sự vi phạm sở hữu trí tuệ về phần mềm gây ra nhiều tác động xấu về mặt kinh tế cũng như xã hội, tuy nhiên cho đến nay tình trạng này vẫn chưa được cải thiện. * Một số Công ước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Tính cho đến nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của 3 tổ chức lớn trên thế giới về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Bao gồm:  Công ước Stockholm Đây là Công ước về việc thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, ký tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967, tên viết tắt là WIPO. WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh pháp luật và quản lý sở hữu trí tuệ. Việt Nam là thành viên của WIPO từ ngày 02 tháng 7 năm 1976.  Công ước Paris Công ước này được ký tại Paris năm 1883, tính đến ngày 22 tháng 06 năm 1999 đã có tới 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08 tháng 03 năm 1949. 15  Công ước Berne Đây là công cụ quốc tế đầu tiên để bảo vệ bản quyền, được thông qua năm 1986 tại một Hội nghị Ngoại giao triệu tập theo sáng kiến của Chính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ. Văn phòng liên bang Bern thành lập tại Bern năm 1887 đã nhanh chóng sát nhập với Văn phòng của Công ước Paris về Sở hữu Công nghiệp (1883) thành BIRPI (Các văn phòng thống nhất về Bảo vệ Sở hữu Trí tuệ). Việt Nam đã chính thức tham gia vào Công ước Berne từ ngày 26 tháng 10 năm 2004. Đaâ là Công ước bảo hộ quyền tác giả của không chỉ lĩnh vực văn học mà còn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mà cụ thể là phần mềm. Như vậy, xét về khía cạnh quản lý vĩ mô mà nói, Việt Nam đã có được những định hướng đúng đắn trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ từ rất sớm nhưng hiệu quả mang lại từ những nỗ lực trên lại không cao. Vậy nguyên nhân là từ đâu? Từ sự yếu kém trong công tác quản lý vĩ mô? Từ thái độ thờ ơ, bất chấp luật pháp của người tiêu dùng? Hay là từ chính những doanh nghiệp cung ứng phần mềm? * Thực trạng tại việt Nam Xét trên một số phương diện và ở một giai đoạn cụ thể nào đó, sự vi phạm sở hữu trí tuệ có thể đem lại những lợi ích nhất định cho các quốc gia đang phát triển. Vi phạm sở hữu trí tuệ phần mềm cho phép các quốc gia nghèo có thể tiếp cận với tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin, những thành quả của nhân loại mà họ sẽ không thể có điều kiện tiếp canạ nếu phải nghiêm chỉnh thực hiện việc chi trả phí bản quyền. Đaâ cũng là một cơ hội cho những tầng lớp dân nghèo, những người có thu nhập thấp, sinh viên, học sinh có điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin. Tuy nhiên sự vi phạm sở hữu trí tuệ về phần mềm tràn lan cả trong các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đã gây ra những hậuq ủa nghiêm trọng cho nền kinh tế và cho cả xã hội. 16 Tỷ lệ vi phạm bản quyền cao làm nhiều công ty phần mềm bị thua lỗ, điều này làm cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước không muốn đầu tư vào công nghiệp phần mềm tại Việt Nam, hậu quả là công nghiệp phần mềm không thể phát triển được. Kinh nghiệm của nhiều nước thành công về công nghiệp công nghệ thông tin trên thế giới cho thấy họ đều rất nỗ lực trong việc giảm tỷ lệ vi phạm sở hữu trí tuệ phần mềm. Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu phối hợp của IDC và BSA, cho dù ngành công nghệ thông tin còn nhỏ cả về quy mô cũng như đóng góp cho GDP, nhưng nếu từ 2002 đến 2006 tỉ lệ vi phạm bản quyền giảm 10% thì tốc độ tăng trưởng sẽ đạt tới 146%. Ngoài ra, việc mua bán các phần mềm lậu với giá rất “bèo bọt” còn làm cho Nhà nước thất thu một khoản thuế lớn từ hoạt động kinh doanh phần mềm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Không chỉ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp, bản thân người dùng cũng bị thiệt hại do sự vi phạm sở hữu trí tuệ phần mềm quá cao. Các nhà sản xuất phần mềm không muốn nghiên cứu phát triển sản phẩm mới trong hoàn cảnh vi phạm bản quyền tràn lan, hậu quả là người dùng không có nhiều sản phẩm tốt để sử dụng, xã hội không được hưởng những thành quả lẽ ra phải có của công nghiệp phần mềm. Sự nghèo nàn về các sản phẩm phần mềm nội dung giáo dục ở Việt Nam là một minh chứng cho điều này. Việc dùng các phần mềm lậu cũng làm cho người dùng mất đi cơ hội nhận được sự hỗ trợ từ nhà sản xuất cũng như việc thảo luận với họ để phát triển tiếp các sản phẩm mà mình yêu thích. Đó là chưa kể ccs phần mềm lậu thường là những phần mềm bẻ khoá không đầy đủ, chép thiếu file và hay chứa virus, do vậy tiềm ẩn những nguy cơ có thể dẫn đến những sự cố gây thiệt hại khó lường cho người sử dụng. Hơn nữa, sự tự do vi phạm bản quyền còn gây ra ý thức coi thường giá trị sáng tạo trí tuệ trong giới trẻ, nhất là trong tầng lớp sinh viên học sinh, điều này có thể làm nhụt chí các tài năng trẻ không muốn nỗ lực sáng 17 tạo và do vậy kìm hãm quá trình phát triển xã hội. Sự tự do vi phạm sở hữu trí tuệ cũng có thể gây nên một thói quen không tuân thủ pháp luật trong công dân, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh xã hội. Tỉ lệ vi phạm bản quyền cao còn làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia trên trường quốc tế, làm xấu đi hình ảnh tốt đẹp của nền văn hoá của Việt Nam, đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Noài ra sự vi phạm bản quyền phần mềm cao có thể làm chậm quá trình hội nhập quocó tế của đất nước. Nặng hơn nữa, sự vi phạm sở hữu trí tuệ quá cao có thể đặt đặt đất nước trước nguy cơ phải đối đầu với sự trừng phạt kinh tế khi các hiệp định thương mại song phương và đa phương có hiệu lực thực thi. * Nguyên nhân Vấn đề vi phạm bản quyền phần mềm của Việt Nam đã được đề cập nhiều trên báo chí cũng như tại nhiều hội thảo, tuy nhiên trong suốt mấy năm qua tình hình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm của Việt Nam tiến triển rất chậm, thậm chí còn xấu đi. Nguyên nhân của vấn đề này có thể do các quan điểm chưa đầy đủ và đúng đắn của các cơ quan liên quan cũng như của người dùng trong xã hội, do những bất cập trong vấn đề quản lý Nhà nước cũng như do mức thu nhập bình quân thấp của Việt Nam. Có thể khái quát được một số nguyên nhân chính làm cho tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm tràn lan ở Việt Nam hiện nay như sau:  Giá bản quyền phần mềm quá cao Hiện nay giá bản quyền phần mềm quá cao so với mức thu nhập còn khá khiêm tốn của người dân Việt Nam. Nếu so sánh giá một bản WindowXP khoảng 560USD với mức thu nhập đầu người hơn 400USD/năm thì chúgn ta có thể thấy việc vi phạm bản quyền là điều có thể hiểu được. Trong khi đó, phần mềm lậu với giá “bèo bọt” lại rất sẵn (thậm chí có thể yêu cầu nhà cung cấp máy tính cài thêm miễn phí). 18  Một số tổ chức, cá nhân như các cơ sở in sao băng đĩa trái phép và các cửa hàng kinh doanh băng đĩa lậu cố tình vi phạm sở hữu trí tuệ để trục lợi Hoạt động bẻ khoá, sao chép các phần mềm lậu nhằm mục đích kiếm lời bất chính là một hoạt động kinh doanh bất hợp pháp cần bị xã hội lên án và luật pháp nghiêm trị. Hiện tại các cơ quan chức năng đã có nhiều đợt truy quét các ổ sao chép trái phép cũng như các cửa hàng kinh doanh băng đĩa lậu, tuy nhiên do nhiều lý do như sự yếu kém về trình độ của các cán bộ, quan điểm chưa thật kiên quyết cảu các cơ quan chức năng…, nên các chiến dịch này chủ yếu mới chỉ nhằm vào các tác phẩm văn hoá mà chưa thực sự hiệu quả trong lĩnh vực phần mềm.  Các nhà lắp ráp máy tính trong nước thường cài đặt sẵn nhiều phần mềm lậu nhằm giảm giá thành máy bán ra cũng như để gia tăng giá trị máy tính Vì nếu tất cả các phần mềm cài trên máy đều được mua bản quyền thì giá máy có thể tăng thêm đến hàng trăm USD. Chỉ có một vài nhà lắp ráp máy tính thương hiệu lớn là có tuân thủ luật bản quyền, còn đại đa số các đơn vị lắp ráp máy tính thủ công (chiếm hơn 75% thị trường) thì hầu như hoàn toàn cài phần mềm lậu cho máy tính của họ. Việc chưa có các biện pháp mạnh để xử lý sự vi phạm sở hữu trí tuệ của các đơn vị lắp ráp cung cấp máy tính loại này làm cho tỉ lệ vi phạm bản quyền lại càng cao.  Các doanh nghiệp phần mềm chưa thực sự chủ động trong việc chống vi phạm bản quyền Quyền sở hữu trí tuệ là quyền dân sự, do vậy các doanh nghiệp phần mềm không nên ỷ lại trong chờ vào các biện pháp của nhà nước mà phải chủ động có các bienẹ pháp phòng, chống, phát hiện xâm phạm và khiếu kiện yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền can thiệp khi canà. Cho đến nay hầu như chưa có một đơn khiếu kiện của doanh nghiệp phần mềm Việt Nam nào được gửi đến cơ quan chức năng về việc vi phạm bản quyền phần 19 mềm (nếu người bị vi phạm không kêu thì ai xử?). Mặt khác, nhiều doanh nghiệp phần mềm cũng chưa thực sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, nhiều công cụ dùng để phát triển phần mềm vẫn bị sử dụng trái phép trong các doanh nghiệp sản xuất phần mềm. Hơn nữa, người dùng bình thường không thể nào dùng được các phần mềm lậu nếu chúng chưa được bẻ khoá, và người bẻ khoá chính là các chuyên gia phát triển phần mềm.  Các cơ quan chức năng chần chừ trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm Hầu như cho đến nay chưa có một hoạt động “mạnh” nào được các cơ quan có chức năng thực hiện. Nhà nước cũng chưa có một văn bản hay một chế tài nào chỉ đạo bắt buộc các cơ quan Nhà nước cũng như các doanh nghiệp phải sử dụng phần mềm có bản quyền. Sở dĩ còn tình trạng này là do trong các cơ quan chức năng hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược về vấn đề này. Những người có thái độ chần chừ cho rằng nếu thực thi nghiêm túc quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm phần mềm thì Nhà nước, các doanh nghiệp và người dân phải bỏ một khoản chi phí rất lớn để mua bản quyền các phần mềm, trong khi nước ta còn nghèo, thu nhập thấp, có rất nhiều khoản phải chi quan trọng hơn. Mặt khác, mức độ sử dụng công nghệ thông tin của nước ta chưa nhiều (chỉ khoảng 0.5USD/năm) nên dù tỉ lệ vi phạm bản quyền cao nhưng tổgn số tiền làm hại cho các hãng phần mềm lớn thế giới cũng chưa đến mức các hãng này và Chính phủ của họ phải mạnh tay đối với Việt Nam. Trong khi đó những người ủng hộ các biện pháp mạnh tay để bảo vệ bản quyền phần mềm cho rằng đó là những suy nghĩ thiển cậnh, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không tính đến những thiệt hại khổng lồ do tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm quá cao gây ra cho quốc gia như đã phân tích ở trên. Hơn nữa việc thực thi các điều kiện của các hiệp định thương mại song phương, đa phương cũng như quá trình gia nhập WTO không cho phép chúng ta tránh né vấn đề này lâu hơn nữa. 20
- Xem thêm -