Hình tượng ngƣời phụ nữ qua một số tiểu thuyết của mạc ngôn

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NV BỘ MÔN NGỮ VĂN ****** NGŨ THỊ TÍCH LINH MSSV: 6095787 HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hƣớng dẫn: ThS.GV. BÙI THỊ THÚY MINH Cần Thơ, năm 2013 ĐỀ CƢƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích và yêu cầu 4. Phạm vi nghiên cứu đề tài 5. Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: MẠC NGÔN TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC ĐƢƠNG ĐẠI THẾ GIỚI 1.1. Khái quát diện mạo văn học đƣơng đại Trung Quốc 1.1.1. Vị trí văn học Trung Quốc từ sau chủ trương “ Cải cách mở cửa” 1.1.2. Tiểu thuyết - bộ phận phát triển tiêu biểu cho văn học đương đại Trung Quốc 1.2. Mạc Ngôn - Nhà văn tiêu biểu cho nền văn học đƣơng đại Trung Quốc 1.2.1. Tiểu sử 1.2.2. Sự nghiệp sáng tác 1.2.3. Tóm lược một số tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn CHƢƠNG 2: HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN 2.1. Số phận của ngƣời phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn 2.1.1. Nạn nhân của chiến tranh 2.1.2. Nạn nhân của xã hội 2.2. Tính cách của ngƣời phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn 2.2.1. Sức phản kháng mạnh mẽ đối với những bất công ngang trái trong xã hội 2.2.2. Sức sống mãnh liệt, kiên cường 2.2.3. Nhân hậu, giàu lòng hy sinh 2.2.4. Những nét tiêu cực trong tính cách của người phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn 2.3. Ý nghĩa hình tƣợng ngƣời phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ QUA MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA MẠC NGÔN 3.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình 3.1.1. Miêu tả ngoại hình nhân vật với tư cách là người dẫn chuyện 3.1.2. Miêu tả ngoại hình nhân vật qua cảm nhận của những người thân trong gia đình 3.2. Xây dựng nhân vật qua đối thoại và hành động 3.3. Xây dựng nhân vật qua miêu tả nội tâm PHẦN KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, nơi xuất thân của nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Ngô Thừa Ân, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần, Tiếu Tiếu Sơn, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu... cùng với những tác phẩm nổi tiếng như: Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Kim bình mai, Liêu trai chí dị... Các nhân vật như Đường Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Tào Tháo, Lưu Bị... đã trở nên gần gũi với người Việt Nam. Cùng với dòng chảy của văn học thế giới, nền văn học Trung Quốc ngày càng phát triển, trong giai đoạn văn học hiện đại với các tác giả khởi đầu như: Lỗ Tấn, Lão Xá, Quách Mạc Nhược cùng những tên tuổi xuất hiện sau này như: Mạc Ngôn, Cao Hành Kiện, Vương Mông, Vương Sóc, Giả Bình Ao và các tác giả trẻ như: Vệ Tuệ, Tào Đình, Quách Kính Minh... Tất cả họ đã góp phần phản ánh xã hội Trung Quốc với nhiều khía cạnh, nhiều góc nhìn khác nhau. Trong dòng chảy của văn học Trung Quốc, Mạc Ngôn là một trong những cây viết nổi tiếng. Ở ông có sự đồng cảm mạnh mẽ đối với những nỗi đau khổ của con người, trong tác phẩm của ông đầy cảnh đói khát và cô đơn. Điều đó cho thấy ông là một nhà văn giàu lòng nhân ái, đây là điều mà người viết thích nhất ở nhà văn này. Đồng thời, phụ nữ luôn là đề tài hấp dẫn và trở thành vấn đề chung của nhân loại. Hàng ngày hàng giờ chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều tác phẩm viết về người phụ nữ ở nhiều khía cạnh khác nhau như về quyền bình đẳng, vị trí, vai trò của họ trong gia đình và xã hội. Tác phẩm của Mạc Ngôn cũng không nằm ngoài những vấn đề ấy. Tuy nhiên, điều người viết thấy và cần khai thác ở các sáng tác của ông đó chính là trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ những người phụ nữ trong tiểu thuyết của ông không chấp nhận buông xui theo số phận mà họ mạnh mẽ, kiên cường đứng lên chống phá những bất công ngang trái của xã hội. Sống trong hoàn cảnh khó khăn cứ tưởng con người sẽ bị tha hóa nhưng những người phụ nữ trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thì lại khác họ càng sống nhân hậu, tình nghĩa và giàu lòng hy sinh hơn. Đó chính là cái hay, cái lạ và nét đẹp trong cách thức thể hiện thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết của ông. Và đó cũng chính là lý do chủ yếu khiến người viết chọn đề tài Hình tượng người phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Trang 1 Đồng thời, đây còn là đề tài có ý nghĩa vô cùng thiết thực. Trước hết thông qua việc nghiên cứu đề tài, góp phần giúp người viết rèn luyện khả năng cảm thụ, sưu tầm, nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khái quát, toàn diện hơn. Những tri thức và kĩ năng đó, thực sự rất cần cho quá trình công tác và học tập của người viết sau này. Ngoài ra, đề tài này còn góp phần nâng cao và mở rộng vốn hiểu biết của bản thân người viết về tiểu thuyết của nền văn học đương đại Trung Quốc, đặc biệt là về những tính cách tốt đẹp của người phụ nữ Trung Hoa giúp người viết có thể học tập, nhìn nhận xác đáng về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong xã hội ngày nay. 2. Lịch sử vấn đề Văn học Trung Quốc đã được dịch rất nhiều ở Việt Nam, nhưng những tác phẩm của Mạc Ngôn độc giả chỉ biết đến chủ yếu qua bản dịch của: Trần Đình Hiến, Lê Huy Tiêu, Trần Trung Hỷ, Nguyễn Thị Thại... Cùng một vài bài nghiên cứu về tác phẩm của ông. Tuy nhiên trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những gì đã có (dù chỉ là một nhận định), người viết cũng cố gắng tiếp cận và làm sáng tỏ vấn đề Hình tượng người phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Sau đây là một số ý kiến trong các công trình nghiên cứu có liên quan ít nhiều đến những vấn đề được đề cập đến trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn mà người viết tham khảo được. Trong lời giới thiệu về quyển Báu vật của đời của nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001 do Trần Đình Hiến dịch có nêu sơ lược về nội dung của tác phẩm Báu vật của đời. Trong lời giới thiệu có viết: “Báu vật của đời khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận của các thế hệ trong gia đình Thượng Quan. Từ những số phận khác nhau, lịch sử được tiếp cận dưới nhiều góc độ, tạo nên sức sống, sức thuyết phục nghệ thuật của tác phẩm” và quyển sách này cũng đánh giá cao tác phẩm “Báu vật của đời là một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc hiện đại.” [8; tr. 6]. Năm 2007, trong quyển Cao lương đỏ của nhà xuất bản Lao động Hà Nội, dịch giả Lê Huy Tiêu có viết: “Truyện của Mạc Ngôn vẫn có cốt truyện theo kiểu truyền thống, nhưng cái hấp dẫn người đọc là ở cảm giác mới lạ. Cảm giác mới lạ này mang đậm Trang 2 sắc thái chủ quan của tác giả. Cái chết thường mang lại cảm giác đau thương sợ hãi, nhưng cái chết của người bà dưới ngòi bút của Mạc Ngôn lại mang cho người đọc cảm giác tự do, giải thoát và khoái lạc! Nhân vật trong Cao lương đỏ ngang tàng, khí phách, phóng túng, tự do, dám phá bỏ mọi ràng buộc của lễ giáo phong tục để đến với sự giải phóng cá tính.” [9; tr. 5]. Bài viết Những tác phẩm đáng đọc nhất của Mạc Ngôn của Hồ Bích Ngọc có đề cập đến nội dung một số tác phẩm của Mạc Ngôn như: Về tác phẩm Cao lương đỏ “Những nhân vật trong truyện hiện ra đầy cá tính, khí phách, sống ngang tàn, lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời Cao Mật.”, Cây tỏi nổi giận cho thấy “Người nông dân vốn bình thường hiền lành, nhẫn nhịn tựa như cây rừng cây tỏi nhỏ bé, nhưng “con giun xéo lắm cũng vằn”, một khi đã bị dồn nén quá sức chịu đựng, họ sẵn sàng vùng lên phản kháng như vũ bão”, còn ở tiểu thuyết Báu vật của đời thì “đem lại cái nhìn khái quát về giai đoạn lịch sử hiện đại của Trung Quốc, vẫn lấy bối cảnh chính là huyện Cao Mật, Mạc Ngôn đã đưa tới cho người đọc những mảng sáng - tối, khuất - tỏ của lịch sử Trung Quốc trong vòng 100 năm.” [20; dantri.com.vn]. Trong bài viết Tình yêu và nhu cầu giải tỏa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn của Nguyễn Thị Vũ Hoài có đề cập đến những tính cách, biểu hiện của các nhân vật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn khi yêu như: “Thật khó tìm ra những thoáng e lệ, thẹn thùng của các nhân vật đang yêu ở tiểu thuyết Mạc Ngôn. Họ yêu và họ hành động một cách mạnh mẽ để bộc lộ tình cảm của mình” hay “Những mối quan hệ nam nữ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn còn gắn với tình nghĩa”. Đồng thời Nguyễn Thị Vũ Hoài còn nhận định “Giới nữ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã gián tiếp lên tiếng chống lại những thân phận tùng thuộc, chờ đợi. Họ vạch mặt những quyền lực đàn áp của định chế chính trị, của xã hội, của đồng lõa phái nam.” [19; www.baomoi.com]. Trên đây là một số tóm lược của người viết về những công trình nghiên cứu, những nhận định, ý kiến đã có đề cập đến số phận, tính cách của người phụ nữ trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Tuy nhiên đó chỉ là xét ở khía cạnh tổng quát. Đối với việc khai thác Hình tượng người phụ nữ qua một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn đến nay vẫn còn là một đề tài mới mẻ, vừa hấp dẫn, vừa là một thách thức không nhỏ cho người viết trong quá trình thực hiện đề tài này. Nhưng bằng chính những nỗ lực của mình Trang 3 người viết hy vọng rằng bài viết này sẽ góp phần giúp bạn đọc hiểu thêm phần nào về hình tượng người phụ nữ nói chung và giá trị của tác phẩm nói riêng. Từ đó có thể nhận ra được những vẻ đẹp trong tính cách của người phụ nữ Trung Quốc nói riêng và người phụ nữ Á Đông nói chung. 3. Mục đích, yêu cầu Thông qua việc khám phá hình tượng người phụ nữ, mục đích, yêu cầu đầu tiên của luận văn là người viết đi vào việc lý giải số phận, những nỗi đau, mất mát mà họ phải chịu đựng trong xã hội đương đại Trung Quốc và đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân ở nhiều góc độ như: Bản thân nhân vật, gia đình, xã hội... Đặc biệt, người viết sẽ chú ý khai thác nét đẹp trong tính cách của người phụ nữ để thấy được vẻ đẹp của người phụ nữ Trung Quốc nói riêng và phụ nữ Á Đông nói chung. 4. Phạm vi nghiên cứu Tìm hiểu về hình tượng người phụ nữ là một đề tài khá gần gũi, hấp dẫn, thú vị. Song, do năng lực có hạn và thời gian không nhiều, đặc biệt là do yêu cầu giới hạn của đề tài nên người viết chỉ đi vào nghiên cứu ba tác phẩm của Mạc Ngôn đã được giới thiệu ở Việt Nam là Cao lương đỏ do Lê Huy Tiêu dịch, Báu vật của đời và Cây tỏi nổi giận do Trần Đình Hiến dịch. Vì đây là ba tác phẩm được xem là xuất sắc của Mạc Ngôn, được nhiều độc giả yêu mến, đồng thời những phẩm chất, tính cách của những người phụ nữ trong ba tiểu thuyết này có thể được xem là tiêu biểu cho hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Người viết sẽ lựa chọn những góc cạnh, những chi tiết, hình ảnh đặc trưng để làm sáng tỏ hình tượng người phụ nữ qua ba tiểu thuyết này. Đồng thời, người viết cũng liên hệ, mở rộng với một số hình ảnh người phụ nữ có những nét tương đồng nào đó về hoàn cảnh, tính cách... trong một số tác phẩm của các nhà văn khác để làm nổi bật hơn hình tượng người phụ nữ trong ba tiểu thuyết của Mạc Ngôn. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp sau: Trang 4 Phương pháp lịch sử: Thực hiện đề tài này, người viết dùng phương pháp lịch sử để tìm hiểu về lịch sử hình thành, sự vận động và phát triển của tiểu thuyết đương đại Trung Quốc, trong đó có sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Phương pháp tiểu sử: Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Mạc Ngôn để có thể lý giải những vấn đề trong tác phẩm của ông một cách sâu sắc hơn. Phương pháp thống kê: Vận dụng phương pháp này để khảo sát và hệ thống lại hình tượng nhân vật được xây dựng trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, từ đó có cái nhìn khái quát về thế giới nhân vật nữ trong tiểu thuyết của ông. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu và phân tích, khái quát và khám phá tác phẩm. Phương pháp so sánh: Vận dụng phương pháp này để đối chiếu tiểu thuyết Mạc Ngôn với các tác giả, tác phẩm khác, đặc biệt là về tính cách, số phận của người phụ nữ và cách xây dựng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của ông. Trang 5 PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: MẠC NGÔN TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC ĐƢƠNG ĐẠI THẾ GIỚI 1.1. Khái quát diện mạo văn học đƣơng đại Trung Quốc 1.1.1. Vị trí văn học Trung Quốc từ sau chủ trƣơng “Cải cách mở cửa” Từ khi Trung Quốc tiến hành chủ trương “Cải cách mở cửa” thì nền văn học Trung Quốc đã bắt đầu chuyển mình. Đặc biệt là những năm đầu thế kỉ mới - thế kỉ XXI thì quan niệm, nhận thức về văn học Trung Quốc rất rộng mở, thoáng hơn trước rất nhiều để có thể phù hợp với giai đoạn mới. Nhìn lại những thăng trầm mà nền văn học Trung Quốc đã trải qua như: Thời kì chống phái hữu năm 1957 và mười năm “Cách mạng văn hóa” (1966 - 1976) và văn học thời kì cải cách mở cửa (thời kì 90) mới thấy được thành tựu to lớn của văn học đương đại Trung Quốc, thành tựu đó được thể hiện ở lực lượng hơn 6000 hội viên, các cơ sở và cơ quan báo chí văn học, các giải thưởng… Đặc biệt, giá trị của những tác phẩm văn học bắt đầu được dư luận xã hội chú ý và những nhà văn, nhà thơ Trung Quốc đã có vị trí quan trọng trên văn đàn trong và ngoài nước. Giải Nobel Văn học của Cao Hành Kiện với tác phẩm Linh Sơn (2000), tiêu biểu cho kết quả của một quá trình phấn đấu của các thế hệ nhà văn Trung Quốc sau bao năm bị gò bó, hạn hẹp và ngày nay văn học đương đại Trung Quốc đã bắt đầu tiến ra thế giới. Quá trình thay đổi quan niệm của nhà văn, nhà phê bình Trung Quốc ngày nay là cả một quá trình. Có điểm lại các sự kiện văn học mới thấy được quá trình thay đổi đó: Qua mười năm động loạn (1966 - 1976) và cuộc “Cách mạng văn hóa” chấm dứt, đã mở ra một thời kì mới đầy dân chủ và sáng tạo cho nền “Văn học thời kì mới” (1976 1986). Những quan niệm, nhận thức lí luận mới được hình thành tạo tiền đề cho nền văn học mới phát triển. Từ phương hướng “Văn nghệ phục vụ chính trị” là kim chỉ nam hành động của văn học đương đại mấy mươi năm đầu, nay đổi lại là “Văn nghệ phục vụ nhân dân”. Với quan niệm “Văn nghệ phục vụ công - nông - binh” thì hình Trang 6 tượng người anh hùng cách mạng luôn luôn rực sáng trong tác phẩm văn học thì nay là “Văn học phục vụ con người, phục vụ đại chúng”. Nếu trước đây đối tượng miêu tả của văn học là công - nông - binh, là con người tiên tiến và điển hình tiên tiến nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước thì nay đối tượng miêu tả của văn học đã rộng hơn rất nhiều, không phân biệt cấp độ nào. Trước đây văn học có “Vùng cấm” của thời kì văn học 1949 - 1966 nay “Vùng cấm” ấy đã được xóa bỏ. Trước đây, văn học coi “Ba tính” (tính Đảng, tính giai cấp và tính dân tộc) là tiêu chí để đánh giá giá trị của một tác phẩm văn học, mà bất kì người cầm bút nào khi sáng tác cũng phải nhận thức đầy đủ và tuân thủ một cách nghiêm túc, phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa là tiêu chuẩn để bình xét tác phẩm văn học thì nay quan niệm ấy đã bị phá bỏ vì không còn phù hợp. Từ ngày 27 tháng 5 đến ngày 5 tháng 6 năm 1978 đại hội mở rộng ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật toàn Trung Quốc lần thứ 03 được khai mạc tại Bắc Kinh, chính thức tuyên bố tập đoàn phản cách mạng đã bị đập tan, văn học nghệ thuật Trung Quốc được khôi phục và bắt đầu được hoạt động theo phương hướng mới. Từ đây, văn học Trung Quốc thực hiện cải cách, đổi mới về mọi mặt nhất là về chủ trương, đường lối và nhận thức. Phương châm “Trăm hoa đua nở” và “Trăm nhà đua tiếng” bước vào thời kì mới được phát huy cao độ và nền văn học Trung Quốc bắt đầu xuất hiện một số trào lưu văn học mới thu hút sự chú ý, tìm tòi sáng tạo của các nhà văn. Đó được coi như là sự phát triển tất yếu của văn học khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa và đón nhận luồng gió “Toàn cầu hóa”. Một số trào lưu văn học mới được hình thành và phát triển như: Trào lưu “Văn học vết thương” - nói về vết thương đau xót, sâu thẳm mà biết bao con người phải chịu oan, chết thảm trong cuộc “Cách mạng văn hóa”; trào lưu “Văn học phản tư” - bên cạnh việc đau lòng khi nghĩ đến vết thương còn để lại, thì các nhà văn thời kì mới còn có dịp để bình tâm, suy nghĩ lại những gì đã xảy ra trước đó. Và đến khi Trung Quốc tiến hành cải cách thì bắt đầu xuất hiện một số trào lưu văn học mới để phù hợp với tình hình mở cửa của đất nước: Trào lưu “Văn học cải cách” - đổi mới văn học từ hình thức đến nội dung; trào lưu “Văn học tầm căn” là trào lưu văn học tìm về nguồn cội, gốc rễ của văn hóa truyền thống mấy nghìn năm xa xưa của dân tộc Trung Hoa, trào lưu văn học “Chủ nghĩa hiện thực khai phóng” là trào lưu Trang 7 văn học mang tính chất toàn cầu hóa chịu ảnh hưởng từ các nước phương Tây, ngoài ra còn xuất hiện trào lưu “Văn học tân tả thực” và trào lưu “Văn học tìm tòi mới” là những trào lưu không chấp nhận phương pháp sáng tác cũ một cách máy móc mà đòi hỏi nhà văn phải tìm tòi sáng tạo đáp ứng được tính chân thực tối cao. Đến những năm 90 khi Trung Quốc bước vào nền kinh tế thị trường thì nền văn học phải đứng trước những thách thức hết sức nghiêm trọng “Tác phẩm là một thứ mì ăn liền, nơi phóng uế bừa bãi hay bãi rác tinh thần.” [3; tr. 75] nhưng chính những thách thức ấy đã tạo cho nền văn học Trung Quốc một nội lực hùng hậu để chọn lọc, rèn luyện ra những nhà văn phù hợp với yêu cầu mới và có chỗ đứng vững chắc trong lòng người đọc. Vì thế các nhà văn đều chọn cho mình một xu hướng đi riêng gọi chung là “Xu hướng các nhà văn” để từ đó có thể tự do thể hiện quan điểm của mình cùng với chủ trương “Mới về ý thức, tự do nhận thức và thoáng về sáng tác, quan niệm đa nguyên hóa và cởi trói trong văn học được thực thi dân chủ trong văn học.” [3; tr. 75] của nhà nước. Nhìn chung, nền văn học Trung Quốc đã bắt đầu hòa nhập với dòng chảy chung của thế giới. Từ năm 1978, văn học bắt đầu thoát khỏi một số khuôn khổ, qui định gò bó, chật hẹp để phát huy cao độ tinh thần “Trăm hoa đua nở”. Từ đó đã tạo nên một thành công rực rỡ cho nền văn học Trung Quốc đáng để các nước khác phải học hỏi. Nội dung văn học ngày càng gần gũi, hiện thực và hiện đại hơn trên tất cả các phương diện phản ánh. Đó là do chủ trương rộng mở “Thoáng về nhận thức và tự do phản ánh”, vì thế các nhà văn có điều kiện thuận lợi trong việc sáng tạo và tìm tòi nội dung để phản ánh hiện thực cuộc sống. Bên cạnh những đề tài truyền thống các nhà văn đã bắt đầu thổi những luồng gió mới mẻ vào nền văn học và đồng thời các nhà văn còn mạnh dạn đề cập đến những vấn đề thầm kín và những lỗ thủng của xã hội… Đó chính là thành quả của một nền văn học đang hướng đến thế giới, là sự hòa quyện giữa lối viết và văn hóa truyền thống với nền văn hóa phương Tây để phù hợp với xu hướng “Toàn cầu hóa - Đa nguyên hóa”. 1.1.2. Tiểu thuyết - bộ phận phát triển tiêu biểu cho văn học đƣơng đại Trung Quốc Trang 8 Xã hội Trung Quốc sau “mười năm động loạn” của cuộc “Cách mạng văn hóa” (1966 - 1976) có nhiều biến đổi sâu sắc. Trung Quốc không còn sống trong môi trường khép kín, coi mình là trên hết. Chính sách mở cửa giao lưu kinh tế - văn hóa - chính trị của chính quyền Trung Quốc đã làm thay đổi sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm và quan niệm của con người Trung Quốc. Cùng với xu thế toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng đến xã hội Trung Quốc làm thị trường Trung Quốc ngày càng sôi động để cùng hòa nhịp với thế giới. Trước tình hình xã hội chuyển mình dữ dội thì tình hình văn học cũng bắt đầu chuyển mình, đặt biệt là những năm đầu của thế kỉ XXI. Về quan niệm, nhận thức của người Trung Quốc cũng dần thoáng hơn để phù hợp với giai đoạn mới. Tiểu thuyết ở thời kì này đã gặt hái được nhiều kết quả rực rỡ, phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Chất lượng của tiểu thuyết thời kì mới thể hiện ở hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng. Nội dung tư tưởng sau “Cách mạng văn hóa” là vạch trần tội ác của “bè lũ bốn tên”, chỉ ra cho người đọc thấy được sự tàn bạo ác độc và nguy hiểm của “Cách mạng văn hóa”. Những bất công, những nỗi khổ của con người trong thời kì “Cách mạng văn hóa” tất cả được đào lên, xem xét nhìn nhận lại, để có cái nhìn đúng đắn vững bước đi tiếp những chặng đường sau này. Chỉ vài năm sau khi đập tan tập đoàn “bè lũ bốn tên” hàng loạt tác phẩm xuất sắc ra đời. Giá trị của những tiểu thuyết bắt đầu được dư luận chú ý, có những nhà văn đã có vị trí lớn trên văn đàn trong và ngoài nước. Đặc biệt, giải Nobel Văn học của Cao Hành Kiện với tiểu thuyết Linh sơn (2000) đó là kết quả của một quá trình phấn đấu của các thế hệ nhà văn Trung Quốc, báo hiệu mùa xuân mới của thời đại tiểu thuyết Trung Quốc. Hình thức tác phẩm cũng được thể hiện một cách đa dạng, phong phú theo phong cách riêng của mỗi nhà văn. Chính sự biến đổi của xã hội Trung Quốc và sự ảnh hưởng của phương Tây nên tiểu thuyết Trung Quốc từ sau cải cách bắt đầu xuất hiện một số đề tài, vấn đề mới mà vốn dĩ văn học trước kia chưa từng thấy xuất hiện. Từ vấn đề đời tư đến vấn đề xã hội tất cả đều được các nhà văn khai thác triệt để và đó như là xu hướng chung của nền tiểu thuyết Trung Quốc đương đại. Tiểu thuyết có xu hướng viết về tình dục xuất hiện ngày càng nhiều. Từ Mạc Ngôn, Giả Bình Ao sau này là Vệ Tuệ, Cửu Đan… ngay cả các nhà văn trẻ cũng đang có xu hướng viết về tình dục một cách mạnh dạn hơn trước. Đại dục nữ (Người đàn bà tắm) của Thiết Ngưng miêu tả cách làm tình khá chi tiết. Tác phẩm Phế đô - Giả Bình Trang 9 Ao có “chiều sa đà vào miêu tả sắc dục, gợi tình không lợi cho việc giáo dục thế hệ trẻ” [3; tr. 80]. Hay một số tác phẩm của Mạc Ngôn bên cạnh những ưu điểm về nội dung và nghệ thuật thì tác phẩm của Mạc Ngôn vẫn rơi vào hiện tượng miêu tả sắc dục, tính dục. Hiện tượng thèm khát quan hệ xác thịt đến mức bệnh hoạn của Tôn Mi Nương trong Đàn hương hình, hay sự dâm loạn quá mức của cụ Kim trong việc miêu tả quan hệ xác thịt giữa mụ và Kim Đồng trong Báu vật của đời. Nhưng quan trọng hơn hết đó không phải là tất cả những gì nhà văn muốn truyền đạt - “tác phẩm thể hiện đầy đủ cách nhìn của tác giả đối với các vấn đề xưa như là lịch sử, quê hương, cuộc sống” [3; tr. 83] và nếu người đọc cảm nhận tác phẩm với quan niệm truyền thống thì sẽ không nhận thấy được những vấn đề mà các nhà văn đương đại đã dám mạnh dạn phản ánh. Xu hướng viết về các vấn đề hiện thực như đói nghèo, tham nhũng và quan trường cũng đã bắt đầu được thịnh hành. Với tinh thần giải phóng tư tưởng - tự do mở cửa các nhà văn đương đại Trung Quốc đã tự mình xóa bỏ những “vùng cấm”, tiếp thu những tinh hoa của văn học phương Tây. Từ đó nền văn học bắt đầu hình thành một số hiện tượng như “Tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa” và “Tiểu thuyết siêu ngắn”. Tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa được bắt đầu từ sau năm 1976, các tác giả thuộc trào lưu “Tiểu thuyết nữ tính chủ nghĩa” thập kỉ 80, 90 của thế kỉ XX. Đa số trưởng thành trong khoảng thời gian 1950 đến 1960, họ được coi là thế hệ gạch nối giữa hai thời kì Trung Quốc trước và sau mở cửa. Một vài gương mặt tiêu biểu như Trương Khiết, Thiết Ngưng, Trì Lợi… Các thế hệ nhà văn nữ này đã có những đóng góp rất lớn cho nền văn học Trung Quốc. Từ những năm cuối thập kỉ 90 cho đến nay có thể xem là khoảng thời gian bùng nổ của văn học nữ Trung Quốc với sự xuất hiện hàng loạt cây bút nữ trẻ nổi tiếng như: Vệ Tuệ, Sơn Táp, Xuân Thụ… Tiểu thuyết siêu ngắn (Việt Nam gọi là tiểu thuyết cực ngắn) là thể loại gắn liền với thời kì cải cách mở cửa. Đây là sự kế thừa truyền thống của những câu chuyện vụn vặt từ ngàn xưa và được phát triển trong hoàn cảnh của thời kì mới. Các tác giả nổi tiếng như: Giả Bình Ao, Vương Mông… các tác phẩm của những nhà văn này được xem như là bức tranh của cuộc sống đương đại. Trang 10 Và một trong những trào lưu khá nổi trội trong nền tiểu thuyết đương đại Trung Quốc chính là “Viết lại truyện cũ” - loại hình sáng tác cải biên các tác phẩm văn học đã có từ trước và đặc điểm lớn nhất của tiểu thuyết viết lại này là phá vỡ quan niệm không gian - thời gian cố hữu, đây là hiện tượng “bình cũ rượu mới” làm mới lại các tác phẩm kinh điển và phương pháp sáng tác độc đáo này đã mang lại cho người viết một không gian sáng tạo mới. Tóm lại, công cuộc cải cách mở cửa từ cuối năm 1970 và đầu 1980 của thế kỉ XX, gắn liền với sự đa nguyên hóa trong sáng tác văn học và cởi mở về chính trị đã dẫn đến một sự thành công, một sự mới mẻ trong sáng tác văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Bằng chính những nỗ lực của mình, nền văn học Trung Quốc đã thật sự tiếp bước được những thành công của tiểu thuyết chương hồi trong lịch sử. Nền văn học Trung Quốc đã không ngừng phát triển và nhận được sự đón nhận nhiệt tình từ phía độc giả khắp mọi miền đất nước. Bằng chứng là ngày càng nhiều tác phẩm được dịch sang tiếng nước ngoài, bởi đơn giản một điều người đọc tìm thấy ở đó là sự giao thoa của một nền văn hóa 5000 năm với sự đa sắc của nền văn hóa thế giới. Chúng ta nhận thấy rằng nền văn học Trung Quốc giờ đây không còn bị gò bó chật hẹp bởi các quan niệm, nhận thức, lí luận truyền thống mà nền “Văn học Trung Quốc đã tiến vào dòng chảy của văn học thế giới” với thể loại tiểu thuyết - một thể loại truyền thống gắn liền với lịch sử và niềm tự hào của dân tộc Trung Hoa mấy ngàn năm. 1.2. Mạc Ngôn - Nhà văn tiêu biểu của nền văn học đƣơng đại Trung Quốc 1.2.1. Tiểu sử Mạc Ngôn Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm 1956. Lớn lên trong một làng quê nghèo ở vùng Đông Bắc Cao Mật, thuộc tỉnh Sơn Đông. Ông học chưa hết bậc tiểu học thì nghỉ. Khi “Cách mạng văn hóa” (1966-1976) nổ ra, Mạc Ngôn đã tham gia viết báo cho tờ báo nhỏ “Quả tật lê tạo phản” nên đã đắc tội với thầy hiệu trưởng và bị đuổi khỏi trường khi đang học dở lớp năm. Tuổi thơ của ông gặp nhiều khó khăn, không được đi học phải đi chăn trâu, chăn dê lang thang một mình với những con trâu con dê trên cánh đồng, trong khi các bạn cùng trang lứa với ông thì được đi học. Chính những năm tháng tuổi thơ đã có ảnh hưởng rất lớn đến những sáng tác của nhà văn sau Trang 11 này. Đối với ông “Những Ấn tượng về nông thôn là hồn, là phách trong các sáng tác của tôi. Đất, sông, hoa, trái, cây cỏ, chim bay, thú chạy, thần thoại, truyền thuyết, ma quỷ, yêu tinh, ân nhân, cừu nhân… của cố hương tôi là nội dung chính trong các tiểu thuyết của tôi.” [12; tr. 262]. Lớn lên, Mạc Ngôn làm rất nhiều việc, các công việc khá vất vả và gần gũi với những người nghèo khổ, nên ông rất hiểu nỗi khổ của dân nghèo. Cũng từ cuộc sống lam lũ vất vả, Mạc Ngôn có quan niệm sáng tác là “sáng tác cho dân” và ông “sáng tác từ vị trí người dân”, xem nỗi khổ của họ như chính nỗi khổ của bản thân mình. Mạc Ngôn là người thông minh, ham học và rất đam mê đọc sách “xem các loại “nhàn thư”, tức sách giải trí, sách tiêu khiển trở thành lạc thú lớn nhất đời đối với tôi.” [12; tr. 277]. Hoàn cảnh lúc bấy giờ làm cho việc học của ông bị gián đoạn, nhưng ông vẫn không ngừng phấn đấu và luôn đam mê được học tập. Tháng 2 năm 1976 ông được gọi nhập ngũ và đây được xem là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Mạc Ngôn. Trong quân đội, Mạc Ngôn tích cực học tập và rèn luyện. Đến ngày 1 tháng 9 năm 1984, ông được rời khỏi quân đội đến giảng đường đại học và thực hiện “giấc mơ đại học” của mình. Mạc Ngôn học khoa văn thuộc học viện Nghệ thuật Quân Giải Phóng. Năm 1985, tiểu thuyết (truyện vừa) đầu tay Củ cải đỏ trong suốt của Mạc Ngôn xuất bản và được dư luận chú ý. Năm 1986, Mạc Ngôn tốt nghiệp đại học. Ông xuất bản tác phẩm Cao lương đỏ và nhanh chóng xác định vị trí văn học của mình trên văn đàn. Cao lương đỏ của ông được giải thưởng toàn quốc năm 1985 1986 và được đạo diễn tài năng Trương Nghệ Mưu chuyển dựng thành phim, và đã đoạt giải thưởng “Cành cọ vàng” tại liên hoan phim Cannes 1994. Năm 1988, Mạc Ngôn trúng tuyển vào lớp nghiên cứu sinh sáng tác tại Học viện văn học Lỗ Tấn thuộc trường Đại Học Sư Phạm Bắc Kinh. Năm 1991, Mạc Ngôn tốt nghiệp với học vị Thạc sĩ. Mạc Ngôn là một trong những cây bút xuất sắc của nền văn học đương đại Trung Quốc đã được các độc giả trong và ngoài nước biết đến. Tác phẩm của Mạc Ngôn luôn thấm đẫm “máu và nước mắt”. Mạc Ngôn đã từng nói trong lời tựa quyển sách Mạc Ngôn và những lời tự bạch: “Tôi là người xuất thân từ tầng lớp hèn kém, tác phẩm của tôi chứa đầy quan điểm thế tục. Nếu ai đó định tìm thấy những điều tao nhã sang trọng trong tác phẩm của tôi, chắc chắn họ sẽ thất vọng. Đó là điều không thể. Người thế nào thì nói lời thế ấy, cây nào thì quả ấy, chim nào thì Trang 12 tiếng hót ấy. Tôi lớn lên từ đói rét cơ hàn, đã từng chứng kiến rất nhiều cảnh đau khổ và bất công, trong lòng tôi tràn đầy sự cảm thông đối với nỗi đau của nhân loại và sự phẫn nộ đối với bất công. Do đó tôi chỉ có thể viết ra những tác phẩm như vậy…” [14]. Điều này đã chứng minh được các tác phẩm của ông luôn hướng tới người dân, ông luôn đứng từ vị trí của người dân để viết, tác phẩm của ông rất gần gũi với người dân. Ông như người phát ngôn của nhân dân, cho nhân dân, vì nhân dân và cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ mà người dân phải chịu đựng. Mạc Ngôn sinh ra trong một gia đình nông thôn có rất nhiều thành viên sống trong một mái nhà “Gia đình tôi rất đông thành viên, có ông nội, bà nội, bố, mẹ, chú, thím, anh, chị; sau đó thím tôi lại sinh được mấy đứa con trai con gái đều nhỏ hơn tôi. Lúc bấy giờ nhà tôi đông nhất làng.” [12; tr. 362]. Tình cảm của người lớn dành cho mỗi đứa nhỏ cũng khác nhau, tạo nên sự phân biệt, dấu ấn trong gia đình cũng rất đậm nét. Cha Mạc Ngôn cũng là một trí thức, có tư tưởng phong kiến nên trong cách dạy bảo con cái rất nghiêm khắc và chặt chẽ, sống trong khuôn phép của cha, ít được tự do thoải mái nên tuổi thơ của ông hay có cảm giác cô đơn, sống khép kín và thường thu mình lại “Người lớn chỉ lo kiếm sống, không ai cai quản chúng tôi, tôi cứ lớn lên một cách lặng lẽ. Thuở nhỏ tôi có thể đứng cả ngày bên một tổ kiến để xem những sinh vật bé nhỏ ấy bận rộn chui ra chui vào, trong đầu tôi xuất hiện không biết bao nhiêu là ý nghĩ kì dị.” [12; tr. 362]. Chính vì sống trong gia đình đông người cộng thêm sự nghiêm khắc trong cách dạy dỗ của cha đã góp phần tạo nên tính cách của Mạc Ngôn là khá trầm và thích hướng nội. Do kí ức về tuổi thơ ở nông thôn rất sâu đậm nên dù Mạc Ngôn đã từ giã làng quê đi làm thợ, đi lính, nhưng dấu ấn ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông vẫn đậm mùi dân dã nơi quê hương của mình. Phong cách ngôn ngữ tự thuật của ông là thiên biến vạn hóa, chen nhiều ca dao thành ngữ, có hơi hướng cổ thi, danh ngôn biền ngẫu, có nhiều câu hay lời đẹp, có thanh có tục làm cho lời văn và phong cách văn chương vừa hay lại vừa gần gũi với người dân, đặc biệt là những người ở nông thôn, có lẽ vì vậy mà người ta yêu mến Mạc Ngôn bởi lẽ tiếng nói của ông như tiếng nói của chính họ. Mạc Ngôn từng nói: “Sáng tác của tôi đang tìm lại những gì đã mất về quê hương, bởi vì thời niên thiếu của tôi gắn liền với nông thôn.” [12; tr. 394]. Các tác phẩm của ông phần lớn lấy cảm hứng từ quê hương và viết về quê hương. Trong tác Trang 13 phẩm Cao lương đỏ đã được Mạc Ngôn dựa vào một câu chuyện có thật ở làng bên cạnh, cùng với kí ức về cuộc chiến tranh chống quân xâm lược. Phải là người rất nhạy cảm và yêu quê hương thì mới có thể nắm bắt được linh hồn của quê hương, từ những câu chuyện nhỏ được nghe, được kể hay những kỉ niệm tuổi thơ của chính mình, ông đã sáng tác ra những tác phẩm hấp dẫn. Mạc Ngôn nhắc lại kỉ niệm, năm đó khi đói quá nên đã ăn trộm một củ cà rốt và bị bắt quỳ xin lỗi trước bức ảnh chủ tịch Mao Trạch Đông bị mọi người cười chê, về nhà thì bị bố giận và đánh một trận sinh tử. Khi viết tác phẩm Củ cà rốt trong suốt cảm hứng xuất phát từ kỉ niệm đó. Trong Đàn hương hình viết về quê hương Cao Mật khi mà bọn Đức sang làm đường sắt đã gây nhiều đau thương, mất mát cho người dân nơi đây. Triều đình thì cấu kết với quân Đức khiến nhân dân phải chịu bao cảnh đau khổ bất công. Tất cả những điều đó đã được Mạc Ngôn phản ánh vào tác phẩm Đàn hương hình với sự cảm thông sâu sắc đối với người dân và ông đã mạnh dạn tố cáo sự tàn bạo dã man của quân lính Đức. Còn trong tiểu thuyết Báu vật của đời nhiều chi tiết được lấy từ chính cuộc đời của mẹ mình và hư cấu thêm. Hay trong quyển Người tỉnh nói chuyện mộng du là những kỉ niệm những dấu ấn trong đời Mạc Ngôn đã trải qua, nó như một quyển nhật kí ghi lại một cách chân thật nhất những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc sống mà không hề có sự hư cấu. Tất cả những gì trải qua trong cuộc sống đều đọng lại trong trái tim nhạy cảm, con mắt tinh đời của Mạc Ngôn, khiến cho mọi tác phẩm đều mang đặc trưng riêng không giống bất cứ nhà văn nào, tạo nên sự khác biệt và thành công cho nhà văn Mạc Ngôn. 1.2.2. Sự nghiệp sáng tác Một số tác phẩm tiêu biểu: Củ cà rốt trong suốt (1986), Gia tộc cao lương đỏ (1987), Bài ca ngồng tỏi thiên đường (1988), Mười ba bước (1989), Hoan lạc (1989), Bạch cẩu thiên thu giá (1989), Tửu quốc (1993), Báu vật của đời (1995), Truyện ngắn Mạc Ngôn (2000), Đàn hương hình (2001), Mĩ nhân băng tuyết (2001), Người tỉnh nói chuyện mộng du, Tứ thập nhất pháo… Ngoài tiểu thuyết ra ông còn viết 24 truyện vừa, trên 60 truyện ngắn và nhiều vở kịch cho sân khấu. Mạc Ngôn đã đóng góp cho nền văn học Trung Quốc nhiều tác phẩm có giá trị và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Trang 14 Các tác phẩm đoạt giải: Cao lương đỏ: Giải Tiểu thuyết toàn quốc lần thứ 4 (1987). Bộ phim nhựa cùng tên được chuyển thể bởi đạo diễn Trương Nghệ Mưu, đoạt giải Gấu vàng tại liên hoan phim Berlin lần thứ 38. Bạch cẩu thiên thu giá: Giải Văn học Liên hợp Đài Loan (1988). Được chuyển thể sang kịch bản phim Ấm đoạt giải Vàng tại liên hoan phim Tokyo lần thứ 16. Báu vật của đời: Giải Văn học Đại gia - Hồng Hà lần thứ nhất (1996). Tửu quốc (bản tiếng Pháp): Giải Văn học nước ngoài của Pháp “Laure Bataillin” (2001), giải 10 quyển sách lớn trong năm 2001 do báo Liên hợp Đài Loan trao tặng, giải Văn học Đỉnh Quân lần thứ nhất (2002). Các tặng thưởng: Huân chương Kỵ sĩ nghệ thuật văn hóa Pháp (3/2004). Giải thưởng lớn Văn học Hoa ngữ và Thành tựu xuất sắc trong năm (4/2004). Giải văn học quốc tế Nonino Italia lần thứ 30 (1/2005). Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học Công khai Hồng Kông trao tặng (12/2005). Giải Nobel Văn chương của Viện Hàn lâm Thụy Điển (10/2012). 1.2.3. Tóm lƣợc một số tiểu thuyết của Mạc Ngôn 1.2.3.1. Tiểu thuyết Cao lương đỏ Tiểu thuyết Cao lương đỏ là câu chuyện của nhân vật “tôi” kể về “ông nội”, “bà nội” của mình thời kì thập niên 30 của thế kỉ XX. Ở một miền quê vô cùng nghèo khổ, lạc hậu thuộc vùng phương Bắc Trung Quốc, một cô gái xinh đẹp mười sáu tuổi tên là Đái Phượng Liên vì bố ham tiền đã ép gã cô cho Đơn Biển Lang là con trai của Đơn Đình Tú, một tài chủ nổi tiếng ở quê hương Đông Bắc Cao Mật, một chủ lò chuyên nấu rượu cao lương. Nhưng Đơn Biển Lang lại là một tên hủi. Trước ngày cưới, Đái Phượng Liên luôn mơ về người chồng tương lai với biết bao hy vọng về một cuộc sống thật hạnh phúc sau này. Qua nhiều lời kể của Trang 15 bạn gái nói rằng Đơn Biển Lang bị bệnh hủi, lòng của Đái Phượng Liên đã trở nên hoang man và đem chuyện đó tâm sự lại với bố. Với lòng tin tưởng tuyệt đối với bố mẹ, Đái Phượng Liên tin rằng không bố mẹ nào lại nhẫn tâm đem con gái của mình gã cho một người bị bệnh hủi, cô đã bỏ qua tất cả và càng mong mau đến ngày cưới. Nhưng sự thật thường hay tàn nhẫn đến mức đau lòng, khi trên đường về nhà chồng cô đã nghe những người phu kiệu trò chuyện và hình bóng người chồng bị bệnh hủi hiện rõ dần lên trong tâm trí của cô, lòng cô như bị kim châm, đau đớn vô cùng. Theo tập tục bấy giờ, phu kiệu lắc kiệu để trêu cô dâu. Dù rất khó chịu nhưng cô vẫn cắn răng chịu đựng. Đến lúc không chịu nổi, cô nôn thốc nôn tháo ra kiệu và bật khóc nức nở khiến cho phu kiệu xúc động và họ không lắc kiệu nữa. Kiệu đến đầm Con Cóc, một vùng cao lương rậm rạp, vắng lặng, thường hay có cướp. Không khí nặng nề bao trùm. Bỗng từ trong bụi rậm, xuất hiện một tên cướp bắt kiệu dừng lại, đòi tiền mãi lộ và định cướp cả cô dâu. Trong lúc mọi người nộp tiền cho tên cướp, cô nhảy xuống định đi vào ruộng cao lương, một phu kiệu tên Từ Chiếm Ngao xông ra đánh chết tên cướp. Từ Chiếm Ngao nhẹ nhàng cầm lấy đôi bàn chân nhỏ nhắn của cô đẩy vào trong kiệu như nâng đỡ một con chim non vậy. Ánh mắt hai người trao nhau, không nói gì nhưng hai trái tim đã hòa cùng một nhịp. Kiệu đến quê chồng, chỉ có một lão già gầy gò tết đuôi sam ra đón, không ai đến xem chỉ có hai người đàn ông lớn tuổi dìu nàng làm lễ. Đêm động phòng cô luôn cầm con dao trong tay, không cho chồng bước đến gần mình. Sáng dậy cô định bỏ chốn nhưng đã bị giữ lại. Bố chồng dùng lời ngon ngọt và cả gia tài của mình để thuyết phục cô con dâu chấp nhận sống với đứa con bị bệnh hủi của mình. Sau lễ cưới ba ngày, cô được bố đẻ rước về nhà theo phong tục của vùng Đông Bắc. Đến cánh đồng cao lương hôm trước, đang ngồi trên lưng con la, bỗng một cánh tay lực lưỡng quắp lấy cô, chạy sâu vào đám cao lương. Khi phát hiện kẻ cướp chính là ân nhân của mình hôm trước, cô vừa kinh hãi vừa sung sướng. Từ Chiếm Ngao phát cao lương, trải áo tơi dọn cho người tình một chỗ nằm êm ấm. Họ yêu mến nhau trong ruộng cao lương đang sinh sôi nảy nở dưới bầu trời ngát hương. Khi cô trở về nhà chồng thì hay tin Đơn Biển Lang cùng Đơn Đình Tú đã bị ai đó giết chết, xác còn để ngoài đầu phía tây thôn. Khi đám nấu rượu định giải tán thì cô Trang 16 đứng ra quản lí việc nhà và tiếp tục thuê thợ nấu rượu cao lương. Chẳng bao lâu sau bọn thổ phỉ đến nhà bắt cóc cô đòi tiền chuộc. Ông Lưu La Hán - người giữ kĩ thuật nấu rượu trong nhà đã cùng thợ nấu rượu góp ba ngàn đồng chuộc cô về. Bao năm sinh sống cô trở thành một người phụ nữ phóng đãng. Cô cùng Từ Chiếm Ngao sinh ra đứa con trai tên Đậu Quan. Mọi người đang sống trong yên lành thì bọn giặc Nhật kéo đến. Chúng giết người vô tội, bắt phu, bắt la, ngựa, lừa… để làm đường. Hai con la đen nhà cô cũng bị bắt đi, ông La Hán ngăn cản liền bị hai tên lính làm bị thương. Sau đó, bọn chúng bắt ông dắt la ra công trường và làm phu. Trên công trường ông La Hán bị bọn chúng đánh đập tàn nhẫn, may nhờ anh thanh niên biếu bọn chúng gói thuốc lào, ông mới được yên. Tối nằm ở lán trại, ông La Hán giật mình thức giấc thấy anh thanh niên ban trưa dùng sức bẻ cong sắt tìm đường ra, đánh chết một tên lính Nhật lấy súng rồi chạy vào ruộng cao lương. Ông cũng chạy theo, nhưng nhớ đến hai con la đen nên quay trở lại tìm cách cứu chúng. Vậy mà chúng không nhận ra ông do mùi tanh trên người ông từ sáng đến giờ. Ông La Hán tức giận, dùng xẻng đánh chết một con la. Bọn Nhật phát hiện và bắt ông, sau đó ép tên mổ lợn nổi tiếng là Tôn Ngũ dùng dao lột da ông để đe dọa mọi người. Từ Chiếm Ngao lãnh đạo thợ nấu rượu chống lại quân xâm lược mà không chấp nhận đầu quân dưới trướng Vương tộc trưởng, đại diện là Chi đội trưởng Lãnh, ông có cách đánh riêng của ông. Mùng 9 tháng 8 năm 1939, Chi đội trưởng Lãnh xin phối hợp với Tư lệnh Từ Chiếm Ngao chặn đánh đoàn xe Nhật đi qua vùng cao lương Đông Bắc. Tư Lệnh Từ cùng đoàn người của mình và Đậu Quan nằm phục dưới đê. Chờ mãi cho đến trưa mặt trời đã đứng bóng mà chưa thấy động tĩnh, Tư Lệnh Từ nóng giận và chửi Chi đội trưởng Lãnh rồi bảo Đậu Quan về nói với mẹ tráng bánh đem ra cho mọi người. Đái Phượng Liên cùng vợ Vương Văn Nghĩa gánh bánh tráng và canh đậu xanh đem ra ruộng cao lương. Đậu Quan thấy những chiếc ô tô của giặc bèn la lên, mọi người vào thế chuẩn bị. Do linh cảm, Đậu Quan quay về phía tây và gọi “Mẹ ơi!”. Sau đó, bọn Nhật bắn súng liên tục vào hai người phụ nữ. Vợ Vương Văn Nghĩa chết tại chỗ, Đái Phượng Liên bị thương. Đậu Quan nhảy lên chỗ mẹ, anh câm lao mình lên mặt đê lôi Trang 17
- Xem thêm -