Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Liên Sơn Thăng Long

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Khái quát về doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lời, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp thành lập công ty có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhận Phân loại doanh nghiệp - Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu: Doanh nghiệp tư nhân (Proprietorship). Doanh nghiệp hợp danh (Partnership). Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (Corporation) - Căn cứ và hình thức pháp lý doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là các nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành 1 viên góp vốn. Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một các nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng ký lại hay chuyển đổi theo quy định - Căn cứ vào chế độ trách nhiệm Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn 1.1.2. Các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp 1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hóa. Tùy theo tình hình phát triển thị trường tài chính của mỗi quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau. Có hai hình thức huy động vốn chủ yếu, đó là huy động vốn chủ sở hữu và huy động vốn nợ. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu chủ yếu là là huy động từ: - Vốn góp ban đầu; - Lợi nhuận không chia; - Phát hành cổ phiểu mới; Các hình thức huy động vốn nợ chủ yếu huy động từ: - Tín dụng ngân hàng; - Tín dụng thương mại; - Tín dụng thuê mua; - Phát hành trái phiếu; 1.1.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ công tác tổ chức và quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các hoạt động này 2 Thang Long University Library chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan, trong quá trình phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế đòi hỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh phải tuân thủ theo các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa như quy luật cung cầu, giá trị, cạnh tranh. Đồng thời các hoạt động này còn chịu tác động của các nhân tố bên trong, đó là tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất, tình hình sản xuất, tiêu thụ, giá cả các chính sách tiếp thị, khuyến mãi… và các yêu tố bên ngoài doanh nghiệp như sự thay dổi về cơ chế, chính sách thuế, tỷ giá ngoại tệ, chính sách ưu đãi đầu tư… Do vậy khi thống kê kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cần hiểu rõ ý nghĩa, nhiệm vụ, đặc điểm, hệ thống chỉ tiêu thống kê, và phải thống kê kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng tiêu dùng, không tự sản xuất được hoặc không đủ điều kiện để tự sản xuất những sản phẩm vật chất và dịch vụ mà mình có nhu cầu tiêu dụng, hoạt động này sáng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để cung cấp cho người tiêu dùng nhằm thu được tiền công và lợi nhuận kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh có đặc điểm: Khác với hoạt động từ túc cấp chi phí kinh doanh, động cơ và mục đích của hoạt động kinh doanh là sản xuất sản phẩm vật chất hay dịch vụ không phải để tự tiêu dùng mà để phục vụ cho nhu cầu của người khác nhằm thu lợi nhuận Hoạt động sản xuất kinh doanh phải hạch toán được chi phí sản xuất, kết quả sản xuất và lãi (lỗ) trong kinh doanh Sản phẩm của hoạt động sản xuất kinh doanh có thể cân, đong, đo đếm được, đó là sản phẩm hàng hóa để trao đổi trên thị trường. Người chủ sản xuất phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm mình sản xuất ra. Hoạt động kinh doanh phải luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường nhưu các thông tin về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm, thông tin về xu hướng tiêu dùng của khách hàng, thông tin về kỹ thuật công nghệ để chế biến sản phẩm, về chính sách kinh tế tài chính, pháp luật Nhà nước có liên quan đến sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh thúc đẩy mở rộng sản xuất và tiêu dùng xã hội, tạo điều kiện cho tích lũy vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế xã hội, phát triển khoa học kỹ thuật, tạo ra sự phân công lao động xã hội và cân bằng trong cơ cấu sản xuât. 3 1.2. Quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.2.1. Tổng quan về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản là khái niệm gọi chung cho các của cải, vật chất được dùng vào mục đích sản xuất của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu quan trọng nhất đó là tối đa hóa giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu. Tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, mỗi loại tài sản chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. 1.2.1.1. Khái niệm Tài sản ngắn hạn Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995, theo đó tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Tiếp đó, Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” . Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật dân sự 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản. Theo đó tài sản gồm: tiền – nội tệ và những đối tượng khác, tuy nhiên những đối tượng đó chỉ được gọi là tài sản nếu đáp ứng được các tiêu chí sau: Phải mang lại lợi ích nào đó cho con người và phải trị giá được bằng tiền. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp: Tài sản trong DN là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kế toán của DN. Tài sản của DN chính là bộ phận được hình thành trong quá trình đầu tư của DN cũng như tài sản là của cải vật chất của DN dung vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dung. Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của DN, biểu thị cho những lợi ích mà DN thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho công cụ dụng cụ của mình. Nói các khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị thỏa mãn các điều kiện sau: Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của DN. Có giá trị thực sự đối với DN. Có giá phí xác định 4 Thang Long University Library 1.2.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn  Căn cứ vào các khâu của quá trình kinh doanh:  Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ Nguyên vật liệu chính: nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất, chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm Nguyên vật liệu phụ: nguyên vật liệu không đóng vai trò chủ yếu tạo nên sản phẩm, góp phần làm cho sản phẩm bền đẹp hơn Nhiên liệu, phụ tùng thay thế: nhiên liệu, phụ tùng thay thế sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Công cụ, dụng cụ: tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất chung có giá trị thấp, không đủ tiêu chuẩn trở thành tài sản cố định.  Tài sẳn ngắn hạn trong khâu sản xuất Sản phẩm dở dang: toàn bộ những sản phẩm chưa chế tạo xong, còn nằm trên dây chuyền sản xuất hoặc trong kho Bán thành phẩm: sản phẩm dở dang đã kết thúc một vài quy trình biến đổi nhưng cần được biến đổi tiếp qua một vài quy trình mới trở thành sản phẩm Chi phí chờ kết chuyển: các chi phí liên quan đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh, được phân bổ vào chi phí sản xuất các kỳ nhằm đảm bảo giá thành ổn định.  Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông. Thành phẩm: tổng số sản phẩm đã hoàn thành, nhập kho và chờ tiêu thụ. Hàng hóa mua ngoài: hàng hóa được mua từ bên ngoài doanh nghiệp. Hàng hóa gửi bán: các sản phẩm được gửi bán tại đại lý nhưng chưa được khách hàng chấp nhận Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản ký cược, ký quỹ, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn… Các khoản vốn dùng trong thanh toán: bao gồm các khoản phải thu khách hàng, tạm ứng phát trinh trong quá trình mua bán,… Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.  Căn cứ vào hình thái biểu hiện và khả năng thanh khoản:  Tài sản bằng tiền: các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng… Cách đánh giá này cho doanh nghiệp biết cơ cấu dự trữ của các khoản mục, khả năng 5 thanh toán của doanh nghiệp và có giải pháp điều chỉnh hợp lý. Phân loại dưa trên các khoản mục trên bảng CĐKT Căn cứ theo các khoản mục trên bảng CĐKT, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.  Tiền mặt: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng. Tiền mặt được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm TSCĐ, trả lương nhân viên và chi trả các khoản khác  Đầu tư tài chính ngắn hạn  Phải thu ngắn hạn: được hình thành từ việc bán chịu cho khách hàng, khoản thu được tạo lập dựa trên cam kết giữa doanh nghiệp và người mua hàng. Phổ biến nhất hiện nay là hình thức tín dụng thương mại – cho các doanh nghiệp khác nợ, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng cho doanh nghiệp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán.  Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình SXKD, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp lý là vấn đề của nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình SXKD của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ cho doanh nghiệp  Tài sản ngắn hạn khác 1.2.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn: Tài sản ngắn hạn thường chiếm đến 25 – 50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp nên đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi. Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí giao dịch, chi phí giao dịch bao gồm phí dịch vụ cho việc mua bán chứng khoán, các khoản lỗ tiềm tàng do phải bán gấp các tài sản trong khi có thể kiếm lời nhiều hơn nếu có thêm thời gian. Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian. Điều này xuất hiện trong quá trinh sản xuất, marketing và thu tiền. Do các giao dịch có 6 Thang Long University Library diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng các chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán dễ khuyễn khích khách hàng thanh toán sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ. Một vai trò nữa của tài sản ngắn hạn là trong các trường hợp cần phải chi trả các chi phí liên quan đến pháp luật, chi phí gián tiếp trong quản lý. Những chi phí này rất lớn nên nhà quản lý thường xem chúng như những áp lực tài chính và có xu hướng dự trữ một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo khả năng thanh toán ngay cả khi việc này đem lại ít lợi nhuận hơn so với đầu tư tài sản dài hạn. Chính vì vậy, chính sách quản lý tài sản đối với doanh nghiệp hết sức quan trọng. 1.2.2. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề mà mọi doanh nghiệp quan tâm, sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Chính vì thế hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận và tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. Theo nghĩa chung nhất: “Hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đầu ra tốt nhất với mục đích xác định”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu với tổng chi phí thấp nhất. Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu cao nhất với mức tài sản lưu động hợp lý (tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí). Tài sản lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của tài sản lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho quá trình sản xuất, tiến hành sản xuất, bán sản phẩm thu về tiền tệ ở khâu cuối cùng với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của tài sản lưu động. Doanh nghiệp sử dụng tài sản lưu động đó càng hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nhiều, thu về lợi nhuận nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng tài sản lưu động, điều đó đồng nghĩa với doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản lưu động (số vòng quay tài sản lưu động trong một năm). 7 1.2.3. Các yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan - Ngành nghề kinh doanh Trên thị trường, mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm khác nhau như tính mùa vụ, chu kỳ sản xuất kinh doanh… từ đó có tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh có tính chất mùa vụ thường có biến động trong sử dụng tài sản ngắn hạn tương ứng với mùa vụ đó. Ngoài ra, các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất ngắn sẽ có thời gian quay vòng vốn nhanh và tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. - Xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn Việc xác định đúng nhu cầu của doanh nghiệp về tài sản ngắn hạn cho chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp giúp định hướng rõ về cơ cấu của tài sản ngắn hạn, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra đúng hạn. Nếu xác định thiếu, ngay lập tức doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn cho chi trả, thanh toán hoặc thiếu hàng hóa để cung cấp cho đối tác, Nếu rơi vào tình trạng quá cấp bách, doanh nghiệp có thể phải đi vay mượn, làm tăng chi phí sử dụng tài sản ngắn hạn. Trường hợp xấu hơn, doanh nghiệp không đi vay mượn được sẽ trực tiếp tạo ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp, Ngược lại, nếu xác định dư thừa, doanh nghiệp sẽ phải phát sinh các khoản như chi phí cơ hội do dự trữ tiền mặt, chi phí quản lý kho đẫn đến hiệu suất sử dụng tài sản thấp. Chính vì vậy, xác định được đúng nhu cầu tài sản cho doanh nghiệp là hết sức quan trong để đảm bảo chu trình hoạt động của doanh nghiệp. - Chi phí Chi phí là yêu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản. Nhà quản lý cần cân nhắc các quyết định về chi phí để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Nếu chi phí bị đẩy lên quá cao sẽ khiến cho giá thành của hàng hóa, dịch vụ tăng theo, tất yếu dẫn theo sức mua giảm, doanh thu bị giảm theo. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp làm giảm thiểu chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm của doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. - Năng lực và trình độ quản lý Năng lực và trình độ quản lý doanh nghiệp tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh thông qua các quyết định của nhà điều hành. Phẩm chất và năng lực của nhà 8 Thang Long University Library quản lý cần phải tốt để dẫn dắt doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường đầy cạnh tranh. Khả năng nhanh nhạy trong bắt nhịp xu thế thị trường và điều phối tài nguyên của doanh nghiệp có thể nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp Phương pháp quản lý: Theo dõi tình hình tiền mặt: Cần theo dõi theo định kỳ hằng ngày nhằm bảo đảm cho tất cả các khoản nợ phải được trả đúng thời hạn. Nếu tiền mặt bị giảm đến mức báo động thì chủ DN phải tìm hiểu nguyên nhân tại sao? Có thể do chểnh mảng trong việc thu nợ, hoặc do tồn kho quá nhiều...trong khi tìm nguyên nhân, chủ DN cần phải cứu vãn tình thế bằng nhiều hình thức nhằm duy trì hoạt động của doanh nghiệp. Việc quản lý tiền mặt là nhiệm vụ thiết yếu của doanh nhân, nhờ kiểm soát thường xuyên chúng ta sẽ kịp thời xử lý dư nợ, hàng chậm bán và chặn đứng việc tiêu hao tiền mặt hoặc vay vốn khi cần thiết. Phân tích các khoản nợ phải thu: Cho dù chúng ta không thiếu tiền mặt, hằng tuần cũng nên dành thời gian phân tích các khoản nợ phải thu của mình, kiểm soát được nó sẽ giúp cho doanh nghiệp biết được số nợ tồn đọng bao lâu rồi? vì sao họ không trả? Chúng ta có thể đề ra chính sách đòi nợ tích cực hơn không? Có nên tiếp tục duy trì mối quan hệ hay chấm dứt? Kiểm soát lượng hàng bán ra và chiều hướng tăng giảm: Nếu lượng hàng bán ra tăng theo ý muốn là điều tốt cho doanh nghiệp, nhưng nó lại tăng đột xuất ngoài dự kiến thì cần phải kiểm soát và phân tích, có thể do giá cả rẻ, nhu cầu đột biến, hàng hóa khan hiếm...cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Nếu đó là sự tăng trưởng do nhu cầu tiêu dùng thì cần phải điều chỉnh tăng nguồn vốn nhằm đáp ứng đầy đủ. Ngược lại hàng bán ra giảm sút hay không tăng đúng theo dự tính, chủ doanh nghiệp cũng phân tích tìm ra lý do tại sao có sự suy giảm đó, để kịp thời tìm ra biện pháp đối phó. Kiểm tra năng suất làm việc: Hàng tháng cần phải kiểm soát lại năng suất làm việc và hiệu quả công tác của từng bộ phận, từng nhân viên dưới quyền mình phụ trách. Nếu năng suất và hiệu quả công tác thấp, người quản lý phải tìm hiểu nguyên nhân (có thể do chỉ tiêu đưa ra quá cao, máy móc trục trặc, nhân viên kém cỏi tay nghề, thiếu vật tư nguyên liệu, sự điều hành kém...)Nếu kiểm soát tốt cần kèm theo chế độ thưởng, phạt nghiêm minh, điều này đồng nghĩa với sự khuyến khích tài năng và triệt tiêu các biểu hiện tiêu cực trong nội bộ. Kiểm soát hàng tồn kho: Chủ DN phải biết rõ số hàng trong kho còn bao nhiêu? Có đủ đáp ứng lượng hàng bán ra hay là tồn kho quá nhiều? từ đó sẽ ban hành chiến 9 lược gì?(nên giữ giá hay giảm giá?) Hàng tồn kho chiếm một phần quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, việc kiểm soát hàng tồn kho sẽ giúp cho doanh nghiệp có tiền mặt để dùng vào mục đích khác. 1.1.1.2 Các nhân tố khách quan - Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Các doanh nghiệp hiện đang hoạt động trên nền kinh tế thị trường chịu sự điều tiết của Nhà nước. Nhà nước điều tiết hoạt động thị trường thông qua các chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách bảo trợ. Một mặt, các chính sách tích cực của Nhà nước như ưu đãi tín dụng, ký kết các hiệp định thương mại, tham gia các tổ chức thương mại trong khu vực và thế giới đã tạo môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp có cơ hội phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, trong chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước còn nhiều điểm hạn chế và chưa hoàn thiện khiến cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn trong khi làm thủ tục hành chính, thương mại. - Sự phát triển của khoa học công nghệ Khoa học công nghệ luôn phát triển nhanh và vượt trội với nhiều thay đổi, chính những sự thay đổi này đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nếu bắt kịp xu hướng mới, hiệu quả kinh doanh được tăng cường. Song để có thể nhanh chóng bắt kịp được những tiến bộ này cũng đòi hỏi doanh nghiệp chịu khó đầu tư, thay đổi, điều này là không dễ với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ. - Môi trường tự nhiên Là yêu tố tự nhiên, những rủi ro đến từ môi trường bao gồm mưa, bảo, lũ, hỏa hoạn, thường gây tổn thất lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là về mặt tài sản. Đây là yêu tố mà các doanh nghiệp luôn phải chú ý đề phòng cũng như xây dựng các phương án đối phó với rủi ro khó tranh được này. Tóm lại, hai nhân tố trên có ảnh hưởng đến kinh doanh của doanh nghiệp bắt nguồn từ nhiều yếu tố khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực, loại hình kinh doanh và môi trường. Song việc nắm bắt tổng thể các yếu tố này có thể quản lý được mọi tác động của các yếu tố đến doanh nghiệp, kể cả các yếu tố mang tính biến động, bất ngờ. Môi trường kinh doanh Biến động cung cầu hàng hóa: tác động vào khả năng cung ứng của thị trường với nhu cầu nguyên vật liệu hay khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp trên thị trường, từ 10 Thang Long University Library đó làm tăng hay giảm mức dự trữ của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới khả năng quay vòng của tài sản ngắn hạn, đến mức sinh lời. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, sức mua bị giảm sút làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, sản lượng tiêu thụ bị suy giảm, doanh thu ít đi, lợi nhuận giảm sút và tất yếu làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doang nói chung và tài sản ngắn hạn nói riêng. Mức độ cạnh tranh trên thị trường: để đạt được hiệu quả cao nhất trong nền kinh tế thì mỗi doanh nghiệp phải có những biện pháp, chính sách hấp dẫn so với đối thủ cạnh tranh như chấp nhận bán chịu, cung ứng đầu vào ổn định, chi phí thấp, như vậy doanh nghiệp sẽ phải đề ra các biện pháp và các chiến lược thích hợp để tăng vòng quay tài sản ngắn hạn, giảm chi phí, tăng lợi nhuận. 1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. 1.1.1.3 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán - Hệ số khả năng thanh toán hiện hành Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả của doanh nghiệp. Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh, bao gồm khoản phải trả người bán, nợ ngắn hạn ngân hàng, thuế phải trả và các khoản chi phí phải trả ngắn hạn khác. Hệ số này cho biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Trường hợp nợ ngắn hạn nhiều hơn tài sản ngắn hạn thì hệ số này sẽ nhỏ hơn 1, doanh nghiệp không đảm bảo được khả năng thành toán khoản nợ ngắn hạn. Nếu hệ số xấp xỉ bằng 1 thì có thể nói tình hình tài chính là khả quan, công ty có đủ khả năng đáp ứng khoản nợ. Nhìn chung, chỉ số này ở mức 2 hoặc 3 được xem là tốt, chỉ số càng thấp thì doanh nghiệp càng gặp khó khăn đối với việc thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiện, không phải hệ số khả năng thanh toán càng cao càng tốt, khi tài sản ngắn hạn cao hơn nợ ngắn hạn quá nhiều có thể gây ra tình trạng ứ đọng vốn, nguồn tiền nhàn rỗi lớn, tạo ra chi phí cơ hội không cần thiết khi dự trữ tài sản lưu động quá nhiều thay vì đầu tư sinh lời hoặc lượng hàng tồn kho và các khoản phải thu có nguy cơ không thu hồi được quá nhiều. Bên cạnh đó, hệ số này thấp hay cao còn phụ thuộc vào ngành nghề doanh 11 nghiệp đó kinh doanh. Nếu đối với doanh nghiệp thương mại thì lượng tài sản ngắn hạn sẽ rất cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản dẫn đến hệ số này cũng tương đối cao. Do đó, khi đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cần phải dựa vào hệ số trung bình của doanh nghiệp cùng ngành. - Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Hệ số này đo lường mức thanh khoản cao hơn, chỉ những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào tính toán. Mức thanh khoản của một loại tài sản là khả năng nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mà không làm giảm đáng kể giá trị của tài sản đó. Khoản hàng tồn kho được loại ra vì khi cần tiền mức thanh khoản của nó rất thấp, hàng tồn kho ít nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới chuyển hóa được thành tiền, đấy là chưa kể hàng bán chậm, hàng kém chất lượng,… Hệ số thanh toán nhanh cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Hệ số này được đánh giá là an toàn khi lớn hơn 1, khi đó công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán toàn bộ tài sản ngắn hạn. Hệ số này cho thấy khả năng thanh toán nhanh thực sự của một doanh nghiệp, nó được so sánh với các năm trước để thấy được sự tiến triển hay giảm sút của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn. Hệ số này càng cao càng tốt cho doanh nghiệp. - Hệ số khả năng thanh toán tức thời: Các khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định mà không có rủi ro khi chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó, tại thời điểm báo cáo như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi,... Hệ số thanh toán bằng tiền cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán tức thời cho một đồng nợ ngắn hạn, cho biết khả năng thanh toán ngay tại thời điểm xác định tỉ lệ mà không phụ thuộc vào các khoản phải thu hay hàng tồn kho, nói cách khác, với lượng tiền và các khoản tương đương tiền hiện tại doanh nghiệp có đủ để chi trả các khoản nợ ngắn hạn đến hạn hay không. Do tính chất của 12 Thang Long University Library khoản tương đương tiền có thời gian đáo hạn trong 3 tháng nên ta cũng phải so sánh với khoản nợ có thời hạn thanh toán cũng 3 tháng. Do đó, khi hệ số của chỉ tiêu này lớn hơn hoặc bằng 1, doanh nghiệp mới có thể đảm bảo và thừa khả năng thanh toán tức thời. Tuy nhiên cũng như đối với hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số cao quá cũng không tốt bởi tiền không tự sinh lời được. 1.1.1.4 Các chỉ tiêu về hoạt động Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Hệ số hoạt động còn được gọi là hệ số luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau: - Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn Trong đó: Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ hay còn gọi là hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh số lần quay của tài sản ngắn hạn trong một thời kỳ nhất định, nó đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trên mối quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và số tài sản ngắn hạn bỏ ra trong kỳ. Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng tài sản ngắn hạn sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần, trong một năm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được luân chuyển bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao, tài sản ngắn hạn vận động càng nhanh, thúc đẩy nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để tài sản ngắn hạn quay được một vòng. Thời gian quay càng nhỏ thì vòng quay tài sản ngắn hạn lại càng nhiều, tốc độ luân chuyển càng nhanh. 13 - Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn (hàm lượng TSNH) Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt với doanh nghiệp, vì khi đó tỷ suất lợi nhuận của một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tăng lên. Do đó qua chỉ tiêu này, các nhà quản trị tài chính xây dựng kế hoạch về đầu tư tài sản ngắn hạn một cách hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Để đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho của công ty, ta có thể sử dụng tỷ số hoạt động tồn kho. Tỷ số này có thể đo lường bằng chỉ tiêu số vòng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho. Trong đó: Vòng quay hàng tồn kho là số lần hàng hóa kho bình quân được bán ra trong kỳ kế toán. Vòng luân chuyển này càng nhanh thì hiệu quả do một đồng tài sản mang lại càng cao. Vòng quay hàng tồn kho cao thì doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động có hiệu quả, giảm được vốn đầu tư cho hàng hóa dự trữ, rút ngắn được chu kỳ chuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt, giảm bớt nguy cơ hàng hóa tồn kho thành hàng ứ đọng. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng nên chú ý khi hệ số vòng quay hàng tồn kho cao để có kế hoạch nhập thêm hàng đầy đủ cung cấp cho bán hàng, tránh để tình trạng cạn kho, cháy hàng, mất khách hàng, bị đối thủ cạnh tranh tranh thị phần gây hậu quả không tốt. - Tốc độ luân chuyển kho trung bình Chỉ số này cho biết thời gian lưu hàng tồn kho gồm nguyên vật liệu và hàng hóa trong bao lâu từ lúc nhập hàng vào kho đến lúc xuất hàng ra bán diễn ra bao lâu. Thời gian luân chuyển càng thấp chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh, góp phần làm giảm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm. Tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho sẽ làm rút ngắn thời gian hàng tồn kho nằm trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh như dự trữ, sản xuất và lưu thông, đồng thời cũng là điều kiện để doanh nghiệp 14 Thang Long University Library mở rộng quy mô quá trình sản xuất mà không cần tăng thêm vốn đầu tư. - Vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích báo cái các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng hóa tiêu thụ. Chỉ tiêu này còn cho biết mức độ hợp lý các khoản phải thu đối với từng mặt hàng cụ thể của doanh nghiệp trên thị trường. - Thời gian thu tiền trung bình Thời gian thu tiền trung bình càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại thời gian thu tiền càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. 1.1.1.5 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời - Hệ số sinh lời của TSNH ( khả năng sinh lời ) Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh thu lợi của tài sản ngắn hạn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao. - Sức sinh lợi kinh tế của tài sản (ROA) Sức sinh lợi kinh tế của tài sản cho biết 1 đơn vị tài sản đưa vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Chỉ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu chỉ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được 15 đo bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp. Sức sinh lợi kinh tế của tài sản phụ thuộc vào mùa vụ kinh doanh và ngành nghề kinh doanh. Do đó, khi phân tích tài chính doanh nghiệp thường sử dụng chỉ số này so sánh với bình quân toàn ngành hoặc với doanh nghiệp khác cùng ngành trong cùng một thời kỳ. - Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho biết 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế. Nếu chỉ số này mang giá trị dương, là Công ty làm ăn có lãi, nếu mang giá trị âm là Công ty làm ăn thua lỗ. Cũng như sức sinh lợi kinh tế của tài sản, chỉ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của Công ty. Để so sánh chính xác, cần so sánh chỉ số này của một Công ty cổ phần với chỉ số bình quân của toàn ngành, hoặc với chỉ số của Công ty tương đương trong cùng ngành. Nếu sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) lớn hơn sức sinh lợi của tài sản (ROA) thì có nghĩa là Công ty đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệ tiền lãi mà Công ty phải trả cho các cổ đông. 16 Thang Long University Library CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN SƠN THĂNG LONG 2.1. Khái quát về công ty Cổ phần Liên Sơn Thăng Long 2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển Công ty Cổ phần Liên Sơn Thăng Long được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp tại Việt Nam. Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần vào ngày 06 tháng 09 năm 2004, thay đổi lần thứ 10 ngày 12 tháng 12 năm 2014. Tổng quan về doanh nghiệp Tên tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN LIÊN SƠN THĂNG LONG. Tên tiếng Anh: LIÊN SƠN THĂNG LONG JOINT STOCK COMPANY . Tên viết tắt: LISOCON. Trụ sở chính: P208 K9 KĐT Việt Hưng, Giang Biên, Long Biên, Hà Nội, Việt Nam. Liên hệ: Điện Thoại: 04 36524797 - 0989 526 309 . Fax: 04 36524994 Email: Lisocon@vnn.vn . Website: www.lisocon.vn . Vốn điều lệ: 16.000.000.000đồng . Mệnh giá cổ phần: 1.000.000 . Tổng số cố phần: 16.000 . Chi nhánh tại Đà Nẵng: Thôn Miếu Bông, Thành phố Đã Nẵng, Việt Nam. Chi nhánh tại Thanh Hóa: Thôn Hữu Tài, Xã Mai Lâm, Huyện Tĩnh Gia, Tỉnh Thanh Hóa. Việt Nam. Trải qua hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, với những nỗ lực vượt bậc trong lao động và sáng tạo, Công ty cổ phần Liên Sơn Thăng Long luôn phấn đấu trở thành doanh nghiệp hàng đầu cung cấp container và sản phẩm nhà lắp ghép cho thị trường Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Hiện tại công ty cung cấp các giải pháp ứng dụng liên tục cho sản phẩm container, nhà lắp ghép panel, uy tín dẫn đầu trong nước và tương lai sẽ phát triển thành doanh nghiệp có thương hiệu trong khu vực ASEAN và quốc tế. 2.1.2. Cơ cấu tổ chức – nhân sự 2.1.2.1. Hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông bầu ra có nhiệm vụ đề ra đường lối kinh doanh, phát triển sản xuất của công ty. Trực tiếp chỉ đạo giám đốc điều hành hoạt động của công ty, quyết định chiến lược kinh doanh hàng năm của công ty. 2.1.2.2. Ban kiểm soát Đại hội đồng cổ đông bầu ra Ban kiểm soát để kiểm tra giám sát hoạt động của Ban giám đốc cũng như các phòng ban trong công ty. Chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông về nhiệm vụ và quyền hạn của mình. 17 Sơ đồ 1. Cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần Liên Sơn Thăng Long Đại hội đồng cổ đông Ban kiểm soát Hội đồng quản trị Giám đốc công ty Phòng hành chính tổng hợp Phòng kinh doanh, Phòng xuất nhập dịch vụ khẩu Phòng kế Phòng kỹ thuật hoạch Bộ phận vận tải, bảo vệ (Nguồn : Phòng Tổ chức hành chính) 2.1.2.3. Giám đốc Là người chỉ huy, có nhiệm vụ quản lý công ty một cách toàn diện, được Chủ nhiệm Tổng cục bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng cục, trước Đại hội đồng cổ đông về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, chỉ đạo trực tiếp các phòng ban và sản xuất. 2.1.2.4. Phòng hành chính tổng hợp Phòng hành chính có chức năng xây dựng phương án kiện toàn bộ máy tổ chức trong công ty, quản lý nhân sự, thực hiện công tác hành chính quản trị, tham mưu cho giám đốc về việc sắp xếp, điều động CB-CNV trong toàn công ty, ra các quyết định khen thưởng, xử phạt, tổ chức công tác hành chính, văn thư, sửa chữa nhà cửa và phương tiện quản lý, tổ chức khám chữa bệnh cho CB-CNV, kết hợp với các đơn vị quản lý ngày công, bảo hiểm xã hội của CB-CNV. 2.1.2.5. Phòng kinh doanh, dịch vụ Các chức năng chính của bộ phận này là làm cho sản phẩm và dịch vụ luôn 18 Thang Long University Library thích ứng được với thị trường, xác định mức giá bán và điều chỉnh giá phù hợp với sự biến động của thị trường, với kế hoạch kinh doanh của công ty, với nhu cầu của các cơ sở y tế, tổ chức các buổi gặp gỡ và thực hiện các hoạt động xúc tiến bán hàng. Bộ phận này hoạt động dưới sự kiểm soát của Giám đốc và Phó giám đốc. 2.1.2.6. Phòng xuất nhập khẩu Thực hiện chức năng xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của công ty, giao thương và hợp tác quốc tế. Chịu trách nhiệm về các công tác ngoại thương như ký kết hợp đồng, đặt hàng, thỏa thuận với các nhà cung cấp quốc tế, quản lý kế hoạch và công tác nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ từ nước ngoài về công ty. Theo dõi chặt chẽ và nắm bắt kịp thời tình hình thị trường, giá cả, nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như các quy định về hoạt động ngoại thương của Nhà nước để tham mưu cho Ban Giám đốc trong việc đàm phán tiến tới ký kết các hợp đồng kinh tế với nước ngoài. 2.1.2.7. Phòng kế hoạch Nhiệm vụ của phòng này là tham mưu cho giám đốc trong việc ký kết thực hiện các hợp đồng kinh tế, làm mọi thủ tục xuất nhập khẩu vật tư, hàng hóa, lập kế hoạch lịch trình làm việc, tiếp khách, đào tạo, tuyển dụng bồi dưỡng lao động, lập kế hoạch sản xuất dựa trên nhu cầu các hợp đồng đã kí kết, liên hệ tìm hiểu khách hàng và chủ động tìm kiếm nguồn hàng. 2.1.2.8. Phòng kỹ thuật Nhận kế hoạch từ trên xuống và thông tin tình hình về vật tư, biên bản kỹ thuật nguyên phụ liệu, tiến độ sản xuất về phòng Kế hoạch. Phòng kỹ thuật còn có nhiệm vụ nghiên cứu mẫu, may chế thử mẫu, định mức kỹ thuật, hướng dẫn giải truyền sản xuất, công nghệ, trực tiếp liên hệ với kỹ thuật của đối tác để đưa ra những tham mưu cho cấp quản lý mang lại lợi ích cho công ty. 2.1.2.9. Bộ phận vận tải bảo vệ Bộ phận bảo vệ có nhiệm vụ duy trì an ninh trong khu vực công ty, bố trí chỗ đỗ xe cho nhân viên và khách hàng, quản lý tài sản công của công ty. Bộ phận vận tải chịu trách nhiệm việc vận tải hàng hóa của công ty đến khách hàng và việc nhận hàng hóa của nhà cung cấp gửi đến công ty. 2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh nói chung của công ty cổ phần Liên Sơn Thăng Long 19 Mục đích kinh doanh của mọi doanh nghiệp đều là lợi nhuận. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó có hiệu quả hay không, công ty có đang đi đúng hướng hay không. Thông qua các báo cáo tài chính cơ bản như đã nêu ở phần trên bao gồm báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán,… Các nhà quản lý cũng như các nhà đầu tư đều có thể dễ dàng nắm bắt được những thông tin tài chính quan trọng của công ty. Nhìn vào Bảng báo cáo kết quả tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn năm 2012-2014 của Công ty cổ phần Liên Sơn Thăng Long, ta nhận thấy lợi nhuận sau thuế năm 2013 thấp hơn so với năm 2012 là 27.634.261 đồng, tuy nhiên lợi nhuận sau thuế của năm 2014 lại tăng 406.697.507 đồng so với năm 2013. Những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty được thể hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như sau: Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty bởi doanh thu đánh giá được năng lực tiêu thụ trong nước, xuất nhập khẩu của công ty. Doanh thu của công ty tăng dần qua các năm từ 2012 đến 2014, cụ thể doanh thu bán hàng năm 2012 đạt 29.213.557.566 đồng thấp hơn năm 2013 7.847.029.420 đồng, tương ứng với 26,86%, năm 2013 đạt 37.060.586.986 đồng thấp hơn năm 2014 là 13.997.875.848 đồng tức 37,37%. Biểu đồ 1. Tổng doanh thu của công ty Cổ phần Liên Sơn Thăng Long năm 2012, năm 2013 và năm 2014 Triệu Tổng doanh thu 60000 51,058 50000 40000 37,061 29,214 30000 20000 10000 0 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Tổng doanh thu 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -