Hiệu quả kinh tế - xã hội và bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển giáo dục các nước Asean

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27670 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HỒ CHÍ MINH HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ASEAN ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ Mã số : CS 2002 - 23 - 23. Ngƣời thực hiện : TS. Ngô Minh Oanh THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2 - 2005 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HỒ CHÍ MINH HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ASEAN ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ Mã số : CS 2002 - 23 - 23. Ngƣời thực hiện : TS. Ngô Minh Oanh THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2 - 2005 NỘI DUNG A. PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 3 1. Lý do chọn đề tài : ......................................................................................................... 3 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề : ........................................................................................... 4 3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu :....................................................................................... 6 4. Phƣơng pháp nghiên cứu : ............................................................................................. 6 5. Cấu trúc của đề tài : ....................................................................................................... 7 B. PHẦN NỘI DUNG : ............................................................................................................. 9 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á ...................................................................................................................... 9 I. Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử khu vực Đông Nam Á ....................... 9 1.Điều kiện địa lý tự nhiên :........................................................................................... 9 2.Quá trình phát triển lịch sử : ....................................................................................... 9 II. Chính sách phát triển giáo dục các nƣớc Đông Nam Á. ............................................. 11 1. Quan điểm và các chính sách ƣu tiên phát triển giáo dục đào tạo : ......................... 11 2. Cấu trúc hệ thống Giáo dục - Đào tạo : ................................................................... 13 3. Đầu tƣ kinh phí, cơ sở vật chất và xậy dựng đội ngũ giáo viên. .............................. 14 4. Nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp giáo dục : ................................................. 15 CHƢƠNG II: HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM .............................................................. 17 1 I. Hiệu quả kinh tế xã hội của chiến lƣợc phát triển giáo dục - đào tạo........................... 17 1. Về kinh tế. ................................................................................................................ 17 2. Về mặt xã hội : ......................................................................................................... 17 4. Về nguồn lực con ngƣời........................................................................................... 19 II. Những hạn chế giáo dục ASEAN ............................................................................... 20 III. Bài học kinh nghiệm .................................................................................................. 22 CHƢƠNG III. PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở MỘT SỐ NƢỚC ASEAN TIÊU BIỂU .................................................................................................................................... 26 I. BRUNEI. ...................................................................................................................... 26 II. INDONESIA. .............................................................................................................. 27 III. CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO ............................................................ 29 IV. MALAYSIA .............................................................................................................. 33 V. PHILIPPINES. ............................................................................................................ 38 VI. THAILAND. .............................................................................................................. 46 VII. SINGAPORE............................................................................................................ 53 KẾT LUẬN .............................................................................................................................. 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................................... 68 PHẦN PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 79 2 A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay và với sự phát triển nhƣ vũ bão của Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật lần thứ hai thì tri thức - sản phẩm của một nền giáo dục đã trở thành một vốn quý của loài ngƣời và của mỗi quốc gia. Cách mạng khoa học công nghệ đã trở thành một lực lƣợng sản xuất trực tiếp, có vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà các nƣớc phát triển trên thế giới và một số nƣớc Đông Nam Á đã có sự phát triển vƣợt bậc từ nửa sau thập niên 70 của thế kỷ XX. Nhiều nƣớc ở châu Á, đặc biệt trong đó có một số nƣớc ở Đông Nam Á đã trở thành "rồng" với những thành tựu kinh tế - xã hội thu đƣợc rất to lớn. Đạt đƣợc những kết quả nói trên trong nhiều nguyên nhân thì có một nguyên nhân rất quan trọng là họ đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của giáo dục đào tạo và có chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo đúng hƣớng. Họ ƣu tiên đầu tƣ tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục, cho đội ngũ giáo viên và những ngƣời làm công tác giáo dục, có cơ chế và chính sách phù hợp, tăng cƣờng xã hội hóa giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Thực tế phát triển của các nƣớc Đông Nam Á nhƣ Singapore, Thailand, Malaysia ... đã chứng minh cho điều đó. Việt Nam chúng ta vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài để giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc. Thời gian hòa bình cho phát triển kinh tế - xã hội chƣa đựơc bao lâu. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay vấn đề chiến lƣợc phát triển đất nƣớc, tránh tụt hậu so với khu vực đang là một đòi hỏi cấp bách. Việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nền kinh tế tri thức không thể thu đƣợc kết quả nếu nhƣ không có một chiến lƣợc dài hơi và cấp bách về phát triển giáo dục - đào tạo. 3 Trong phát triển giáo dục, việc học hỏi kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm của các nƣớc khác, nhất là các nƣớc Đông Nam Á, những nƣớc có những nét tƣơng đồng với ta là điều rất nên làm. Với mong muốn trên, chúng tôi đã chọn đề tài : " Hiệu quả kinh tế - xã hội và bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển giáo dục một số nƣớc ASEAN " để nghiên cứu. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề : Trong những năm gần đây do bùng nổ nền kinh tế tri thức và nhân loại cũng đã nhận ra tầm quan trọng của phát triển giáo dục - đào tạo, các nhà nghiên cứu giáo dục thế giới đã quan tâm nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm phát triển giáo dục của các nƣớc, nhất là những nƣớc đạt đƣợc những thành tựu cao về kinh tế - xã hội. Ở nƣớc ta việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển giáo dục thế giới nhất là những nƣớc phát triển gần gũi với chúng ta ở Đông Nam Á nhƣ Singapore, Malaysia, Thailand, Brunei... Ngoài các cuốn sách viết về lịch sử giáo dục thế giới của nhà xuất bản giáo dục trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu Đông Nam Á, các cuộc hội thảo và các trung tâm nghiên cứu đã có nhiều bài viết về giáo dục các nƣớc ASEAN nói chung và của từng nƣớc thành viên cụ thể nói riêng. Có thể kể tên một số bài viết tiêu biểu nhƣ sau" : - Chính sách Giáo dục - Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở các nƣớc ASEAN trong thời kỳ công nghiệp hóa của tác giả Hoa Hữu Lân và Trần Lan Hƣơng, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 4/1998 - Giáo dục đại học ở một số nƣớc Đông nam Á - Thực trạng và xu thế phát triển của tác giả Trần Thị Vinh, Tạp chí nghiên cứu Việt Nam Đông nam Á, số 2 (15) 1994. - Giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở các nƣớc ASEAN của tác giả Hoàng Xuân Long , Tạp chí Cộng sản số 22 (11-1998). 4 - Một vài kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển của giáo dục đại học ở Đông Nam Á của tác giả Trần Văn Tấn, Kỷ yếu hội thảo khoa học, trung tâm Châu Á -Thái Bình Dƣơng, 1992. - Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các nƣớc Đông Nam Á, Giáo dục quốc tế, Viện nghiên cứu giáo dục, ĐH Sƣ phạm TPHCM, tháng 5/2002. - Giáo dục đại học ở các nƣớc Châu Á - Thái Bình Dƣơng và những vấn đề của Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học , Trung tâm nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dƣơng, 1992 - Dự báo về tình hình phát triển giáo dục trong các thập niên tới ở khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng của tác giả Đông Văn Quan, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trung tâm nghiên cứu châu Á - Thái Bình Duơng, 1992. - Vấn đề đào tạo "Thạc sĩ quản trị kinh doanh" qua kinh nghiệm của Thái Lan, Mỹ và một số nƣớc phát triển khác của GS Phạm Phụ, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trung tâm nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dƣơng, 1992. - Các phần nói về giáo dục ASEAN trong sách ASEAN và các nƣớc thành viên, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997. - Giáo dục ở các nƣớc Đông Nam Á của tác giả Nguyễn Ngọc, Báo Giáo dục - Thời đại. - Những khó khăn trong giáo dục của Đông Nam Á của Chữ Đức Nhã dịch, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số tháng 4 - 1998. - Một vài kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp của Thailand, Indonesia, Singapore của tác giả Nguyễn Viết Sự, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số tháng 7 năm 1999. - Hiện tƣợng học sinh bỏ học hiện nay ở khu vực châu Á -Thái Bình Dƣơng của tác giả Đặng Thành Hƣng, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục - Hiện trạng thất học ở Châu Á, Báo Giáo dục và Thời đại số 52 và nhiều tài liệu khác... Nói chung nghiên cứu về giáo dục ở các nƣớc ASEAN đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các 5 nhà giáo dục Việt Nam và thế giới. Các bài nghiên cứu đã đi vào từng mảng giáo dục cụ thể, từng cấp học hay từng nƣớc mà chƣa có một công trình nào tập hợp một cách hệ thống giáo dục của các nƣớc ASEAN. Vì vậy trên cơ sở những tƣ liệu tập hợp đƣợc tiêu biểu trên đây và nhiều nguồn tài liệu khác không thể kể hết ra đây, chúng tôi cố gắng dựng nên bức tranh toàn cảnh, tƣơng đối đầy đủ về nền giáo dục ASEAN trong đó đặc biệt chú trọng đến các nƣớc phát triển. 3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu : Lịch sử phát triển giáo dục của khu vực Đông Nam Á có truyền thống lâu dài trong lịch sử và là một đề tài rất rộng lớn, tuy nhiên để làm nổi bật chủ đề nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung giới hạn vấn đề nghiên cứu nhƣ sau : - Về không gian : Chúng tôi chỉ tập trung chủ yếu nghiên cứu 4 nƣớc phát triển trong ASEAN đó là Singapore, Malaysia, Thailand và Brunei - những nƣớc mà giáo dục - đào tạo đã có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội, và đã mang lại hiệu quả thực sự. Các nƣớc còn lại chúng tôn sẽ cung cấp tƣ liệu nhằm có sự đối sánh, làm bật lên ƣu điểm của chiến lƣợc phát triển giáo dục của các nƣớc nằm trong phạm vi nghiên cứu. Riêng Việt Nam chúng tôi không đƣa vào nội dung đề tài vì đã có quá nhiều công trình đề cập tới và chúng ta cũng biết quá rõ về nền giáo dục của mình. - Về thời gian : Chúng tôn cũng chỉ tập trung vào khoảng thời gian 30 năm cuối của thế kỷ XX, tức là từ thập niên 70 trở đi. Đây là giai đoạn các nƣớc ASEAN có những bƣớc đột phá trong chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo và đã mang lại hiệu quả kinh tế xã hội to lớn. 4. Phương pháp nghiên cứu : - Trên quan điểm và phƣơng pháp luận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tác giả sử dụng phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logíc 6 để xem xét một cách khách quan và biện chứng quá trình phát triển và thành quả giáo dục của các nƣớc ASEAN. - Tác giả cũng sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch sử và phƣơng pháp nghiên cứu giáo dục để hoàn thành đề tài này. 5. Cấu trúc của đề tài : Đề tài gồm có phần mở đầu, kết luận và ba chƣơng nội dung, phần phụ lục. Cụ thể nhƣ sau : Chƣơng I: Tổng quan về chính sách phát triển giáo dục các nƣớc Đông Nam Á. I. Khái quát về điều kiện địa lí tự nhiên và lịch sử khu vực Đông Nam Á 1. Điều kiện tự nhiên 2. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển II. Chính sách phát triển giáo dục đào tạo các nƣớc Đông Nam Á 1.Quan điểm phát triển giáo dục và các chính sách ƣu tiên ƣu tiên phát triển giáo dục 2. Cấu trúc hệ thống giáo dục 3. Đầu tƣ tài chính, cơ sở vật chất - Đầu tƣ cơ sở vật chất - Học phí 4. Xây dựng đội ngũ giáo viên và những ngƣời làm công tác giáo dục 5. Nội dung chƣơng trình và phƣơng thức tổ chức dạy học Chƣơng II: Hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách phát triển giáo dục và những bài học kinh nghiệm, I. Hiệu quả kinh tế - xã hội 1. Hiệu quả kinh tế. 2. Hiệu quả xã hội 3. Hiệu quả về văn hóa II. Những bài học kinh nghiệm Chƣơng III: Phát triển giáo dục - đào tạo ở một số nƣớc tiêu biểu. 7 1. Brunei. 2. Malaysia. 3. Indonesia. 4. Laos. 5. Philippines. 6. Singapore. 7. Thailand. Phần kết luận Phụ lục 8 B. PHẦN NỘI DUNG : CHƢƠNG I: TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CÁC NƢỚC ĐÔNG NAM Á I. Khái quát về điều kiện địa lý tự nhiên và lịch sử khu vực Đông Nam Á 1.Điều kiện địa lý tự nhiên : Đông Nam Á là một khu vực trải dài trên một phần trái đất từ khoảng 920 đến 1400 Kinh Đông, và từ khoảng 280 Vĩ Bắc, chạy qua Xích dạo lên 150 Vĩ Nam với trên 4 triệu kilômét vuông. Về địa lý hành chính, Đông Nam Á hiện nay gồm có 11 nƣớc : Việt Nam, Laos, Cămpuchia, Thailand, Myanmar, Malaysia, Singapore, Indonesia, Malaysia, Philipines và Brunei với dân số khoảng 500 triệu ngƣời. Khu vực Đông Nam Á có vị trí địa lí rất quan trọng, từ lâu đã đƣợc coi là ngã tƣ đƣờng, là cầu nối trên con đƣờng giao thƣơng buôn bán từ Nam Á và xa hơn là vùng Địa Trong Hải với khu vực Đông bắc Á nhƣ các nƣớc Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên... Đông Nam Á năm trong khu vực "Châu Á gió mùa" có tài nguyên đa dạng và phong phú. Việc buôn bán giữa các khu vực với Đông Nam Á bằng đƣờng biển đã khá nhộn nhịp từ thế kỷ II, các thuyền buôn của Ả Rập đã thƣờng xuyên đến Đông Nam Á để thu mua nguyên liệu, các loại đồ gia vị. 2.Quá trình phát triển lịch sử : Ngƣời ta đã phát hiện ra nhiều di chỉ khảo cổ học khẳng định ngay từ rất sớm Đông Nam Á đã có con ngƣời sinh sống, 9 Ở Đông Nam Á có mặt hầu nhƣ đủ các nhóm tộc ngƣời với những ngữ hệ khác nhau nhƣng học đã quần tụ và gắn bó với nhau trong đời sống xã hội. Trƣớc khi tiếp xúc với các nền văn minh bên ngoài, cộng đồng cƣ dân Đông Nam Á đã có một đời sống văn hóa phát triển cao. Đông Nam Á đã khẳng định là một trong nƣớc trung tâm văn minh của thế giới trong thời kỳ cổ Trung Đại. Một mặt cƣ dân Đông Nam Á khẳng định và phát triển bản sắc của nền văn minh bản địa mặt khác tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn minh bên ngoài để làm hoàn thiện và làm phong phú thêm những thành tựu văn minh của mình. Trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nƣớc đã tạo nên một nền tảng chung cho nền văn minh các nƣớc Đông Nam Á, văn hóa dân gian, tín ngƣỡng, lễ hội gắn liền bới chu kỳ nông nghiệp. Nông nghiệp cũng tạo ra một lối ứng xử riêng tạo nên tính phong phú đa dạng của bản sắc văn hóa các quốc gia nói riêng và của khu vực nói chung. Từ đầu công nguyên cho đến thế kỷ thứ VII, ở Đông Nam Á đã xuất hiện các quốc gia sơ kỳ mà ngƣời ta có thể thống kê đƣợc khoảng 30 quốc gia. Đến khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XV các quốc gia phong kiến đã phát triển rất thịnh đạt đủ sức đề kháng chống lại các cuộc xâm lăng của phong kiến phƣơng Bắc. Sau thế kỷ XV, các quốc gia phong kiến bắt đầu bƣớc vào giao đoạn suy thoái và vào các thế kỷ từ XVI đến XIX, các quốc gia phong kiến, trừ Tháiland, đã lần lƣợt rơi vào tay các nƣớc tƣ bản phƣơng Tây. Từ khi bị thực dân phƣơng Tây thống trị, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân các nƣớc Đông Nam Á đã diễn ra liên tục trong suốt thời kỷ bị thống trị. Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 các nƣớc Đông Nam Á đã lần lƣợt giành đƣợc độc lập và đặc biệt từ những năm 70 một số nƣớc nhờ chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng hƣớng đã có những bƣớc phát triển nhảy vọt trở thành những con rồng châu Á. Một trong những nguyên nhân phát triển của các 10 nƣớc là nhờ chú trọng phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. II. Chính sách phát triển giáo dục các nước Đông Nam Á. 1. Quan điểm và các chính sách ƣu tiên phát triển giáo dục đào tạo : Vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, phần lớn các nƣớc ASEAN đều là những nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp, trên dƣới 50% dân số đều sống dƣới mức nghèo khổ. Chính phủ các nƣớc đều thấy đƣợc tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, coi giáo dục đào tạo là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bằng việc coi phát triển giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu để tạo khả năng tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho dân cƣ, xóa bỏ đói nghèo, tạo công bằng xã hội và phát triển bền vững. Bên cạnh chủ trƣơng ƣu tiên phát triển giáo dục đào tạo đƣợc thể hiện trong việc tăng cƣờng đầu tƣ kinh phí, ngân sách cho giáo dục đào tạo luôn tăng hàng năm, các nƣớc ASEAN ƣu tiên hàng đầu cho giáp dục phổ cập, đặc biệt là giáo dục tiểu học. Một số nƣớc nhƣ Indonesia, Malayxia ngân sách giành cho giáo dục phổ thông chiếm đến trên 70% kinh phí. Chính phủ các nƣớc ASEAN đều quản lý chặt chẽ hệ thống giáo dục, đây là một cơ chế để đảo bảo cho nhà nƣớc vừa thực hiện đƣợc chiến lƣợc và chính sách phát triển giáo dục của mình vừa kiểm soát đƣợc hệ thống giáo dục, định hƣớng cho các cơ sở giáo dục phát triển theo định hƣớng. Ở Singapore, tất cả các cơ sở giáo dục đào tạo kể cả nhà nƣớc và tƣ nhân đều do Bộ giáo dục quản lý. Tất cả các học sinh muốn nhập học ở bất kỳ cấp nào cũng đều phải qua sát hạch kiến thức bằng một kỳ thi tuyển quốc gia. Ở Malaysia, trƣớc năm 1990, hệ thống giáo dục - đào tạo đƣợc nhà nƣớc quản lý theo chỉ tiêu sắc tộc. Tuy nhiên chính 11 sách này đã làm hạn chế số ngƣời trong độ tuổi vào học các cấp học, nhất ở ở độ tuổi từ 19 đến 24 vào các trƣờng đại học quốc gia. Từ năm 1991, chính sách ƣu tiên theo sắc tộc đã giảm dần để nhƣờng chỗ cho chính sách mở rộng hệ thống giáo dục cho nhiều tầng lớp. Malayxia đã ban hành đạo luật cho phép các trƣờng học nhà nƣớc, tƣ nhân và nƣớc ngoài đƣợc tự do cạnh tranh để nâng cao chất lƣợng dạy học thích ứng với tình hình mới. Kế hoạch phát triển giáo dục ở các nƣớc ASEAN đều do Bộ giáo dục soạn thảo, riêng ở Singapore, kế hoạch này do Bộ Công nghiệp và Thƣơng mại soạn thảo để nhằm cân đối nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế. Căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội dài hạn mƣời năm về phát triển nguồn nhân lực để định ra kế hoạch tuyển sinh trong các trƣờng chuyên nghiệp. Trƣớc nhu cầu phát triển ngày càng cao nhất là những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, các nƣớc ASEAN đang đƣa đất nƣớc phát triển ở một trình độ mới, tăng cƣờng năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế. Trƣớc những đòi hỏi đó chính phủ các nƣớc ASEAN đã có những chủ trƣơng và biện pháp đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo. Trong các kế hoạch phát triển của mình các nƣớc Singapore, Thailand Philippines đều có chính sách và kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo. Các chủ trƣơng và biện pháp phát triển giáo dục chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao. Các nƣớc ASEAN mở rộng cho các lực lƣợng trong xã hội tham gia họat động giáo dục - đào tạo. Nhà nƣớc động viên khu vực tƣ nhân tham gia vào việc lập kế hoạch, xây dựng chƣơng trình và đầu tƣ vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Các doanh nghiệp đƣợc khuyến khích tự bỏ tiền vốn để đào tạo nguồn nhân lực cho mình. Các quỹ phát triển kỹ năng và tay nghề đã đƣợc thành lập ở Malaysia và Thailand. 12 Việc chuyển hƣớng mục tiêu giáo dục đào tạo đã đƣợc các nƣớc quan tâm. Giáo dục đại học từ chỗ phục vụ tầng lớp thƣợng lƣu trí thức sang giáo dục đại chúng nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế đất nƣớc. Giáo dục phải nhằm rút ngắn khoảng cách dần từ các tầng lớp, giữa các vùng, miền, vừa tận dụng nguồn lực giáo dục ở trong nƣớc vừa tranh thủ các nguồn đào tạo từ nƣớc ngoài. Định hƣớng của giáo dục của các nƣớc ASEAN là nhất thiết phải gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu phát triển kinh tế của đất nƣớc, với trình độ công nghệ của từng giai đoạn, từng lĩnh vực ngành nghề cụ thể. Vừa duy trì hệ thống giáo dục hàn lâm với giáo dục công nghệ, nhấn mạnh đến kỹ năng thực hành, gắn việc đào tạo của nhà trƣờng với hoạt động của các nhà máy, doanh nghiệp tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên có điều kiện thâm nhập thực tế từ đó có định hƣớng hoạt động của mình trong tƣơng lai. Định hƣớng gắn giáo dục đào tạo với chiến lƣợc phát triển đất nƣớc, gắn với thực tiễn đã đƣợc nhà nƣớc và các xí nghiệp tạo điều kiện tối đa nhƣ : xúc tiến một chƣơng trình về kinh nghiệm làm việc ngay từ khi còn ngồi trên ghế giảng đƣờng, cho sinh viên làm việc ở các dự án phát triển cộng đồng, xí nghiệp. Chƣơng trình này ngoài tác dụng gắn chặt giáo dục với cuộc sống lao động, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, còn tạo ra một thái độ lao động đúng đắn, tôn trọng lao động chân tay, ý thức về sự hòa đồng xã hội, đóng góp sức mình vào phát triển quốc gia. 2. Cấu trúc hệ thống Giáo dục - Đào tạo : Hệ thống giáo dục - đào tạo của các nƣớc ASEAN có giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và hệ thống trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Về giáo dục phổ thông, phần lớn các nƣớc đều có hệ thống giáo dục 12 năm. Tuổi bắt đầu đi học là 6 tuổi, trừ Mianmar là 5 tuổi và Indonesia là 7 tuổi. Có 3 nƣớc là Brunei, Malaysia và 13 Singapore có hệ thống giáo dục phổ thống 13 năm. Hệ thống giáo dục phổ thông các nƣớc đều dành cho chƣơng trình tiểu học một số năm chủ yếu từ 5 đến 6 năm, còn lại là chƣơng trình dành cho phổ thông, trong đó phổ thông trung học (cấp 3) từ 2 đến 4 năm. 3. Đầu tƣ kinh phí, cơ sở vật chất và xậy dựng đội ngũ giáo viên. Để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục - Đào tạo. Chính phủ các nƣớc ASEAN đã đầu tƣ thích đáng ngân sách cho giáo dục đào tạo. Tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục các nƣớc ASEAN tăng từ 2,5 % năm 1960 lên 3,7% GNP vào năm 1990 và 3,2 GNP vào năm 1993 1994. Và đến năm 1995 tỷ lệ này đã là 5,3% ở Malaysia, 4,2% ở Thailand. Nếu tính theo tỷ lệ chi ngân sách thì ở Malaysia trong giai đoạn từ 1980 -1992 chi cho giáo dục chiếm từ 12,9% - 18,1% trong tổng chi ngân sách, ở Thailand cũng chi cho giáo dục tới 20%. Xét về cơ cấu phân bổ ngân sách, thì các nƣớc đều ƣu tiên ngân sách giáo dục phổ cập, đặc biệt là giáo dục tiểu học. Nếu tính tỷ lệ đó ở các nƣớc nhƣ sau : Indonesia là 89% so với 9% cho giáo dục bậc cao, Malaysia là 75%so với 14,6%, Singapore là 64,6 % so với 30,7% và ở Thailand tỷ lệ này là 81,3% so với 12%.1 Nhìn chung trong suốt thời kỳ phát triển nhanh chóng của các nƣớc Đông Nam Á tiêu biểu thì các nƣớc đều đầu tƣ cho giáo dục với mức trung bình khoảng 20% trong tổng chi tiêu ngân sách của nhà nƣớc. Tỷ trọng đầu tƣ này là khá cao so với thế giới, và thực tế cho thấy sự ƣu tiên đầu tƣ này là hợp lý vì nó đã tạo ra hiệu xuất cao cho nền kinh tế, là nhân tố hàng đầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong việc đầu tƣ tài chính cho giáo dục, các nƣớc ASEAN còn chú trọng đến chính sách tiền lƣơng và phúc lợi cho đội 1 Chính sách giáo dục - Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực...T/c NC Đông Nam Á.số 4/ 1998. Trang 27 14 ngũ giáo viên đang tại chức và cả sau khi họ đã về hƣu. Lƣơng giáo chức ở Singapore thuộc vào mức cao của thế giới. Ở Malaixia tổ chức công đoàn giáo dục độc lập luôn đấu tranh cho quyền lợi của giáo viên. Đội ngũ giáo viên khi đang tại chức đựơc nhà nƣớc và các cơ sở giáo dục trả lƣơng đảm bảo cho một cuộc sống đầy đủ để yên tâm công hiến. Khi giáo viên về hƣu họ đƣợc hƣởng ngay một khoản trợ cấp khoảng 25000 đôla và đƣợc hƣởng nguyên lƣơng nhƣ khi đang còn tại chức. Đặc biệt khi họ mất đi thì vợ hoặc chồng của họ vẫn đựơc hƣởng xuất lƣơng của ngƣời đó cho đến khi vợ hoặc chồng của họ chết. Những chính sách về lƣơng và phúc lợi nói trên đã là động lực để thúc đẩy đội ngũ giáo viên cống hiến hết sức mình cho việc dạy học. 4. Nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp giáo dục : Vấn đề nội dung chƣơng trình và phƣơng pháp giáo dục bao giờ cũng là một vấn đề quan trọng trong chiến lƣợc phát triển giáo dục. Trong nội dung chƣơng trình giáo dục bao giờ cũng phải có các bộ phận2 : - Giáo dục tri thức gồm những tri thức chung của nhân loại với nhiều bộ môn tƣ khoa học cơ bản đến các tri thức kỹ thuật, thực hành và những tri thức về dân tộc nhƣ ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa. - Giáo dục nhân văn và nghệ thuận bao gồm tất các các ngành khoa học và các ngành nghệ thuật nào có khả năng phát triển con ngƣời một cách toàn diện, hài hòa trên nhiều mặt : thể xác, tình cảm, nhận thức và hành động. - Giáo dục "ý thức chung" : bao gồm những vấn đề chung của nhân loại nhằm xây dựng một ý thức chung cho tất cả các dân tộc theo mô hình : "công dân thế giới" đã từng khởi xƣớng từ những thế kỷ trƣớc. 2 Đông Vãn Quan. Kỷ yếu hội thảo "giáo dục đại học châu Á - Thái Bình Dƣơng. Trung tâm Châu Á - Thái Bình Dƣơng, ĐH Sƣ Phạm TP. HCM. 1992. trang 71. 15 - Giáo dục môi trƣờng, giáo dục sức khỏe ngày càng có một vị trí quan trọng và thích đáng trong chƣơng trình học. Về phƣơng pháp giáo dục, các nƣớc ASEAN đã từng bị ảnh hƣởng bởi mô hình giáo dục phƣơng Tây từ cuối thế kỉ XIX mang nặng tính suy diễn và giáo điều. Các trƣờng học thƣờng đào tạo những cán bộ đa năng, trong lúc cơ cấu kinh tế cần chuyên môn hóa tức là những ngƣời có chuyên môn sâu. Rút đƣợc kinh nghiệm đó, các nƣớc ASEAN đã khuyến cáo giáo dục phải chú trọng phát triển tƣ duy độc lập, tự chủ trong suy nghĩ, năng động sáng tạo trong hành dộng, có hoài bão và ý chí. Nhƣ ở Singapore, tháng 1/1996 đã đƣa " Chƣơng trình tƣ duy " vào giảng dạy để giúp cho sinh viên phát triển kỹ năng nhận xét, đánh giá độc lập trong học tập. Đổi mới trong phƣơng pháp giáo dục của hệ thống giáo dục các nƣớc ASEAN đã làm cho nguồn lực lao động cung ứng cho xã hội có tính tháo vát, linh hoạt và khả năng độc lập trong giải quyết những vấn đề thực tiễn. Đây là những phẩm chất cần thiết trong một môi trƣờng công nghiệp thay đổi thƣờng xuyên và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Để nguồn nhân lực có khả năng giao lƣu và hợp tác quốc tế, trong chƣơng trình đào tạo, ngoại ngữ đƣợc chú trọng, ở Singapore ngay từ cuối lớp 4 học sinh đã đƣợc bắt đầu học ngoại ngữ. Ở Malaysia và Philippines ngay từ khi trẻ em cắp sách đến trƣờng các em đã đƣợc đƣợc học tiếng Anh. Tiếng Anh nhƣ là ngôn ngữ thứ 2 ở Malaysia sau tiếng Mã lai, đặc biệt là học viên sau đại học phải dùng tiếng Anh trong học tập từ báo cáo khoa học đến làm luận án tốt nghiệp. 16 CHƢƠNG II: HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I. Hiệu quả kinh tế xã hội của chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo 1. Về kinh tế. Phƣơng châm coi giáo dục là quốc sách , là điểm đột phá. Chính phủ các nƣớc ASEAN đã đầu tƣ mạnh mẽ cho giáo dục. Điều đó đã mang lại hiệu quả vô cùng to lớn cho việc phát triển kinh tế. chỉ mới đây thôi các nƣớc còn là các nƣớc nông nghiệp lạc hậu với tỉ lệ dân số sống dƣới mức nghèo khổ: ở Indonesia là 58%, ở Thailand 59%, ở Malaysia 37%, ở Singapore 31%... đến nay đã trở thành các nƣớc công nghiệp mới (NIC), những con rồng ở Châu Á. Theo số liệu của UNDP cứ 1000 ngƣời dân Singapore thì có 2,2 nhà khoa học kỹ thuật, tỷ lệ này ở Malaysia là 0,1, ở Thailand và Indonesia là 0,2 . Nền giáo dục với sự đầu tƣ thích đáng đã góp phần tạo nên thể chất, nhân cách khả năng tƣ duy sáng tạo và năng xuất cho ngƣời lao động. Năng xuất lao động, tiền lƣơng ở các nƣớc ASEAN không ngừng đƣợc tăng lên kéo theo thu nhập bình quân đầu ngƣời cũng tăng lên. Năm 1997, nếu nhƣ GDP bình quân đầu ngƣời ở Nhật Bản là 23 440 USD và của Hàn Quốc là 12 390 USD thì GDP bình quân đầu ngƣời của Singapore là 24 610 USD, Malaysia là 9 835 USD, Thailand là 8165 USD, và Indonesia là 4140 USD ... Đây là những bằng chứng thuyết phục cho thấy hiệu quả cao của nền giáo dục đƣợc đầu tƣ đúng mức mang lại. 2. Về mặt xã hội : 17 Phần lớn các nƣớc Đông Nam Á mặc dù đã có những bƣớc phát triển đáng kể nhƣng sự cách biệt giữa các vùng miền vẫn còn rất lớn. Không chỉ có sự cách biệt về mức sống mà còn có sự khác biệt rất lớn về trình độ dân trí, văn hóa. Từ thực trạng đó các nƣớc ASEAN đã chứ trọng phát triển giáo dục đào tạo, hình thành mạng lƣới các trƣờng học từ tiểu học đến đại học một cách rộng rãi, mang tri thức đến nhiều vùng miền khác nhau. Việc phát triển trƣờng lớp đi đôi với với việc tăng cƣờng đầu tƣ đội ngũ, kinh phí, trang bị cơ sở vật chất cho trƣờng học. Nhờ vậy trình độ dân trí ở các nƣớc ngày càng đƣợc nâng cao, nguồn nhân lực có trình độ cao ngày càng nhiều, đáp ứng cho nhu cầu phát triển đất nƣớc. Từ một nƣớc nghèo nàn lạc hậu, tỷ lệ dân số mù chữ cao nhƣng đến năm 1996, số ngƣời biết đọc biết viết ở Malaysia đã đạt đến 89,3%. Tỷ lệ trẻ em đi học là 98,9% . Hàng năm có khoảng 950 000 học sinh vào phổ thông trung học. Ở Thailand tỷ lệ ngƣời biết chữ là 90%, năm 2000 Thailand đã phổ cập lớp 9 cho toàn dân. Tuy nhiên tỷ lệ ngƣời biết đọc biết viết cao nhất Châu Á phải kể đến Philippines, chiếm tới 94% vào năm 1994. Các nƣớc nhƣ Singapore, Brunei, Laos, Myanmar cũ có những bƣớc phát triển đáng kể. 3. Về văn hóa . Trình độ dân trí ngày càng đựơc nâng cao, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng đựơc cải thiện và phát triển. Đời sống tinh thần luôn đƣợc thỏa mãn với các phƣơng tiện sống và làm việc đƣợc đáp ứng đầy đủ. Có những tiếp xúc văn hóa và những ảnh hƣởng văn hóa phong phú và đa dạng từ các nền văn hóa trên thế giới đã làm cho con ngƣời Singapore có đƣợc nhân sinh quan vừa truyền thống và hiện đại, trong đó tƣ tƣởng nho giáo ảnh hƣởng rất sâu sắc. Ngƣời Singapore luôn thỏa mãn với chính mình và cuộc sống của mình và không ngừng hoàn thiện vƣơn lên. 18
- Xem thêm -