Hình tượng nhân vật trung tâm

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 38 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN NGỮ VĂN TRƯƠNG VĂN TẢI MSSV: 6075452 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG THƠ VĂN CHỐNG PHÁP CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn:Phan Thị Mỹ Hằng Cần Thơ, 5-2011 A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Hãy giở những trang lịch sử hào hùng dân tộc Việt Nam ta, trong đó có biết bao anh hùng đã tạo nên những chiến công cho Tổ quốc. Đã bao đời đất nước ta có truyền thống chiến đấu chống giặc ngoại xâm, đã có Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…từng xông pha nơi chiến trận giết giặc cứu nước và có tấm lòng yêu dân tha thiết. Cũng có những anh hùng dùng ngòi bút của mình để chiến đấu, mà chiến đấu không mỏi mệt, rất hữu dụng. Đó là nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, một đời hành văn để chiến đấu, để răn đời, luôn là tấm gương sáng ngời trên bầu trời, một tư tưởng trinh bạch yêu nước thương dân nồng nàn. Là người con của vùng đất Nam bộ, chúng tôi rất lấy làm tự hào khi cảm nhận về sự nghiệp văn thơ và con người nhân nghĩa của Đồ Chiểu. Là một nhà Nho yêu nước chân chính, không gục ngã trước tật mù lòa của bản thân, ông đã dùng văn thơ của mình để chiến đấu như một thứ vũ khí sắc bén. Trong thời bình, văn thơ của ông luôn hướng con người đến với thiện, chính nghĩa. Cái lý tưởng ấy là điểm sáng của một thời xứng đáng để mọi người kính phục. Đến giặc Pháp xâm lược thì Nguyễn Đình Chiểu đau đớn, xót thương cho cảnh nước mất. Từ tấm lòng yêu nước nồng nàn đã hóa thành hành động đấu tranh đích thực, Nguyễn Đình Chiểu đã phản đối kịch liệt, có cái nhìn mới, đúng đắn về đường lối đấu tranh chống giặc. Tuy bị mù lòa nhưng ông luôn tỏa sáng với những áng văn chan chứa nghĩa tình và hào hùng. Ngòi bút của Cụ Đồ thật sự có thép khi đánh giặc, rất dũng mãnh, chưa từng rung sợ trước hiểm nguy: đâm mất thằng gian bút chẳng tà, đầy đủ sức mạnh đánh trực diện vào kẻ thù và bọn tay sai. Nhân cách của Nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không vì thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu. Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rõ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lý, thuận tình người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam. Nói về nhân vật trong tác phẩm văn học. Có nhiều loại hình nhân vật để đưa vào tác phẩm văn học. Trong đó, ta có thể biết đến các nhân vật: nhân vật chính, nhân vật phụ….Mỗi một nhà văn, nhà thơ có cách sử dụng các hình tượng nhân vật riêng nhưng cùng chung mục đích thể hiện điều mà tác giả muốn nói. Đối với nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu cũng thể hiện những gì muốn nói qua các nhân vật trong tác phẩm. Nhưng ở thơ văn yêu nước chống Pháp của ông đã tập trung chú ý xây dựng hình tượng nhân vật trung thể hiện tử tưởng, tâm trạng, và đặc biệt là làm vũ khí chiến đấu với kẻ thù. Qua hình tượng nhân vật trung tâm, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một bức tranh hiện thực và sinh động, mang những giá trị đẹp truyền thống của người Nam bộ. Sự nghiệp sáng tác của Đồ Chiểu qua hai giai đoạn, có thể nói hình tượng nhân vật trung tâm là sức mạnh để tạo nên dấu ấn, điểm sáng trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Qua đó ông đã khắc họa những con người đi vào lịch sử một cách tự nhiên mà hùng tráng, những trang sử ấy ghi dấu một thời đau khổ mà hiên ngang của dân tộc. Thật là ông đã thành công trong việc xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm, đã tạo nên một tấm gương sáng đến nay vẫn sáng và sẽ còn sáng mãi trên bầu trời Việt Nam. Đó cũng chính là minh chứng cho tinh thần yêu nước, yêu nòi gióng dân tộc nói chung và người Nam bộ nói riêng. Tất cả những điều ở trên là nguồn động lực để người viết lựa chọn và thực hiện đề tài hình tượng nhân vật trung tâm trong văn thơ chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu. Với khả năng còn hạn hẹp, chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp thêm một cách nhìn về Nguyễn Đình Chiểu để làm sáng tỏa thêm nhưng tinh hoa về ông. 2. Lịch sử vấn đề Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là tác giả tiêu biểu của vùng đất Nam Bộ mà còn là nhà thơ nổi tiếng cả trong và ngoài nước. Dù cuộc đời gặp nhiều bất hạnh nhưng không vì thế mà ông buông xuôi. Nguyễn Đình Chiểu đã khiến cho mọi người khâm phục cả về tài năng và ý chí vươn lên của bản thân ông. Phạm Văn Đồng nhận xét: “Trên trời có những vì sao có ánh sao khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy , và càng nhìn thì càng sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”. [4;36] có thể điểm qua một số nhà nghiên cứu, phê bình: Nguyễn Phong Nam, Trần Thanh Mại, Đặng Thai Mai…, nhận xét về Nguyễn Đình Chiểu ở nhiều lĩnh vực khác nhau qua một số công trình, các nhận định về Nguyễn Đình Chiểu: Cuốn “tác gia và tác phẩm” được đúc kết bằng các bài viết của các tác giả khác nhau. Trong đó, có đề cập đến nhân vật trung tâm trong thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu: Nguyễn Đổng Chi viết: “khi Pháp nhảy vào xâm lược Nam bộ, nguyễn Đình Chiểu đã đứng về phía nhân dân và thấy ở họ có cái đẹp mẫu mực, rất phù hợp với lý tưởng của ông. Lúc này ông tìm đối tượng cứu ở những người nông dân lao động, những người tuy đứng trước tương quan lực chênh lệch rất đáng sợ, nhưng vẫn dũng cãm, hiên ngang, một lòng một dạ với Tổ quốc. Nói chung, trước yêu cầu cấp bách phải giải quyết nạn nước, Nguyễn Đình Chiểu đã thấy họ là những người thực hiện lý tưởng đánh giặc cứu nước”.[16;189]Qua đây, ta thấy người viết đã đề cập về người “nông dân” trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu với tinh thần yêu nước nhiệt thành. Cũng trong cuốn này, Nam Mộc viết về “chở bao nhiêu đạo”, “đâm mấy thằng gian”…Nguyễn Đình Chiểu và văn học. ông bàn về những đạo đời, lòng tin tưởng của cuộc chiến đấu của dân tộc như ở nhân vật Nhân Sư, ông Ngư, Tiều có cuộc sống ẩn cư, thanh tao mà giữ đạo đời, yêu nước chân thành. Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta. Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người trên mặt trận văn hóa và tư tưởng.[21;211] Đó là những nhân vật trí thức ẩn cư trước thời cuộc gai mắt, nhưng họ rất yêu nước và bất hợp tác với kẻ thù một cách tuyệt đối. Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình” tác giả Tuấn Thanh và Anh Vũ đã giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu, và trích dẫn một số bài nghiên cứu, phê bình về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở các khía cạnh khác nhau. Bài viết của Đặng Thai Mai có nhận định: “thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là “khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp” ngay từ những ngày đầu chúng mới đặt chân lên xâm lược đất nước Việt Nam”. Cũng trong cuốn sách này, Hoài Thanh đã nhận xét về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: “từ ngày đất nước bị xâm lược” toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Từ tiếng chửi, lời ca tiếng khóc đến lời ước mơ đều hướng về một mục tiêu duy nhất toàn là chửi vào những chuyện bội bạc, hưởng phúc, dâm ô, chửi vào các loại Võ Thể Loan, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Chỉ còn một tiếng chửi Tây và những đứa theo Tây. Chính sự thay đổi về nội dung sẽ có sự thay đổi về nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, mặc dầu vậy, Nguyễn Đình Chiểu vẫn luôn hướng đến việc dạy đời, dạy người bằng các hình thức xậy dựng một mẩu người lí tưởng. Hoài Thanh trong quyển Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và dư luận – Nguyễn Đình Chiểu , một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là gương sáng ngời tinh thần bất khuất. Tinh thần ấy trãi qua hơn một thế kỷ chống ách thống thực dân đã đứng giữa tất cả mọi thứ phong ba bão táp. Tinh thần ấy giờ đây càng kiên cường, càng rực sáng hơn bao giờ hết. Miền Nam anh dũng tuyệt vời đang từng bước thực hiện ước mơ tha thiết nhất của nhà thơ yêu dân, yêu nước vĩ đại của miền Nam và của dân tộc Việt Nam. “Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam”, Vũ Khiêu – Nguyễn Đức Sự đã nghiên cứu về những truyền thống của người tri thức Việt Nam, sự ảnh hưởng của Nho giáo, việc vận dụng Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và thái độ của ông đứng trước nạn ngoại xâm, khái quát tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc sống và trong thơ văn của ông. Các tác giả đã viết: “…trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã luôn tỏa sáng một tinh thần lạc quan, lòng yêu quý nhân dân, niềm tin sâu sắc ở thắng lợi của chính nghĩa, ở tài năng và đạo đức của con người”[10;35]. Quyển “Lịch sử văn học Việt Nam tập 4A”. Giai đoạn I: 1858 – đầu thế kỉ XIX, Phan Côn và Lê Trí Viễn có viết: “về mặt ngôn ngữ, ông dùng từ địa phương, nhiều điển tích, nhất là ở những giai đoạn thuyết minh về đạo lý”. [22;67]Bên cạnh đó, ông Nguyễn Quang Bích đã đề cập đến hình tượng người lãnh tụ nghĩa quân và nông dân đánh Tây luôn sáng suốt trong việc cứu nước cứu dân, luôn phân biệt rõ ràng giữa ta và địch. Họ là những người anh hùng thà thác chẳng đầu Tây. Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi họ có tấm lòng yêu dân nồng nàn, tha thiết: họ là người nông dân, là người lãnh binh.Ngoài ra ông còn nhấn mạnh “các nhân vật chính trong Lục Vân Tiên đều thể hiện con người Nguyễn Đình Chiểu một cách khá trực tiếp và đầy đủ”. Hơn nữa Nguyễn Quang Bích còn giới thiệu về Kỳ Nhân Sư để nói lên lòng đau xót trước cảnh thương tâm của nước nhà và sự kiên định bất hợp tác với kẻ thù. Như vậy, tác giả phần nào đã nói lên nhân vật trung tâm do Nguyễn Đình Chiểu đầu tư xây dựng một cách tâm huyết. Phạm Văn Đồng viết: Ông từng đặt “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” ngang hàng với bài “Cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi và cho rằng là một bên là bài ca về anh hùng chiến thắng, một bên là bài ca anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang.[9;778] “Tượng đài nghệ thuật” mang tính bi tráng về người nông dân yêu nước chống ngoại xâm của Nguyễn Đình Chiểu sống mãi trong lòng Việt Nam anh hùng. Và, “…Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những anh hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những liệt sĩ đã trọn đời với dân”.[14;779]Vậy, người viết đã nói lên những người anh hùng vì nước, mà cụ thể là những người “nông dân” và anh hùng “lãnh binh” chiến đấu và hy sinh oanh liệt dù hy sinh nhưng tinh thần bất khuất, anh dũng. “Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động nghệ thụât, kỉ niềm lần thứ 150 ngày sinh của nhà thơ (1822 – 1972 . Hà Huy Giáp viết:“ Bài học sống, chiến đấu và sáng tạo của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu” đọc trong lễ kỉ niệm lần thứ 150 ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu: Phạm Văn Đồng, và các bạn nghiên cứu, phê bình về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu xoay quanh vấn đề Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật. Trần Thanh Mại có nhận định: “ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khi thì hùng hồn, cảm khái khi thì tha thiết lâm ly, nhiều đoạn uyển chuyển du dương, nhiều đoạn lại sôi nổi, mạnh mẽ. So với giai đoạn trước xâm lăng, rõ ràng Nguyễn Đình Chiểu có một bước tiến mới về nghệ thuật, điều này thể hiện bước tiến mới của nhà thơ về tư tưởng”. [29;289] Như vậy, tác giả đã đề cập đến hơi thở trong văn thơ của Cụ đồ có sự thay đổi tùy theo từng hoàn cảnh phản ánh cụ thể. Quyển Nguyễn Phong Nam – “Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học” tác giả chủ yếu đề cập truyện Nôm về phương diện thi pháp học, các vấn đề nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu trong thời kì trước khi Pháp xâm lược, chủ yếu tập trung vào tác phẩm “Lục Vân Tiên”. Còn các nhân vật trung tâm ở thời kì chống Pháp thì chưa khai thác hết mặc dù có điểm qua nhân vật trí thức ở “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”. Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình” tác giả Tuấn Thanh và Anh Vũ đã giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu, và trích dẫn một số bài nghiên cứu, phê bình về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ở các khía cạnh khác nhau. Bài viết của Đặng Thai Mai có nhận định: “thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là “khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp” ngay từ những ngày đầu chúng mới đặt chân lên xâm lược đất nước Việt Nam”. Cũng trong cuốn sách này, Hoài Thanh đã nhận xét về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: “từ ngày đất nước bị xâm lược” toàn bộ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Từ tiếng chửi, lời ca tiếng khóc đến lời ước mơ đều hướng về một mục tiêu duy nhất toàn là chửi vào những chuyện bội bạc, hưởng phúc, dâm ô, chửi vào các loại Võ Thể Loan, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Chỉ còn một tiếng chửi Tây và những đứa theo Tây. Chính sự thay đổi về nội dung sẽ có sự thay đổi về nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, mặc dầu vậy, Nguyễn Đình Chiểu vẫn luôn hướng đến việc dạy đời, dạy người bằng các hình thức xây dựng một mẩu người lí tưởng. Thêm một ý kiến: Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương về một nhà thơ có “chí ngang tàng” không để cho ngòi bút khô cứng bởi những giáo điều Khổng – Mạnh. Do đó mà tâm hồn của ông “lộng gió thời đại” trái tim ông “hòa cùng một nhịp với non sông đất nước”. [22;293] Nhân dân và thời đại đã nâng đôi cánh thơ của Nguyễn Đình Chiểu lên đỉnh của tư tưởng và nghệ thuật. Quyển “Nguyền Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm”, Hoàng Duệ, Phạm Văn Hảo và Lê Văn Trường nhận định về “tiếng địa phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu” – nhân dân miềm Nam, nhất là nhân vật Nam bộ yêu thích “Lục Vân Tiên” và các tác phẩm khác của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt các bài thơ, văn điếu Trương Định, Phan Tòng…, các bài Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Tế Lục Tỉnh sĩ dân trận vong văn…thì sự yêu thích đó không phải chỉ do phương ngữ tạo ra ; song phương ngữ vẫn có vai trò rất quan trọng. Phương ngữ miền Nam chính là một yếu tố trong giá trị hiện thực của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.[20;538]Đó là một hình thức nghệ thuật mà nhà thơ đã sử dụng một cách thành công và thấm nhuần tính nhân dân. Quyển “Tác giả trong nhà trường” Nguyễn Đình Chiểu, có bài viết của Hồng Dân-“Nguyễn Đình Chiểu cái mốc lớn trên tiến trình của tiếng việt văn học”đã nghiên cứu về một khía cạnh nghệ thuật thơ văn Nguyễn Đình Chiểu “ta có thể bắt gặp ở đây những từ ngữ cửa miệng, những từ phương ngôn, những thành ngữ, những cách nói chung, của nhân dân Nam bộ nói riêng… Chính những từ ngữ này, đến lượt nó lại góp phần làm cho văn thơ Nguyễn Đình Chiểu nhất là những áng văn thơ yêu nước chống Pháp chứa chan hơi thở của cuộc sống hiện thực… Chính đặc điểm trên đã tạo nên nét độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Đình Chiểu”. Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu nhìn chung đã có rất nhiều công trình, bài viết với đầy đủ quy mô khác nhau, phản ánh nhiều góc độ khác nhau về cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng, nội dung, nghệ thuật… Nhưng hình tượng nhân vật trung tâm trong thơ văn yêu nước chống Pháp chưa được khảo sát một cách chuyên luận, chưa được nghiên cứu một cách chuyên luận mà chỉ dừng lại ở mức độ riêng lẻ, còn rời rạc. Tuy nhiên, những công trình trên là những cứ liệu phong phú trong quá trình nghiên cứu đề tài. Với kiến thức hạn hẹp, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu sâu hơn về hình tượng nhân vật trung tâm cũng như các yếu tố hình thức nghệ thuật trong mối tương quan trong thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài này sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu sâu hơn về hình tượng nhân vật trung tâm trong thơ văn chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu, cũng như các hình thức nghệ thuật. Trong đó, sẽ quan tâm làm nổi bật hình tượng nhân vật trung tâm trong văn thơ yêu nước của nhà thơ, cũng như những đóng góp của nhà văn đối với đất nước và đối với thơ văn một cách nghiêm túc. Và càng không bỏ những thành công của Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng “tượng đài nghệ thuật” hết sức bi hùng và lịch sử. Để ta nhận thấy rằng nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thực sự đa tài khi vẽ lên bức tranh lịch sử bằng thơ văn. Trước đây khi ngồi ghế phổ thông, chúng tôi đã được tìm hiểu về nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu nhưng chỉ ở một mức độ giới hạn. Giờ, sau một thời gian học tập, tìm hiểu sâu hơn về Nguyễn Đình Chiểu. Hơn nữa được thực hiện đề tài về ông rất mong việc tìm hiểu sẽ góp một phần nhỏ nào đó vào việc nghiên cứu thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Việc nghiên cứu giúp chúng tôi tiếp thu thêm kiến thức sâu hơn, toàn diện hơn về tác giả mà mình yêu thích, và cũng để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác sau này. 4. Phạm vi nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu là một nhà yêu nước, một nhà thơ với sự nghiệp đồ sộ. Thơ văn của ông là những tấm gương sáng rực ở những năm 50 của thế kỉ XIX. Đặc biệt là văn thơ yêu nước chống Pháp có bước phát triển mới và gặt hái được nhiều thành tựu. Nghiên cứu đề này, chúng tôi tập trung tìm hiểu và ghi nhận những kiến thức về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu. Mà trọng tâm là giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật được tác giả sử dụng khi xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm trong thơ văn yêu nước chống Pháp. Tìm hiểu các bài viết, bài phê bình của các nhà nghiên cứu, phê bình để làm rõ đề tài. Song, chúng tôi còn đề cập những vấn đề có liên quan đến đề tài để hoàn thành đề tài tốt hơn. 5. Phương pháp nghiên cứu Với tinh thần học hỏi nghiêm túc, chúng tôi đã tiếp thu và kế thừa những công trình nghiên cứu có liên quan. Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ tiến hành nhận diện và phân tích hình tượng nhân vật trung tâm trong văn thơ của nguyễn đình chiểu. Việc nghiên cứu giúp chúng tôi tiếp thu thêm kiến thức sâu hơn, toàn diện hơn về tác giả mà mình yêu thích, và cũng để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác sau này B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Khái niệm 1.1.1. Hình tượng Hình tượng là sự phản ảnh hiện thực bằng phương thức khái quát nghệ thuật dưới những hình tượng cụ thể, sinh động, điển hình có thể nhận cảm một cách trực tiếp. 1.1.2. Nhân vât trung tâm Theo Hà Minh Đức: nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều hơn trong tác phẩm, đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. Tác phẩm “Lục Vân Tiên” có các nhân vật chính: Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh…trong số nhân vật chính của tác phẩm lại có thể có nhân vật được thể hiện đặc biệt nổi bật, có ý nghĩa tư tưởng – thẩm mỹ sâu sắc nhất, đó là nhân vật trung tâm. [11;127] Như vậy, nhân vật trung tâm trước hết phải là nhân vật chính nhưng phải được tác giả đặc biệt chú ý, khắc họa đầy đủ những chi tiết, tính cách, xung đột, nổi bật lên xuyên xuốt trong tác phẩm từ đầu đến cuối về mặt ý nghĩa. Đó là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm trong việc thể hiện đề tài, tư tưởng của tác giả. 1.2. Quá trình sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 1.2.1. Trước khi Pháp xâm lược Những năm năm mươi của thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu hoàn thành và khẳng định tư tưởng yêu nước, thương dân, tư tưởng người nghĩa coi như một bộ phận triết lý nhân sinh của ông. Thời kỳ này sự nghiệp sáng tác của ông mang đến người đọc những trang viết đậm tính nhân nghĩa, chan chứa lòng yêu nước trong tác phẩm Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu. Vào lúc mà xã hội và những giá trị tinh thần đang bị thời cuộc làm cho đảo lộn gần muốn sụp đổ, Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên để bênh vực cho giáo lý cổ truyền chống đở cho cái lâu đài xây dựng trên nền móng nho học bị lung lay trước cơn gió lốc. Ông sáng tác truyện thơ này với 34555 câu theo thể lục bát. Đọc “Lục Vân Tiên” ta thấy rõ lý tưởng cùng với những tình cảm thương ghét đối với nhiều hạng người trong xã hội, thương những người đã hoạt động theo đúng phương châm tinh thần mà tác giả đã nêu lên, ghét những kẻ đi ngược lại phương châm ấy, nói cách khác viết Lục Vân Tiên vừa làm công việc giáo huấn, vừa truyền bá tư tưởng nho học đang bị mù mờ dưới ảnh hưởng của thời thế, lại vừa gửi vào tác phẩm một tâm sự. Tâm sự ấy ta có thể thấy trong nhân vật chính Lục Vân Tiên và xã hội làm nền móng cho cuộc sống của chàng. Không thể diễn tả sự hâm mộ của người dân Nam bộ đối với tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, tác phẩm đã thể hiện mẫu người lí tưởng trong tác phẩm là những con người sống nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực tàn bạo, cứu nhân độ thế như lời của Lục Vân Tiên: “Tôi xin ra sức anh hào – Cứu người ra khỏi lao đao buổi này “. Bên cạnh đó chứa đựng tình yêu non nước nồng nàn khi giao phó cho Vân Tiên và cả ước mơ của đời mình ra chiến trường giúp nước: “ Chém đầu tướng Phiên”. Cũng ít có tác phẩm nào mà nhân vật đi vào cuộc sống một cách tự nhiên như truyện Lục Vân Tiên. Trong xã hội cũ, người ta dễ bắt gặp đâu đây tuy không nguyên mẫu – một kiểu con trai “trọng nghĩa khinh tài”, thấy người lâm nạn thì xông ra, hay như ông Quán, ông Ngư, ông Tiều. Là những hạng người nghèo khổ nhưng lòng rất đẹp, luôn luôn “dốc lòng vì nghĩa”, không chờ đợi sự trả ơn, không suy hơn, tính thiệt. Cần mở ngoặc để nói thêm, bình sinh Nguyễn Đình Chiểu có cái nhìn khá nhất quán về những con người bình thường trong xã hội. Khi miêu tả những người hầu, con hầu, những ông Quán, ông Ngư, ông Tiều trong các truyện thơ, cũng như những kẻ tay lấm chân bùn trong lịch sử kháng chiến, ông đều làm nổi bật hình ảnh trong sáng của họ. Trong “Lục Vân Tiên”, ông Quán là một nhân vật khá đặc biệt. Là người bán thức ăn cho khách qua đường nhưng ông nói ra toàn chuyện đạo lý, thời cuộc. Có dịp gặp những người trí thức, ông đã bộc lộ tình cảm “thương, ghét” của mình. Lẽ ghét thương đó bao hàm một ý nghĩa nhân sinh cao cả được xây dụng trên cơ sở lòng nhân, yêu thương con người, và căm ghét những kẻ gian ác, phi nhân. Qua tác phẩm, tác giả đã hết lời ngợi ca mối tình bền chặt, thủy chung của đôi trai tài gái sắc, đây là mối tình đẹp đẽ, cao quý bắt nguồn từ lòng hào hiệp, cứu người và lòng nhân nghĩa muốn trả ơn người của một đôi trai hùng gái tiết hạnh. Dương Từ Hà Mậu được ông sáng tác với 3460 câu theo thể đường luật. Tác phẩm được viết ra với tinh thần chiến đấu, yêu nước thiết tha, ông kêu gọi đồng bào phải sớm nhận ra kẻ thù chung của dân tộc và nói rõ trách nhiệm và bổn phận của mọi người dân Việt Nam trước họa xâm lăng, việc cứu nước chống giặc lúc bấy giờ là hòn đá thử vàng cho mọi giá trị của mỗi người dân không kể là lương hay giáo. Người tín đồ công giáo cũng đứng lên bảo vệ bằng cách chống và đánh quân xâm lược. Đó là sứ mạng thiêng liêng sáng ngời của chính đạo mà mỗi đạo phải theo. Không chống giặc cứu nước là tà đạo. Đó là một chân lý mà Nguyễn Đình Chiểu đã nêu bật ra cho mọi người thấy. Như vậy công giáo nói riêng, tôn giáo nói chung ngay cả nho giáo được Đồ Chiểu duyệt xét lại toàn bộ trong tác phẩm. Theo ông, ngày nào mà tôn giáo không hòa đồng cuộc sống với dân tộc, ngày nào mà người theo đạo chỉ biết đóng khung trong giáo điều một cách lệch lạc thì ngày đó tôn giáo chỉ có hại cho Tổ quốc. Nguyễn Đình Chiểu còn chống đối các tín đồ Phật giáo lạc hậu phản động. Trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc họ đã lợi dụng đạo để thực hiện mưu đồ bất chính. Đối với xã hội họ không còn một mối liên hệ nào. Đối với giáo lý, họ không có một hiểu biết đầy đủ. Mà ngay trong cả cách thờ cúng, họ cũng chỉ chú trọng đến hình thức bề ngoài. Đối với họ, theo Đồ Chiểu xuất gia đầu Phật là từ chối sống chung với dân tộc, trốn tránh trách nhiệm, chối bỏ sự đóng góp cho xã hội. Mối ưu tư chính của Nguyễn Đình Chiểu là chống Pháp cứu nước. Phải có một nền tảng tư tưởng vững chắc đủ sức đương đầu với võ lực Tây phương. Trong “Dương Từ- Hà Mậu”, tác giả luôn luôn cho ta thấy rõ đạo không ở đâu xa, chính ngay trong lòng người, trong lòng dân, cho nên mọi người phải lo “tu thân” theo những truyền thống đạo đức có một ý nghĩa thực tế lớn lao của dân tộc mà Nguyễn Đình Chiểu mệnh danh là chính đao, để từ đó mà lo việc “trị quốc” trong cơn biến loạn của nước nhà.[44] Nguyễn Đình Chiểu cũng chống đối nho giáo lạc hậu. Cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước là sự kiện trung tâm của thời đại. Qua cuộc kháng chiến đó, trong hàng ngũ của mọi tầng lớp xã hội đã có một sự phân hóa rõ rệt. Tầng lớp nhà nho cũng vậy, cũng có nho sĩ thi hành chính đạo, lao mình vào cuộc chiến đấu của dân tộc, thì cũng có những nho sĩ tiểu nhân đã xa rời chính đạo mà trở nên “tà vạy” hợp tác với giặc, bán nước cầu vinh. Nguyễn Đình Chiểu đã mạnh mẽ đả kích bọn này. Ngoài ra, ông còn lên án bọn nho sĩ lạc hậu, sinh sống bằng những nghề nghiệp phi pháp: Bọn thầy pháp, địa lý lợi dụng lòng mê tín kém hiểu biết của nhân dân để vét của, bọn nhà nho học thuốc vụ lợi chữa bệnh không có lương tâm, cả bọn thơ lại quen thói hống hách ăn tiền. Nếu triều đình chỉ biết kết án đạo Công giáo, thì Đồ Chiểu đi xa hơn, kết án tất cả tà thuyết để tạo lập một ý thức hệ, một nền tảng tư tưởng mới cho cuộc đấu tranh. Ông chống bọn quan lại chủ hòa. Đồ Chiểu trung quân bằng cách đứng về phía nhân dân, đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Quan niệm đấu tranh của Đồ Chiểu qua Dương Từ- Hà Mậu đã đánh vào tinh thần chủ bại, suy nhược của bọn nho sĩ lạc hậu của triều đình như một ngọn đuốc sáng rực rọi vào nơi tăm tối. Và cũng qua tác phẩm này đã phản ánh quan niệm nhân sinh hết sức thiết thực của ông. Lời lẽ đả kích của ông không nhắm vào lý thuyết suông mà đã tích cực nhắm vào thái độ, hành động của tín đồ của mọi tôn giáo. Theo ông hòn đá thử vàng cho mọi hành động trong lúc này là hành động chống giặc cứu nước. Trong chiều hướng đó, tôn giáo đã bị đả kích nặng nề nhất là Thiên Chúa giáo, vì tôn giáo này trong thực tế đã hành động như là những tên nội gián làm tay sai cho bọn xâm lược. Dương Từ -Hà Mậu là tác phẩm lớn toát ra một tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Trước nguy cơ đổ vỡ cả nền tảng đạo đức cố hữu do ý đồ của quân thù xâm lược, Dương Từ -Hà Mậu như là một lời kêu gọi mọi người trở về với chính đạo, đủ tạo ra một sức mạnh chống giặc cứu nước cho Tổ quốc. Tác phẩm đã chỉ ra một chân lý sáng ngời cực quan trọng là: Phải biết tiếp thu những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng mọi người đạt tới được một sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành động cho sự tiến bộ của xã hội. 1.2.2. Sau khi Pháp xâm lược Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Tư tưởng nhân nghĩa trước đây được nâng lên thành tư tưởng yêu nước. Sự chung thủy trong tình yêu được nâng lên thành trung thành với đất nước trước hiểm họa xâm lăng. Giai đoạn sáng tác này bao gồm một số bài văn tế, thơ và tập truyện dài “Ngư Tiều y thuật vấn đáp diễn ca”. Thơ, Văn tế Trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác một số thơ, văn tế. Tất cả chứa đựng đầy tính chiến đấu sôi nổi và tính thời sự Nguyễn Đình Chiểu đã vạch trần tội ác của giặc cùng bọn tay sai, nói lên ước mơ nước nhà được giải phóng của nhân dân trước cảnh nhà tan nước mất, nói lên lòng căm thù vô hạn của quần chúng nhân dân đối với bọn giặc ngoại xâm. Nó làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ suốt trong cả giai đoạn này. Câu thơ khẳng định quan điểm lập trường – nói theo cách nói của ta ngày nay hay khẳng định “lòng đạo” – một triết lý nhân sinh tiến bộ bao gồm tư tưởng nhân nghĩa và chủ nghĩa yêu nước. Nguyễn Đình Chiểu đã mang “lòng đạo” đó đi vào cuộc kháng Pháp. Và, bây giờ thơ văn ông là những con thuyền chở “đạo”- đạo nhân nghĩa, đạo yêu nước – và với ngòi bút là thứ vũ khí sắc nhọn như gươm, giáo đâm thẳng vào quân thù cướp và bán nước : “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Nhân dân miềm Nam đã đứng lên mặt đối mặt chống quân thù. Hình ảnh của họ của những người lao động nghèo khổ, được Nguyễn Đình Chiểu miêu tả rất rõ nét qua những cuộc chiến đấu chống Pháp. Họ là những nhân vật chính, là những anh hùng dũng cảm và giản dị. Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ Việt Nam đầu tiên đã nói đến chiến tranh nhân dân, đề cao người nông dân, người du kích chống Pháp với ý thức về nhiệm vụ và quyền lợi của mình, họ cần chiến đấu để bảo vệ “tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo” để bảo vệ chủ quyền đất nước thiêng liêng. Đối với các lãnh tụ nghĩa quân như Trương Định, Phan Công Tòng, thì nhà thơ đã tôn kính bằng cách dành cho họ những lời thơ hết sức trang trọng. Trong cuộc chiến tranh nhân dân chống Pháp lúc bấy giờ, bên cạnh những người nông dân nghèo khổ, còn có những sĩ phu sống gần gũi với quần chúng, có thể nói là trí thức nông dân. Đối với tầng lớp trí thức này (có cả Nguyễn Đình Chiểu), nhà thơ đã xác đinh rõ nhiệm vụ giúp dân giúp nước, đứng hẳn về phía nhân dân mà quyết chiến với giặc. Và, khi người trí thức đó là đại biểu cho nhân dân, trở thành lãnh tụ, thì nhân dân có mối quan hệ đặc biệt thân thiết với họ. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu còn cho ra đời một tập truyện dài là “Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca”. tác phẩm được nhà thơ chú trọng biểu dương đạo đức làm người qua cuộc vấn đáp giữa hai nhân vật Ngư và Tiều. Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời những nhân vật trong truyện để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc, khinh ghét bọn người vô sỉ, cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược. Ông cũng mượn câu chuyện này để phản ánh những vấn đề thời sự mà ông hằng quan tâm và đau lòng vì nó.[55] Kỳ Nhân Sư đã khước từ “chẳng khứng sĩ Liêu”, nên đã “xông hai con mắt bỏ liều cho đui”. Đó là một hành động phản kháng quyết không chịu theo giặc, khước từ mọi sự mời mọc, dụ dỗ để bảo vệ lòng đạo “lòng đạo xin tròn một tấm gương”, trước bao nhiêu việc trái tai gai mắt, đảo điên thiên hạ của “nhơn tình éo le”. Như vậy là một sự bảo vệ đạo đức, lý tưởng, một sự phê phán gay gắt có một ý nghĩa triết học : đó là tượng trưng cho cảnh đen tối của đất nước, nhưng trong cái đen tối đó, Nhân Sư mù mà vẫn là điểm sáng, là ngôi sao giữ niềm chính khí. Ông tin tưởng ngày mai đất nước sẽ tươi sáng. Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, là sách dạy nghề thuốc, kể truyện Thê Triền, Tử Phược đi tìm thầy học chữa bệnh. Tìm thầy học thuốc chữa bệnh cho dân, mà cũng là tìm thầy học đạo cứu đời, cứu nước. Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời các nhân vật tượng trưng của tập truyện để diễn tả ngay nỗi lòng của ông : Một tấc lòng đau đáu lo đạo thương dân, một mảnh hồn nhẹ nhàng, trong sáng và một niềm tin vĩ đại vào tương lai. Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện được tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng yêu nước tiến bộ và cách mạng, đại diện cho những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cho ý thức kiên cường và tự giác của nhân dân trong thời đại mà tư tưởng Việt Nam chưa được tiếp xúc với những tư tưởng cách mạng lớn của thế giới và nhất là tư tưởng của giai cấp vô sản. Nhìn lại ta thấy thơ, văn tế của Nguyễn Đình Chiểu “ca ngợi những anh hùng suốt đời tận trung với nước, và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” (Phạm văn Đồng) 1.3. Đặc điểm thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu 1.3.1. Thể hiện giai đoạn lịch sử “ Khổ nhục nhưng vĩ đại” Giữa thế kỉ XIX, với tiếng súng mở đầu cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào Đà Nẵng năm 1858, đất nước ta đứng trước sự đe dọa, thử thách đối với lẽ tồn vong của dân tộc. Liều thi gan, đối đầu chống trả sự lấn lướt hung bạo đó, có phải là một sự liều lĩnh tuyệt vọng, không thức thời nhận ra cái tất yếu khả kháng trước một thế lực ngoại xâm hùng mạnh có ưu thế vượt trội về tiềm lực quân sự và kinh tế. Và như vậy cũng là không thuận theo thời thế, đối lập với khuynh hướng chỉ đạo cơ bản của chủ nghĩa đầu hàng mà triều đình phong kiến nhà Nguyễn chủ trương. Không, đông đảo quần chúng nhân dân lao động nước ta, với truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần quật cường của lòng tự tôn dân tộc, với sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, đã tập hợp lại, kiên quyết tiến hành cuộc chiến đấu chống trả bền bĩ và dũng cảm. Trong cuộc đụng đầu lịch sử này, như ta đã biết do sở đoản và sức yếu, khủng hoảng về đường lối lãnh đạo và tầm nhìn chiến lược, lực lượng của những người yêu nước, mặc dầu là chính nghĩa, đã tạm thời thất bại. Có thể nói, tình hình sôi động nước ta ở nửa cuối thế kỉ XIX đã ghi những dấu ấn không phai mờ trên những trang bi tráng mà hào hùng của lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Và thực tế trong lúc bấy giờ những chiến sĩ là ai. Họ là những người không tuổi, không tên, quanh năm suốt tháng chẳng biết gì ngoài những điều thông thường nơi ruộng đồng kênh rạch. Nhưng khi quyền sống, danh dự Tổ quốc bị chà đạp thì họ trở thành những chiến sĩ kiên trung nhất. Với lòng quả cảm của người chiến sĩ chân chất ấy, Nguyễn Đình Chiểu viết: “ Việc cuốc, việc cày, việc bừa,việc cấy, tay vốn quen làm ; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời trông hạn mưa ; mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) Và họ chẳng sợ sệt trước cảnh tang thương, dù giặc có vũ khí tối tân nhưng những người nông dân xem chúng như không có. Bằng vũ khí thô sơ nhưng tinh thần chiến đấu rất anh dũng “Kẻ đâm ngang, người chém ngược”, và ta thấy họ “Bọn hè trước, lũ ó sau, trói kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”. Trước nỗi nhục mất nước ấy, người chiến sĩ nông dân thấy tâm hồn mình rộn lên một mối tình yêu đất nước mãnh liệt đang tiềm ẩn trong đáy lòng. Lòng yêu nước ấy thường rất nhẹ, như đám mây trôi giữa bầu trời có nắng đẹp, rồi hiện diện đó. Nhưng khi Tổ quốc bị quân thù giày xéo, thì tình yêu nước ấy được hoàn cảnh thôi thúc một cách mãnh liệt. Nó được chùi sạch, và sáng lên như một bình sứ. Do đó nó trở nên hào hùng hơn bao giờ hết :[469 ] “Kể mười mấy năm trời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên ; đem ba tấc hơi mõn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển hoặc núi hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt”. (Điếu sĩ dân Lục tỉnh) Tây ! Tây ! hai tiếng vang lên như sét đánh, như hồi chuông báo động, mọi người, mọi giới phải gánh chịu bao tang tóc do quân thù mang lại. Chúng đến đâu những cảnh êm ấm, an lành khi xưa không còn nữa, nơi nào cũng đấy cảnh thê lương, chết chóc, tang thương nhất :đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong liều. Bài thơ “Chạy giặc” là một minh chứng cho cảnh loạn ly ác liệt. Còn đâu cảnh thái bình âu ca ngày trước. Bây giờ người nông dân chất phác trở thành những chiến sĩ ngày đêm xông pha cùng nắng mưa sương gió, phơi mình nơi “mũi tên hòn đạn” mong giành dựt lại những gì quý báu nhất của dân tộc. Hơn ai hết Nguyễn Đình Chiểu thấy được hạn độ, chức năng của người biết yêu chân lý, biết căm thù cái phi nghĩa tàn bạo. Lần đầu tiện trong lịch sử nước nhà, nhân dân ta phải chiến đấu trong một tình trạng hiểm nghèo nhất. Những đội nghĩa quân vốn là những nông dân hoặc học trò chưa thạo nghề quân lữ, bây giờ phải đối đầu với quân thù với khả năng chiến đấu hết sức chênh lệch. Những nghĩa quân Việt Nam đã nói lên cả sức sống oai hùng của dân tộc làm cho quân thù nhiều phen nghiêng ngửa. Khí giới quyết định của họ là lòng tự tôn dân tộc, tình thương yêu gióng nòi, quý trọng công trình của tiền nhân và biết căm thù sâu sắc “quân cướp nước và bè lũ bán nước”. Khí giới ấy quả mạnh hơn sắt thép, dù cho bị thất bại đắng cay. Nguyễn Đình Chiểu có những tiếng nói xuất phát từ con tim đầy phẫn nộ, bi thương của tập thể dân tộc đang chiến đấu trong một hoàn cảnh hiểm nghèo, song vẫn tràn đầy ý chí quật cường, chứa chan tình thương yêu đồng loại. “Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời; phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bỏ làm phân cho đất. Nghĩ nỗi anh hùng nợ nước, bãi khô lâu nào mấy kẻ khóc than tưởng câu danh lợi tuồng đời, trường quỷ lũy mặc dầu ai náo nức”. Cái bi thương, ai oán ở đây không phải làm cho người chứng kiến rơi lệ, rồi buông tay đầu hàng. Mà sau nỗi bi thương, ai oán đó, họ sẽ đứng dậy một cách oai hùng, lẫm liệt hơn, theo lời núi sông trả thù cho những người đã khuất khỏi phải “ngậm cười nơi chín suối”. Những oan hồn trong các đầu lâu như réo gọi chân đất xốc tới với một niềm tin mãnh liệt của người đã ngã gục vì đại nghĩa. Hình ảnh cuối cùng còn đọng lại về người nghĩa sĩ là sự liều mình giữa chiến trường của họ. Những cái đâm ngang, chém dọc, đạp rào, xô cửa… là hào quang của một thời “khổ nhục nhưng vĩ đại” của dân tộc. 1.3.2. Thể hiện chân lý “ Thà chết vinh còn hơn sống nhục” Nguyễn Đình Chiểu theo chủ nghĩa trung quân, nhưng ở trường hợp phải có thái độ sau hiệp ước 1862 thì ông cũng công nhiên đứng bên cạnh Trương Định. Thái độ của cụ là thái độ dứt khoát, chống đầu hàng, chống hợp tác chống bàng quan. Qua đó chúng ta thấy được tư tưởng rạch ròi của ông trong cách nhìn với kẻ thù. Trong bài Điếu Trương Tướng quân văn, Cụ đồ viết : Dầu những đại đồn thuở trước, cũng khó toan đè trứng ngàn cân ; Huống chi cô lũy ngày nay, đâu dám chắc treo chuông một dãi. Nhưng vậy mà : Vì nước tấm thân đã nấy, còn mất cũng cam Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại Nói lên ý đó Nguyễn Đình Chiểu nào phải đã nói lên một điều gì mới lạ, mà chỉ một lần nữa nói lên chân lý đã đời đời làm nền tảng cho đạo làm người Việt Nam. Thời Nguyễn Đình Chiểu, không thấy dùng khái niệm “yêu nước” mà thường dùng khái niệm “vì nước” như nói; “vì nước tấm thân đã gởi”, “đã vì nước phải theo một phía”, “vì nước đành trao một tấm thân”, “vì nước nào hờn tiếng thị phi”, “người vì nước rủ nhau chết ngặt”… Tất nhiên, vì nước cũng có nghĩa là yêu nước, bởi yêu nước mà hành động, lại có nghĩa là làm những việc ích nước lợi dân; và có nghĩa là xả thân cho nước. Khi ấy, đối với Nguyễn Đình Chiểu và các sĩ phu nói chung, khái niệm vì nước không tách rời khái niệm “vì vua”. Trong sách vở thì nước và vua ít khi phân biệt rõ ràng. Song, gặp trường hợp lịch sử cụ thể, khi cần phân biệt nước và vua thì Nguyễn Đình Chiểu cũng tỏ ra có thể phân biệt được. Tự Đức ra lệnh bãi chiến; dân ba tỉnh muốn tiếp tục kháng chiến. Trương Định theo bụng dân ở lại Tân Hòa chứ không đi làm lãnh binh An Giang. Theo bụng dân là trái lệnh vua. Nguyễn Đình Chiểu, các sĩ phu hết lòng ủng hộ Trương Định. Như vậy, khi Nguyễn Đình Chiểu tuyên dương Trương Định là : “vì nước tấm thân đã nấy”, ấy là cụ tuyên dương vị đại Nguyên soái dân phong đã vì nhân dân, vì nước nhà, không phải vì vua, mà đứng ra lãnh đạo quân khởi nghĩa. Ở đâu thì có thể chưa rõ, chớ trong bài, thì khái niệm “vì nước” tất nhiên không có ý nghĩa là vì vua chúa, vì ngai vàng, mặc dù rằng trong bản văn tế còn thấy nói “tiền vàng ân chúa”. Nói “vì nước tấm thân đã nấy” tức là – theo ngôn ngữ ngày nay- nói toàn tâm toàn ý phục vụ Tổ quốc, dám hy sinh tất cả, kể luôn tính mệnh của mình cho nước nhà. Nước bị xâm lăng, tấm thân này nguyện gởi cho nước thì không còn bịn rịn, do dự, tiếc rẻ gì những lợi ích cá nhân của mình.[289] “Còn mất cũng cam” nghĩa là quyết chiến đấu, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc, cho dân tộc, không tiếc, không than. Hầu như trong toàn bộ thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, không bài nào không nói tới đạo lí mấu chốt này. Dễ hiểu tại sao? Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác trong khói lửa kháng chiến, khi việc sống chết là việc hàng ngày. Nếu tham sống sợ chết thì làm gì có kháng chiến. Trái lại nếu xem nhẹ cái chết, nếu dám vì nghĩa lớn mà sẵn sàng hy sinh vì tính mạng, thì kẻ thù dầu có tàu nhanh súng mạnh cũng phải kiêng dè, lo sợ. Một sử gia Pháp, viết lịch sử chinh phục Nam Kỳ mà bản thân y trực tiếp tham gia, có ghi rằng: “Người An Nam, bằng vũ khí thô sơ, đã đánh bại súng carabin, họ cứ nhào vô đánh với một nghị lực mù quáng, chứng tỏ họ quyết tâm và can đảm một cách phi thường”. Nguyễn Đình Chiểu trong đã ca ngợi tính can đảm vô song và tinh thần hy sinh tuyệt vời đó của người chiến sĩ Việt Nam trong tay chỉ cầm vũ khí thô sơ, chống lại quân Pháp với tàu sắt, có carabin, có đại bác. Bọn cướp nước đã từng thú nhận: “người An Nam tiến vào một cách can đảm….Những người đầu đều bị bắn chết, thây nằm chật ngõ, nhưng họ liền được thay bằng những người khác”. Nguyễn Đình Chiểu đã quan tâm đến phẩm chất trên của họ khi ông nhấn mạnh: “trong tay cầm một ngọn tầm vông”, “giáo tre nghìn dặm đánh Tây”, và “nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vòa liều mình như chẳng có…”, “trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ”…. Vũ khí thì hết sức thô sơ: tầm vông vạt nhọn, dao phay, con cúi. Mà tinh thần xung phong lại rất cao, không biết sợ chết là gì. Tấm lòng họ rất nhiệt tình trong việc trả thù nước nhà. Anh dũng không sợ địch đó là tiêu chuẩn cao đẹp của người anh hùng nói chung, nhưng điểm độc đáo của Nguyễn Đình Chiểu cần phải nói ở đây là họ không biết sợ kẻ địch có vũ khí tối tân. Súng của giặc có mạnh đến đâu thì tinh thần yêu nước của dân ta càng ngất trời thêm nữa. Xông pha giết giặc nào nghỉ đến chuyện nằm xuống, mất đi, mà niềm tin trong tư tưởng họ đã bao trùm cả súng đạn của giặc. Vì sao mà nghĩa binh xem thường cái chết, can đảm phi thường như vậy. Họ là ai. Họ nghĩ gì khi chiến đấu. Họ: Chẳng phải án cướp, án gian đày tớ, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm; vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số. Họ là : Dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Bởi nghĩ rằng : Tấc đất ngọn rau ơn chúa, vun trồng cho nước nhà ta ; Bát cơm manh áo của đời, mắc mớ chi ông cha nó. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm xương ; Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió. Bọn Pháp ỷ mạnh, vô cớ tới phá cuộc sống yên lành tự chủ của dân ta, vì tấc đất ngọn rau, vì vùa hương tổ phụ, ta phải đứng lên cầm vũ khí cản ngăn quân xâm lược, sống thác sá gì. Sống hay thác đều phải có ý nghĩa, có cái thác vinh có cái thác nhục. Tinh thần anh dũng không còn thể hiện ở chổ thái đọ quyết tử không đầu hàng giặc. Tấm lòng son sắt với nước non, một lý tưởng lúc nào cũng sáng rực trong lòng, thì mới nghỉ đến việc hạ vũ khí trước kẻ thù mạnh hơn mình nhiều về phương diện. Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây, thà chết vinh còn hơn sống nhục, đó là khẩu hiệu của người anh hùng: thà thác mà đặng câu địch khái, về theo Tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu tiếng đầy Tây, ở với man di rất khổ. Quan niệm “da ngựa bọc thây sống gửi thác về” vốn đã có trong quá khứ, được Nguyễn Đình Chiểu đưa ra dùng lại với một cách nói khéo léo, nhằm ca ngợi cái ý “quyết tử”, rằng họ coi cái chết rất nhẹ nhàng, bình thường lắm.(một giấc chốn sa trường, da ngựa bọc thây …thác rồi bỏ làm phân cho đất). Vì nước hy sinh là một việc nghĩa rất cao cả, thiêng liêng cả núi sông cảm động. Niềm tự hào đó vang cả đất trời: Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen. Quan niệm sống chết, vinh nhục, quan niệm hy sinh vì nước của Nguyễn Đình Chiểu, của ông bà ta thuở ấy là như vậy đó: sáng tỏ, chính đại. Chết vì nước là sống. Vì nước mà mất thì cũng như còn. Điếu Phan Tòng Nguyễn Đình Chiểu viết: Tinh thần hai chữ phau sương tuyết, Khí phách nghìn thu rỡ núi non. Gẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ, Lòng đây tưởng đó mất như còn. (Thơ điếu Phan Tòng, IV)
- Xem thêm -