Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình việt nam thế kỷ xviii - xix

  • Số trang: 145 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Thịnh HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII - XIX LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Hoàng Thịnh HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII - XIX Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN KIM CHÂU Thành phố Hồ Chí Minh – 2012 LỜI CẢM ƠN  Sau một thời gian đầu tư thực hiện, luận văn Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX đã được hoàn thành đúng thời hạn. Đó là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc với sự hỗ trợ nhiều mặt từ phía nhà trường, quý thầy cô cùng bạn bè, đồng nghiệp. Dù rất cố gắng nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp, đề xuất để công trình nghiên cứu của chúng tôi hoàn thiện hơn. Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Kim Châu - người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài luận văn nói trên. Sự quan tâm, hướng dẫn, chỉ bảo tận tâm của Thầy đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Sau đại học trường Đại học sư phạm TP. HCM, các giảng viên cùng cán bộ thư viện trường Đại học Sư phạm TP. HCM đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam khóa 21 chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại trường. Sau cùng, tôi xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, những người bạn, những người đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong cả quá trình học tập và nghiên cứu luận văn. Nguyễn Hoàng Thịnh MỤC LỤC  DẪN NHẬP ................................................................................................................1 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1 2. Lịch sử vấn đề .....................................................................................................2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................3 4. Phương pháp nghiên cứu .....................................................................................4 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................5 6. Kết cấu của luận văn ...........................................................................................6 NỘI DUNG CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ THƠ TRỮ TÌNH VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM ..........................................7 1.1. Khái quát về thơ trữ tình trung đại ...............................................................7 1.1.1. Khái niệm thơ trữ tình ...........................................................................7 1.1.2. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trung đại ............................9 1.2. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam trước thế kỷ XVIII ...........................................................................................................................24 1.2.1. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ X - XIV ..............24 1.2.2. Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XV - XVII ..........28 1.3. Sự phát triển phong phú và đa dạng của thơ trữ tình viết về người phụ nữ thế kỷ XVIII - XIX ............................................................................................38 1.3.1. Sự phong phú về tác giả và tác phẩm..................................................38 1.3.2. Sự phong phú về kiểu loại nhân vật ....................................................40 1.3.3. Sự đa dạng trong cách thể hiện ...........................................................44 1.3.4. Nguyên nhân phát triển .......................................................................49 CHƯƠNG 2. CHÂN DUNG NGƯỜI PHỤ NỮ52 TRONG THƠ TRỮ TÌNH THẾ KỶ XVIII - XIX .........................................................................................52 2.1. Vẻ đẹp và tài năng của người phụ nữ.........................................................52 2.1.1. Vẻ đẹp của người phụ nữ ....................................................................52 2.1.2. Tài năng của người phụ nữ .................................................................60 2.2. Số phận của người phụ nữ..........................................................................65 2.2.1. Sắc đẹp và tài năng bị vùi dập tàn phai, mai một ...............................65 2.2.2. Đời sống tình cảm nhiều bất hạnh.......................................................69 2.3. Khát vọng của người phụ nữ ......................................................................77 2.3.1. Khát vọng tình yêu, hạnh phúc ...........................................................77 2.3.2. Khát vọng bình đẳng giới ....................................................................82 2.4. Thái độ, tình cảm của tác giả khi miêu tả hình tượng người phụ nữ .........87 CHƯƠNG 3. NGHỆ THUẬT KHẮC HỌA CHÂN DUNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG THƠ TRỮ TÌNH THẾ KỶ XVIII - XIX...........................................97 3.1. Thể thơ .......................................................................................................97 3.1.1. Thể tứ tuyệt .........................................................................................97 3.1.2. Thể bát cú ..........................................................................................104 3.1.3. Thể trường thiên ................................................................................109 3.2. Nghệ thuật sử dụng hình ảnh ...................................................................112 3.2.1. Các hình ảnh tượng trưng, công thức ................................................113 3.2.2. Các hình ảnh đời thường gần gũi, dung dị ........................................119 3.3. Ngôn từ .....................................................................................................123 3.3.1. Chất bác học của ngôn từ ..................................................................125 3.3.2. Chất bình dân của ngôn từ ................................................................129 KẾT LUẬN ............................................................................................................136 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................138 1 DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài Văn học trung đại Việt Nam (còn được gọi là Văn học cổ Việt Nam, Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX…) đánh dấu sự ra đời của dòng văn học viết từ thế kỷ X với hai bộ phận: văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Theo từng giai đoạn của tiến trình phát triển, văn học đạt được những thành tựu rực rỡ với những bước tiến đáng kinh ngạc về cả nội dung và nghệ thuật. Trong đó, thơ trữ tình có chỗ đứng riêng vững chắc do ảnh hưởng của thời đại với sự xuất hiện của nhiều danh gia kiệt tác. Thơ trữ tình xuất hiện từ rất sớm trong tiến trình văn học nước nhà (thậm chí, đã có những biểu hiện rõ nét của chất trữ tình trong ca dao của người Việt xưa) và đạt được những thành tựu nhất định qua từng thời kỳ. Hình thức và nội dung thơ cũng ngày một phát triển phong phú theo hướng hoàn thiện, cách tân mới mẻ. Mười thế kỷ đầy sóng gió của lịch sử nước nhà cũng là khoảng thời gian văn học chịu nhiều biến động, thăng trầm. Thay đổi đáng ghi nhận là sự mở rộng nội dung về phía đời sống, đưa văn học ngày càng gần gũi, gắn bó với quần chúng. Cùng với đó, các nhân vật nữ cũng xuất hiện trong thơ trữ tình với tần suất ngày một nhiều hơn theo chiều dọc tiến trình văn học viết (đặc biệt là ở bộ phận thơ Nôm từ nửa sau thế kỷ XVIII). Người phụ nữ đã xuất hiện trong văn học viết (bao gồm trong thơ trữ tình) ngay từ những thế kỷ đầu và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình, góp phần hoàn chỉnh diện mạo văn học dân tộc. Thơ của các nhà văn trung đại biểu hiện cách nhìn, cách cảm, cách suy nghĩ của họ đối với những vấn đề trong cuộc sống, thế nên, thơ trữ tình trung đại đều ít nhiều có biểu hiện của “cái tôi”, của việc định hình phong cách tác giả. Tìm hiểu “Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX”, chúng tôi mong muốn được đi sâu vào đặc trưng thể loại thơ trữ tình Việt Nam (về cả nội dung và đặc điểm nghệ thuật) thế kỷ XVIII - XIX, khai thác hình ảnh người phụ nữ để có cái nhìn đa chiều, đa diện về cuộc sống của một bộ phận người trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ. 2 2. Lịch sử vấn đề Văn học gắn liền với dân tộc và chặng đường phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của nước nhà, yếu tố thời đại đã tác động mạnh mẽ đến số phận và quá trình sáng tác của các tác giả thời trung đại. Chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình (thế kỷ XVIII - XIX hoặc các thời kỳ trước đó). Dẫu chưa thật sự rõ nét nhưng thơ trữ tình Việt Nam trung đại đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập ở rất nhiều phạm vi, góc độ và mức độ khác nhau. Đề cập đến thơ trữ tình Việt Nam trung đại và hình tượng người phụ nữ trong văn học, có thể kể đến một vài công trình có liên quan: Trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử đề cập đến nhiều vấn đề về thi pháp văn học trung đại Việt Nam. Trong đó, có chương “Các thể thơ trữ tình” [32, tr.167] miêu tả phạm vi, diện mạo và tiến trình thơ trung đại Việt nam, đồng thời đi vào một số đặc điểm thế loại cụ thể như: thơ tự tình, ngâm khúc, hát nói. Bùi Duy Tân với tác phẩm Khảo và luận một số thể loại - tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam (tập II) đã khảo sát “Về quan niệm văn học trung đại Việt Nam” [33, tr.38), “Sơ lược về một số thể loại văn học trung đại Việt Nam” [33, tr.83] và “Vấn đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ” [33, tr.95] có nói đến một số thể thơ chính và tiêu chí phân chia thể loại thơ trung đại Việt Nam. Nguyễn Đăng Điệp trong tác phẩm Giọng điệu trong thơ trữ tình có nhắc đến một số vấn đề về “Giọng điệu trong thơ ca trung đại” [12, tr.138], công trình này đặt thơ ca trung đại trong hệ thống thơ ca dân tộc từ thơ ca truyền thống đến hiện đại. Tác giả cho rằng: “Yếu tố giọng điệu của chủ thể sáng tạo dù đã xuất hiện trong thơ trữ tình trung đại, thể hiện ý thức quẫy đạp của các nhà thơ khỏi những ràng buộc quy phạm đã có từ ngàn năm, song nhìn chung chưa thật rõ nét”; “giọng điệu cá nhân chưa phát triển... khi xuất hiện những yếu tố của “tinh thần Phục Hưng” (đặc biệt trong văn học nửa đầu thế kỷ XVIII), yếu tố cá nhân bắt đầu manh nha được bộc lộ”... 3 Trần Nho Thìn với tác phẩm Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa có đề cập đến “Sáng tác thơ ca thời cổ và sự thể hiện “cái tôi” tác giả” (tr.80) và “Sự thể hiện con người trong văn chương cổ” [36, tr.101], “Trào lưu chủ tình của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách Thế thuyết tân ngữ” [36, tr.523] nói đến vai trò của “cái chủ quan”, cách thức thể hiện “cái tôi” của nhà Nho trong thơ ca. Trong quyển Văn học Việt Nam - Văn học trung đại (Những công trình nghiên cứu) do Lê Thu Yến chủ biên đã tập hợp một số công trình nghiên cứu có liên quan đến các tác giả mà chúng tôi khảo sát trong luận văn như những bài viết: Thơ Bà Huyện Thanh Quan - Niềm vui và nỗi buồn (Trần Thị Băng Thanh), Văn chương cô Xuân Hương (Hoàng Ngọc Phách), Góp thêm một tiếng nói trong việc đánh giá thơ Hồ Xuân Hương (Đặng Thanh Lê), Tìm hiểu ý thức tư tưởng chủ đạo trong thơ Hồ Xuân Hương (Nguyễn Nghiệp), Nhà thơ dòng Việt, Bà chúa thơ Nôm (Xuân Diệu). Việc tìm hiểu về những nhà thơ và sự nghiệp sáng tác của họ tạo nên tính hệ thống cho công trình nghiên cứu. Nhìn chung, đây là vấn đề đã được đề cập riêng lẻ khi khảo sát tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu nhưng chưa có một công trình có hệ thống khảo sát trên bình diện chung để thấy được toàn bộ diện mạo của người phụ nữ thơ ca giai đoạn này. Qua việc tìm hiểu đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX, chúng tôi hy vọng góp thêm những hướng nghiên cứu mới, cách tiếp cận mới về mảng thơ ca trữ tình Việt Nam trung đại. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Những sáng tác văn học Việt Nam trong thế kỷ XVIII và XIX hết sức đồ sộ ở nhiều thể loại khác nhau với đề tài, nội dung lẫn hình thức biểu hiện phong phú, đa dạng. Đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII XIX giới hạn khảo sát những bài thơ trữ tình dung lượng ngắn (ở các thể thơ: tứ tuyệt, bát cú, trường thiên) có sự xuất hiện của người phụ nữ (bao gồm cả bộ phận thơ chữ Hán và chữ Nôm) trong cả tiến trình văn học Việt Nam trung đại, nhưng 4 đặc biệt đi sâu tìm hiểu hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII XIX ở cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Quá trình tổng hợp và phân loại những bài thơ được đề cập trong nghiên cứu này chủ yếu dựa trên những bộ sách mang tính tổng hợp: - Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X - XIX) do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành. - Tinh tuyển văn học Việt Nam do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành. - “Tổng tập” tác phẩm của một số tác giả có vị trí quan trọng trong tiến trình văn học trung đại và một số công trình khảo cứu có liên quan Qua khảo sát những tác phẩm nói trên, chúng tôi tìm được một số bài thơ thể loại thơ trữ tình của nhiều tác giả có đề cập vẻ đẹp ngoại hình, vẻ đẹp nội tâm, hoàn cảnh, số phận hoặc tính cách của người phụ nữ, tình cảm của nhà văn đối với người phụ nữ. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII XIX đặt ra yêu cầu làm nổi bật những đặc điểm của hình tượng người phụ nữ trong mảng thơ trữ tình văn học Việt Nam trung đại thế kỷ XVIII - XIX. Để giải quyết những yêu cầu của đề tài, người viết sử dụng những phương pháp khoa học sau trong quá trình nghiên cứu: Phương pháp lịch sử - xã hội: Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của thể loại thơ trữ tình, đồng thời tìm hiểu, đánh giá tần suất và nội dung của thơ trữ tình viết về người phụ nữ trong văn học viết các giai đoạn trước. Qua đó, xem xét ảnh hưởng của thời đại đến mối quan tâm đặc biệt của các nhà văn đối với người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Phương pháp loại hình: Sử dụng phương pháp loại hình để tìm hiểu đặc điểm loại hình các thể thơ trữ tình nói chung, thơ trữ tình ở các dạng thức trọng điểm mà đề tài đề cập đến nói riêng. Từ đó, rút ra những đặc trưng phân biệt thơ trữ tình với các thể loại thơ khác. Đặc biệt, đề tài đi sâu vào những dạng thức tứ tuyệt, 5 bát cú, trường thiên, đồng thời tìm hiểu những biểu hiện của yếu tố trữ tình trong các dạng thơ này. Phương pháp phân tích - so sánh: Tìm hiểu những đặc trưng của thơ Đường, của thơ ca dân gian Việt Nam để có một cái nhìn khái quát về tiến trình văn học trung đại. Đồng thời, xem xét những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển văn học viết nói chung, thơ trữ tình thế kỷ XVIII - XIX nói riêng, từ đó thấy được quá trình phát triển trong mối tương quan nhiều mặt. Phương pháp tâm lý học: Tìm hiểu tâm lý học sáng tác để có cái nhìn rõ nét về cách thể hiện hình ảnh người phụ nữ, cách lựa chọn dạng thức thơ phù hợp trong thể loại thơ trữ tình của các tác giả trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX. Bên cạnh đó, tìm hiểu tâm lý học tiếp nhận để có cái nhìn tổng quan trong việc tiếp nhận văn học qua sự đánh giá của nhiều thành phần độc giả khác nhau. Phương pháp hệ thống: Đặt các tác phẩm nghiên cứu vào hệ thống thể loại thơ để làm nổi bật đặc trưng thể loại, liên hệ tác phẩm với các tác phẩm của cùng tác giả hoặc các tác phẩm có liên quan để có sự tiếp nhận, đánh giá một cách khách quan về các tác phẩm nghiên cứu. Phương pháp tổng hợp: Sưu tầm và tìm hiểu các tác phẩm trong mối tương quan thời đại để có cái nhìn chính xác về sự phát triển của thơ trữ tình và hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam trung đại. Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này không hoàn toàn tách rời mà kết hợp lẫn nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra. 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ XVIII - XIX”, trước hết, chúng tôi hy vọng đóng góp được một cái nhìn tương đối bao quát và toàn diện về hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII XIX ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật, bởi từ trước đến nay, mảng thơ này tương đối ít được đề cập đến hoặc nếu có cũng chỉ là nội dung thơ của một vài tác giả tiêu biểu. Quá trình tìm hiểu về hình tượng người phụ nữ từ thế kỷ X - XVII sẽ 6 tạo được cái nhìn bao quát, toàn diện về đối tượng nghiên cứu, trở thành bước đệm khẳng định thành tựu của thơ trữ tình thế kỷ XVIII - XIX về người phụ nữ. Thông qua những kết quả nghiên cứu đạt được, chúng tôi cũng hy vọng góp phần chứng minh cho những thành tựu của văn học thế kỷ XVIII - XIX, giai đoạn được đánh giá là phát triển rực rỡ và toàn diện nhất trong lịch sử văn học trung đại. 6. Kết cấu của luận văn Xác định lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng - phạm vi nghiên cứu, mục đích và phương pháp nghiên cứu như trên. Để làm rõ những yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi trình bày hướng phát triển của đề tài như sau: Chương 1. Khái quát về thơ trữ tình viết về người phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam Ở chương này, chúng tôi trình bày khái quát về đặc điểm thơ trữ tình Việt Nam trung đại (thế kỷ X - XIX), tìm hiểu hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ X - XVII và sự phát triển phong phú, đa dạng của thơ trữ tình viết về người phụ nữ thế kỷ XVIII - XIX. Chương 2. Chân dung người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII XIX Chúng tôi đi sâu khai thác hình tượng người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII - XIX ở phương diện nội dung. Cụ thể là tìm hiểu về đối tượng ở khía cạnh vẻ đẹp, tài năng, số phận và khát vọng của người phụ nữ qua cái nhìn của các tác giả đương thời. Đồng thời tìm hiểu thái độ, tình cảm của tác giả khi miêu tả hình tượng người phụ nữ. Chương 3. Nghệ thuật khắc họa chân dung người phụ nữ trong thơ trữ tình thế kỷ XVIII - XIX Nghiên cứu nghệ thuật thể hiện chân dung người phụ nữ ở thể thơ, nghệ thuật sử dụng hình ảnh và ngôn từ. Qua đó, xem xét đặc trưng của hai bộ phận thơ chữ Hán và chữ Nôm đã ảnh hưởng như thế nào đến các phương diện nghệ thuật ấy. Phần kết luận - Kết luận ngắn gọn về những vấn đề đã nêu ở phần nội dung, khẳng định sự phát triển của hình tượng người phụ nữ trong văn học (XVIII - XIX). 7 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ THƠ TRỮ TÌNH VIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 1.1. Khái quát về thơ trữ tình trung đại 1.1.1. Khái niệm thơ trữ tình Văn học Việt Nam trung đại từ thế kỷ X đến hết XIX là một chặng đường dài với sự thay đổi, phát triển nhiều mặt được thể hiện qua những tác phẩm của một lực lượng sáng tác đông đảo bao gồm nhiều thành phần. Tỉ lệ thuận với sự phong phú trong nội dung là sự phát triển về hình thức của tác phẩm văn học. Riêng với những sáng tác thơ, sự phát triển hình thức thể hiện ở cách tác giả sáng tạo ra những hình thức phù hợp với nội dung muốn chuyển tải, tạo ra những thể tài mới từ nguồn nguyên liệu cũ (những cái sẵn có). Thuật ngữ “thơ trữ tình” được chúng tôi sử dụng để giới hạn, làm rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. Khái niệm “thơ trữ tình” là một khái niệm hiện đại, bởi các nhà thơ trung đại chưa bao giờ gọi thơ mình là “thơ trữ tình”. Thơ trữ tình trung đại Việt Nam phong phú về thể thơ, phần lớn được các tác giả “làm trong các dịp tiễn tặng, họa thơ người khác, đề thơ làm kỷ niệm, tức cảnh, tức sự, thư sự, tức là làm thơ theo sự đòi hỏi, khêu gợi của ngoại cảnh. Và khi muốn bộc lộ nỗi lòng thì họ gọi là “Ngôn hoài”, “Thuật hoài”, “Ngôn chí”, “Tự tình”, “Tự thuật”, “Mạn thuật”, “Trần tình”. Những tên gọi này rất đáng chú ý. “Chí”, “tình”, “hoài”, “sự”, “cảnh”… là nội dung trữ tình, còn “thuật”, “ngôn”, “tự”, “trần”… là cách trữ tình. “Thuật” là kể, “tự” cũng là kể, “ngôn” là nói ra, là tuyên bố cho mọi người biết, “trần” là bày tỏ. Có thể xem đó là những dấu hiệu đặc trưng của ý thức trữ tình truyền thống: trữ tình bằng cách thuật kể nỗi lòng mình, cảm xúc, chí hướng của mình” [32, tr.170-171]. Con người trong thơ trữ tình được đặt trong hệ tọa độ của cuộc sống đời thường, phản ánh tâm tư tình cảm con người bình thường với vai trò bình thường gắn với gia đình, với xã hội. Nội dung thơ trữ tình rất phong phú, đa dạng và không hạn chế, bó hẹp trong một khuôn khổ nhất định nào. Các tác giả làm thơ có thể chỉ đơn giản là bộc lộ sự rung động trước một cảnh thiên nhiên đẹp, một con người đẹp, 8 một hành động đẹp… hoặc thể hiện cách nhìn, quan điểm trước nhiều vấn đề: từ những vấn đề mang tính chất xã hội đến những vấn đề trong phạm vi cá nhân riêng tư. Tóm lại, những bài thơ có tính chất bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ, chí hướng của tác giả đều có thể xem là thơ trữ tình. Về hình thức, thơ trữ tình trung đại từ thế kỷ X - XIX được sáng tác ở nhiều thể nhưng phổ biến nhất vẫn là các thể thơ Đường luật: tứ tuyệt, bát cú, trường thiên bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Khi phân chia thể loại (hay thể tài) tác phẩm văn học, người ta thường căn cứ vào ba loại tiêu chí chủ yếu là: “tố chất thẩm mĩ chủ đạo”, “giọng điệu”, “dung lượng và cấu trúc chung của tác phẩm” [1, tr.188]. Một tổng hòa các tiêu chí như vậy làm nên “nòng cốt” (hay mô hình) thể loại. Nhìn từ góc nhìn loại hình, khái niệm thơ trữ tình là một khái niệm quy định nội dung của một tác phẩm văn học ở phương thức phản ánh đời sống. Thơ trữ tình là sự kết hợp giữa thể thơ (thể song thất lục bát, thể thất ngôn tứ tuyệt, thể thất ngôn bát cú, thể trường thiên…) và loại trữ tình tạo nên thể loại thơ mang đậm chất trữ tình. Thơ chất chứa tâm tư tình cảm của tác giả nhưng vẫn tuân theo quy định của thể thơ. Thơ có thể rất ngắn (bốn câu như thơ tứ tuyệt) hoặc dài hơn (vài chục câu đến hàng trăm câu như thể trường thiên) tùy thuộc vào mạch cảm xúc của tác giả, thơ trữ tình hoàn toàn khác với truyện thơ (là sự kết hợp giữa loại tự sự và loại trữ tình) hoặc những khúc ngâm, hát nói… về mặt thể loại. Đề tài của chúng tôi tập trung khai thác những bài thơ trữ tình miêu tả hình tượng người phụ nữ thế kỷ XVIII - XIX… Cụ thể, chúng tôi đi sâu khai thác những bài thơ tứ tuyệt, bát cú, trường thiên (mà số từ ở câu thơ có thể là ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn…) trong cả thơ tự do (giống như thơ cổ phong Trung Quốc - chỉ có vần chứ không tuân theo niêm luật bằng trắc nhưng vẫn đảm bảo tính nhạc điệu của thơ) và thơ Đường luật miêu tả trực tiếp chân dung người phụ nữ hoặc gián tiếp thể hiện tình cảm của các tác giả đối với người phụ nữ. Như vậy, theo đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, có thể định nghĩa thơ trữ tình trung đại là những bài thơ có dung lượng ngắn từ vài câu cho đến hàng trăm câu ghi nhận cảm xúc, bộc lộ suy nghĩ, tâm trạng và chí hướng của tác giả. 9 Thơ trữ tình là một bộ phận quan trọng cấu thành tổng thể của nền văn học trung đại Việt Nam rực rỡ thành tựu. Trải qua mỗi thời kỳ, thơ trữ tình cùng với những thể loại văn học khác luôn luôn vận động và phát triển theo hướng phát triển của lịch sử dân tộc, từng bước thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của văn chương Trung Hoa, khẳng định bản sắc dân tộc đậm nét. 1.1.2. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trung đại Văn học Việt Nam trung đại được xác định cột mốc từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX bao gồm hai bộ phận lớn là bộ phận văn học chữ Hán và bộ phận văn học chữ Nôm. Ở cả hai bộ phận ấy, thơ trữ tình phát triển một cách phong phú và đa dạng về cả nội dung lẫn hình thức. Hầu hết các tác giả trung đại đều có sáng tác thơ trữ tình, số lượng lẫn chất lượng thơ được ghi nhận với một lực lượng sáng tác đông đảo, hùng hậu. 1.1.2.1. Đặc điểm và sự phát triển của thơ trữ tình trong văn học thượng kỳ trung đại Giai đoạn thượng kỳ trung đại là giai đoạn hết sức quan trọng, đóng vai trò nền móng cho toàn bộ nền văn học Việt Nam. Đây là thời kỳ văn học Việt Nam phát triển trong quá trình hoàn chỉnh dần những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật dân tộc cổ truyền, trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa văn học nước ngoài. Tính chất nền móng sẽ quy định hệ thống cấu trúc cũng như quy mô, phương hướng phát triển của văn học sau này. Ở giai đoạn đầu của nền văn học viết, nội dung của các tác phẩm tuy không bó hẹp trong một đối tượng cụ thể nào nhưng phần lớn đề tài văn học vẫn là những vấn đề mang tính chất cộng đồng. Nội dung văn học rất phù hợp với đặc điểm chung của bộ phận văn học chữ Hán - ghi nhận những cảm xúc, suy nghĩ mang tính chất nghiêm túc, trang trọng. Văn học Việt Nam giai đoạn thượng kỳ trung đại phát triển trong hoàn cảnh đất nước liên tục giành những chiến thắng rực rỡ với ngoại bang phương Bắc: hai lần chiến thắng quân Tống, ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, kết thúc hai mươi năm chiến đấu và chiến thắng quân Minh. Hòa cùng không khí chiến đấu và chiến thắng của dân tộc, văn học thời kỳ này xem khẳng 10 định dân tộc là chủ đề cơ bản, là tinh thần, là cảm hứng chủ đạo, đồng thời là nội dung trực tiếp, là phương hướng tư tưởng dẫn dắt việc lựa chọn đề tài và loại thể văn học. Cảm hứng yêu nước, tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo, chi phối những cảm hứng khác. Bộ phận văn học chữ Nôm xuất hiện vào thế kỷ XIII đánh dấu bước nhảy vọt của tinh thần văn hóa dân tộc. Những tác phẩm văn chương chữ Nôm đã bắt đầu xuất hiện từ cuối thế kỉ XIII nhưng chưa ghi được dấu ấn đáng kể (Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là thành tựu lớn nhất của bộ phận văn học chữ Nôm giai đoạn đầu). Thành tựu văn học giai đoạn này được ghi nhận chủ yếu là các tác phẩm văn chương viết bằng chữ Hán bao trùm hào khí Đông A thể hiện tinh thần yêu nước, chống xâm lược và tự hào dân tộc: - “Đề thi khắc vu thạch Trấn ngã Việt tây ngô” (Thân chinh phục Lễ Châu - Lê Thái Tổ) - “Đạo bút phải dùng tài đã vẹn Chỉ thư này chép việc càng chuyên Vệ Nam mãi mãi ra tay thước Điện Bắc đà đà yên phận tiên” (Bảo kính cảnh giới VI - Nguyễn Trãi) Đây “là giai đoạn thịnh đạt của văn chương bác học theo thể chế, khuôn thước Đường Tống, gồm thơ, phú và rất ít văn. Thơ, phú phát triển mạnh và có những thành tựu cao, văn chính luận cũng vậy, nhưng cổ văn theo khuôn khổ Đường Tống bát đại gia thì cực kỳ hiếm” [33, tr.135]. Nghĩa là, so với phú, kí và các thể loại văn chính luận như chiếu, biểu, hịch, cáo… thì thơ trữ tình giai đoạn này không thua kém cả về số lượng và chất lượng. Từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XIII, thơ trữ tình tồn tại chủ yếu dưới hình thức những bài kệ của các thiền sư thể hiện cảm hứng vô vi theo tư tưởng Phật giáo: Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Đáp quốc vương quốc tộ chi vấn (Pháp Thuận thiền sư), Vương lang quy từ (Ngô Chân lưu), Thị đệ tử, Tật lê trầm Bắc thủy (Vạn 11 Hạnh thiền sư), Cáo tật thị chúng (Mãn Giác thiền sư), Sinh lão bệnh tử (Diệu Nhân ni sư), Thị tật (Quảng Nghiêm thiền sư), Đáp Từ Đạo Hạnh vấn chân tâm (Kiều Trí Huyền), Thất châu (Đạo Hạnh thiền sư), Cảm hoài (Kiều Phù), Quy thanh chướng (Phan Trường Nguyên), Quy tịch (Bảo Giác)… và thơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng thiền (thơ thiền): Thị chư Thiền lão tham vấn Thiền chỉ (Lý Thái Tông), Truy tán Vạn Hạnh thiền sư, Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân (Lý Nhân Tông), Tặng Quảng Trí thiền sư, Điệu Chân Không thiền sư (Đoàn Văn Khâm), Sắc không (Lê Thị Ỷ Lan)… Thơ thiền là một mảng sáng tác nổi bật của văn học thượng kỳ trung đại. Các tác giả cảm nhận sự toàn vẹn của thế giới, của vũ trụ, của tự nhiên trong mối giao hòa, đồng điệu với con người. Mọi cảm xúc, cảm giác diễn ra tự nhiên được cô đúc lại bằng ngôn từ hàm súc, người viết cảm nhận bằng tâm và người đọc cũng tiếp nhận bằng tâm. Ở đây, tính chất phi ngã của văn chương Việt Nam trung đại bộc lộ hết sức rõ nét: - “Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Cáo tật thị chúng - Mãn Giác Thiền Sư) - “Khách lai bất vấn nhân gian sự, Cộng ỷ lan can khán thúy vi” (Xuân cảnh - Trần Nhân Tông) Tính chất phi ngã tạo nên một thế giới thơ thiền vừa khép kín lại vừa rộng mở, vừa đơn giản lại vừa thâm thúy sâu xa… Nghiêm Vũ trong Thương lang thi thoại đã cảm nhận về thơ: “Thơ có tài riêng không liên quan đến sách. Thơ có thú riêng không liên quan đến lý. Đạo thơ ở chỗ diệu ngộ. Chỗ diệu kỳ của nó thấu triệt, lung linh, không thể nắm bắt như thanh âm giữa trời, sắc đẹp trong dung nhan, ánh trăng dưới đáy nước. Lời có hạn mà ý vô cùng” [tr.377]. Khoảng cuối thế kỷ XIII - XIV, số lượng tác giả và tác phẩm dần tăng lên, thơ trữ tình phần nhiều được ghi nhận trong các tập thơ: Thái Tông thi tập (Trần 12 Thái Tông), Thánh Tông di tập (Trần Thánh Tông), Nhân Tông thi tập (Trần Nhân Tông), Lạc đạo tập (Trần Quang Khải), Phi sa tập (Nguyễn Thuyện), Cúc hoa bách vịnh (Trương Hán Siêu), Tiều Ẩn thi tập (Chu Văn An), Hiệp Thạch tập (Phạm Sư Mạnh), Nhị Khê thi tập (Nguyễn Phi Khanh)… cùng một số bài thơ có giá trị khác của các tác giả: Đặng Dung (Cảm hoài), Lê Cảnh Tuân (Cống Châu giang trung phùng tiên tỉ kỵ nhật, Nguyên nhật, Mông Lý dịch ngẫu thành), Phạm Ngũ Lão (Thuật hoài, Vãn thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương), Phạm Ngộ (Yết vạn tai từ đường, Đại Than dạ bạc, Thu dạ tức sự, Hỷ tình, Vãn cảnh)… Hầu hết là thơ vịnh cảnh, thơ đi sứ, trong đó, rất nhiều thơ vịnh cảnh và thơ “ngôn chí” được làm trong lúc các tác giả đi sứ. - “Hào cảnh phùng nguyên nhật, Vô gia mẫn thử thân” (Cảnh đẹp lại ngày đầu năm, Thương thân vì nước xa xăm quê nhà) (Nguyên nhật giang dịch - Lê Cảnh Tuân) - “Trí chúa hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà” (Giúp chúa những lăm giằng cốt đất, Rửa dòng không thể vén sông mây) (Cảm hoài - Đặng Dung) Nửa đầu thế kỷ XV lực lượng sáng tác (hầu hết là các nho sĩ) có nhiều biến động do tình hình lịch sử - xã hội của đất nước. Một số nhà nho có thái độ tích cực, tham gia vào cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước khi kháng chiến thắng lợi như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Đào Công Soạn, Nguyễn Thiên Tích, Phan Phu Tiên, Lê Thiếu Dĩnh… một số khác không chịu cộng tác với giặc nên đã chọn giải pháp ẩn dật, lánh đời như Nguyễn Húc, Lý Tử Cấu, Vũ Mộng Nguyên… Tác phẩm của các tác giả này khá phong phú về thể loại (phú, cáo, thơ). Thơ trữ tình có thể kể đến: Ức Trai thi tập (Nguyễn Trãi), Chuyết Am thi tập (Lý Tử Tấn), Cúc Pha thi tập (Nguyễn Mộng Tuân), Vị Khê thi tập (Vũ Mộng Nguyên), Hạ 13 Trai thi tập (Lý Tử Cấu), Tiết Trai thi tập (Lê Thiếu Dĩnh), Trúc Khê thi tập (Trình Thanh)… Đặc biệt, thơ Nôm thời kỳ này có bước tiến mới với Quốc âm thi tập (còn lại 254 bài thơ) của Nguyễn Trãi sử dụng hoàn toàn chữ Nôm với ý thức vận dụng tính chất độc đáo của ngôn ngữ dân tộc để nêu cao bản sắc Việt Nam: - “Tay ai thì lại làm nuôi miệng, Làm biếng ngồi ăn lở núi non” (Bảo kính cảnh giới, XXII ) - “Ngõ tênh hênh, nằm cửa trúc, Say lểu thểu, đứng đường thông” (Thuật hứng, XVI) - “Nếu có ăn thì có lo, Chẳng bằng cài cửa ngáy pho pho” (Ngôn chí, XIX) Nửa sau thế kỷ XV, văn học được thúc đẩy mạnh mẽ với lực lượng sáng tác là vua, quan và các nhà nho. Văn học chữ Hán nhìn chung vẫn trên đà phát triển mạnh mẽ: Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh (Lê Thánh Tông), Châu Khê thi tập (Nguyễn Bảo), Hu Liêu tập (Nguyễn Trực), Hợp tuyển thơ Nôm Hồng Đức Quốc âm thi tập (nhiều tác giả)… Do điều kiện lịch sử quy định, văn hóa Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa nước ngoài, trong đó, ảnh hưởng sâu sắc nhất là từ văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp... Ở giai đoạn thượng kỳ trung đại, nước ta tuy đã thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc và xây dựng nền độc lập tự chủ dân tộc nhưng ở một mức độ nhất định, vẫn còn chịu sự chi phối nhiều mặt (quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn chương, ngôn ngữ văn tự và thể loại văn học) của Trung Quốc. Đặc biệt là ảnh hưởng một cách sâu rộng về văn hóa gây ra sự chi phối suốt một chặng đường dài văn học trung đại Việt Nam. Sự thâm nhập và truyền bá Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đã tạo nên dấu ấn rõ nét trong các sáng tác ở giai đoạn đầu mà lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trên (vua, quan, các nhà nho…). Biểu 14 hiện “Văn dĩ tải đạo” (văn chở đạo) và “Thi dĩ ngôn chí” (thơ để nói chí) là hai biểu hiện đặc trưng cho quan niệm văn học Nho giáo từ Trung Quốc ảnh hưởng đến nhiều phương diện của cả nền văn học trung đại nước ta. Thơ trữ tình trung đại với kiểu nhà thơ “ngôn chí” đặt việc tỏ lòng lên hàng đầu là một ảnh hưởng của mô hình kiểu nhà thơ trung đại Trung Hoa - kiểu nhà thơ “tâm vật cảm ứng”. Trong kiểu tác giả này, “việc “ngôn chí” được nêu lên hàng đầu, như một yêu cầu tu dưỡng, khẳng định lý tưởng, lẽ sống. Nhà Nho coi trọng tính độc lập của nhân cách theo lời dạy của Khổng Tử: “Chí ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ”, nghĩa là: chí hướng về đạo, dựa vào đức, nương theo nhân, tìm thú vui trong lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số. Đặc biệt đề cao khí tiết thanh cao, mạnh mẽ” [32, tr.106]. Thơ ngôn chí thiên về khẳng định chí hướng, lí tưởng, hoài bão, tấm lòng; mang tính chất tuyên ngôn, công bố lập trường, thái độ có tính chất lí tính. Vắng bóng cái tôi trữ tình cá thể là một nguyên tắc thi pháp và là một cách thể hiện nghệ thuật của thơ ca trung đại. Đây là một biểu hiện của cấu tứ thơ Đường Trung Hoa - trọng quần thể nhẹ cá thể - các nhà thơ khéo léo ẩn giấu cái tôi cá nhân đi mà đứng trên một lập trường tách biệt để phát biểu, cũng có nghĩa là các tác giả không phát ngôn với tư cách cá nhân mà phát ngôn với tư cách cộng đồng, nói những vấn đề của cộng đồng. “Ai cũng mong “chở đạo đi xa” thu nhỏ cá nhân mình lại và tránh phải đưa ra những ý kiến riêng tư độc đáo của mình. Cái tôi trữ tình, thậm chí cái ta đạo lý ít nhiều đều bị hạn chế” [33, tr.32]. Thơ ca trung đại mang tính chất vô ngã, các nhà thơ trung đại có ý thức giấu đi bản ngã bởi theo quan niệm của các nhà thơ thời bấy giờ, cái tôi càng ẩn kín thì thơ càng hàm súc, gợi mở. Thơ trữ tình giai đoạn này cũng không nằm ngoài sự chi phối của đặc điểm trên. Tính chất phi ngã trong văn học còn là để thực hiện chức năng giáo hóa, tính chất giáo huấn. Để làm tốt nhiệm vụ “tải đạo”, “ngôn chí” các tác giả thường chú trọng đến việc nêu bật đạo lý thánh hiền, cố gắng xóa nhòa cá nhân mình để tạo ra sức lan tỏa, tính đại chúng cho tác phẩm. “Lời thơ trong thơ trung đại không nhấn 15 mạnh chủ ngữ, ít có dấu giọng, ngữ điệu lời nói rất hiếm khi xuất hiện” [12, tr.157]. Do sự thiếu vắng của chủ thể trữ tình, hình tượng tác giả trong thơ trữ tình trung đại được giấu kín, cái tôi ít xuất hiện một cách trần trụi, con người không là của chính mình mà là của cộng đồng, “lời thơ trung đại là lời thơ không của ai cả” [12, tr.152]. Nhà thơ không bộc lộ toàn bộ cách nhìn, cách cảm của mình, tiếng nói của tác giả thông qua thơ không mang tính chất phát ngôn đúng nghĩa. Thơ trung đại do vậy nên có tính mở cao, hướng ra cộng đồng chứ không bó hẹp trong phạm vi cá nhân tác giả, người phát ngôn thơ ấy không đồng nhất với tác giả. Ở giai đoạn thế kỷ X - XV, các tác giả chú trọng đề cao mục đích giáo huấn, tôn thờ tư tưởng trung quân ái quốc. Nội dung của thơ trữ tình không tách rời khỏi “đạo” và “chí”: - “Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng” (Thuật hứng 5 - Nguyễn Trãi) - “Đội trời đạp đất chốn trần ai, Chí khí đường đường há chịu sai” (Ngôn hoài - Nguyễn Chế Nghĩa) - “Nam nhi vi liễu công danh trái, Tư thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão) Thơ trữ tình thời gian đầu phảng phất phong vị Trung Hoa ở cách các tác giả chọn thể loại, ngôn từ; cảm hứng trách nhiệm (thường viết về các đề tài chính trị, thời sự, nhân sinh), cảm hứng thuận tự nhiên (vô vi, vô vi nhi vô bất vi), cảm hứng thoát tục, trọng quần thể nhẹ cá thể (xem trọng cái cộng đồng hơn cá nhân), tìm kiếm sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, các nguyên tắc biểu hiện (gợi mà không tả, ngôn ngoại chi ý…). Nhưng vượt lên trên những ảnh hưởng mang tính chất tất yếu đó thì “người Việt Nam thông minh, năng động và giàu bản lĩnh, văn hóa Việt Nam hòa nhập những không hòa tan. Cái phần tinh túy nhất của thơ Đường nói riêng và thơ cổ Trung Quốc nói chung đã được ông cha ta tiếp thu, Việt
- Xem thêm -