Hệ thống trường nghề ở nam kỳ thời pháp thuộc (1861 – 1945).

  • Số trang: 145 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 339 |
  • Lượt tải: 2
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ VŨ THỊ MIỀN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945). LUẬN VÃN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thành phố Hồ Chí Minh 2011 BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH KHOA LỊCH SỬ VŨ THỊ MIỀN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945). Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54 LUẬN VÃN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS KH LỊCH SỬ. LÊ HUỲNH HOA Thành phố Hồ Chí Minh 2011 LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn Khoa Lịch Sử và Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập tại trường Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.s Lê Huỳnh Hoa, cô đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn và hỗ trợ em tìm tài liệu ởTrung tâm lưu trữ Quốc gia II tại T.p Hồ Chí Minh. Con xin cảm ơn bố mẹ, gia đình và đặc biệt em xin cảm ơn anh – người bạn đời của em, đã đồng hành cùng em vượt qua mọi khó khăn trong thời gian qua. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác. HỌC VIÊN CAO HỌC Vũ Thị Miền MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ................................................................................. 3 LỜI CAM ĐOAN ........................................................................... 4 MỤC LỤC ....................................................................................... 5 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU................................................... 7 Mức lương của các quản đốc xưởng Trường Dạy nghề Sài Gòn năm 1904. ......................................................................................... 7 MỞ ĐẦU .......................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945) .......................................... 10 1.1. Bối cảnh lịch sử - chính trị. ................................................................. 10 1.2. Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ. ....................................................................................................................... 12 1.3. Tiền đề kinh tế - xã hội. ....................................................................... 18 1.3.1. Tiền đề kinh tế. ......................................................................................... 18 1.3.2. Tiền đề văn hóa - xã hội. .......................................................................... 21 1.4. Điều kiện địa lí tự nhiên....................................................................... 24 CHƯƠNG 2. HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945). ......................................... 30 2.1. Giáo dục nghề ở Nam Kỳ trước năm 1861. ....................................... 30 2.2. Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945). .. 32 2.2.1. Mục đích, chủ trương thành lập trường nghề của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ. ............................................................................................. 32 2.2.2. Sự ra đời và phát triển của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945). ........................................................................................... 34 CHƯƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỆ HỐNG TRƯỜNG NGHỀ ĐẾN KINH TẾ – XÃ HỘI NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945). ..................................................... 84 3.1. Một vài đặc điểm của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp. ............................................................................................................. 84 3.2. Ảnh hưởng của hệ thống trường nghề đến kinh tế - xã hội Nam Kỳ thời kì 1861 – 1945....................................................................................... 88 3.2.1. Đóng góp đối với kinh tế Nam Kỳ thời kì 1861 - 1945............................ 88 3.2.2. Góp phần biến đổi cơ cấu xã hội Nam Kỳ thời thuộc Pháp. .................... 92 3.3.3. Ảnh hưởng của giáo dục chuyên nghiệp đến đời sống văn hóa – tư tưởng Nam Kỳ thời kì Pháp thuộc. ............................................................................... 95 Tiểu kết chương 3. ........................................................................ 98 KẾT LUẬN ................................................................................... 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ THƯ MỤC SÁCH .................. 102 PHỤ LỤC ........................................................................................ 1 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU NỘI DUNG TT 1 Bảng 1 Thống kê ngân sách đầu tư vào giáo dục công đã đăng ký 2 Bảng 2 Chi phí của Trường Dạy nghề Sài Gòn (1891 - 1899) 3 Bảng 3 Mức lương của các quản đốc xưởng Trường Dạy nghề Sài Gòn năm 1904. 4 5 6 7 8 9 10 Bảng 4 Một số sản phẩm do học sinh của Trường Dạy nghề Thủ Dầu Một thực hiện trong năm 1904. Bảng 5 Kinh phí hoạt động của Trường Dạy nghề Biên Hòa (1903 – 1913). Bảng 6 Số lượng và mức lương dành cho các học sinh phụ tá ở các nghề năm 1907. Bảng 7 Số lượng học sinh theo học tại Trường Dạy nghề Biên Hòa (1903 - 1944). Bảng 8 Tiền thưởng dành cho các học sinh trường Dạy nghề Biên Hòa năm 1905. Bảng 9 Một số học sinh tốt nghiệp từ Trường Dạy nghề Biên Hòa. Bảng 10 Số lượng học sinh của một số trường nghề ở Nam Kỳ 11 Bảng 11 (1917 - 1923). Số công nhân chuyên nghiệp ở Việt Nam năm 1906. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Thực hiện chính sách “chia để trị” thực dân Pháp đã tiến hành thành lập Liên bang Đông Dương ngày 17.10.1887, theo Sắc lệnh này lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt làm 3 kì: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Cũng từ đó, với 3 chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ, Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ, nửa bảo hộ; còn riêng Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm, tên Việt Nam bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới. Tách khỏi quỹ đạo chung của nước Việt Nam phong kiến dưới sự trị vì của nhà Nguyễn, hưởng quy chế chính trị – kinh tế, văn hóa, xã hội riêng biệt dưới sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, Nam Kỳ dần trở thành một vùng “lãnh thổ hải ngoại của Pháp” giống như các thuộc địa khác của Pháp ở Châu Phi. Từ đây, một trung tâm thương mại, nông nghiệp, giao thông vận tải lớn, một địa bàn quân sự quan trọng của Pháp ở Đông Dương ra đời. Để thu được lợi nhuận tối đa và phục vụ đắc lực cho công cuộc cai trị, song song với công cuộc khai thác thuộc địa về kinh tế là công cuộc “chinh phục trái tim” người “bản xứ”. Do đó, bên cạnh các biện pháp chính trị, kinh tế, hành chính và tư pháp, thực dân Pháp còn sử dụng các công cụ hỗ trợ như văn hóa, giáo dục,… trong đó có giáo dục chuyên nghiệp nhằm đào tạo một đội ngũ “vừa đủ” những người thừa hành và làm công cho Pháp. Mặc dù, sự chú ý này, chỉ dừng lại ở sự ra đời của các trường nghề và hoạt động trong khuôn khổ chật hẹp theo ý đồ của người Pháp nhưng với những tác dụng ngoại ý, sự thiết lập hệ thống giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ đã có những ảnh hưởng đến đời sống văn hóa – tư tưởng cũng như góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế – xã hội Nam Kỳ thời kì này. Nam Kỳ thuộc Pháp từ lâu đã thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến mảnh đất này vẫn còn là đề tài mở cho các nhà nghiên cứu. Trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc địa, dù thời gian qua đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến giáo dục phổ thông, quan hệ Pháp – Việt trên lĩnh vực văn hóa… nhưng trong bức tranh tổng thể của giáo dục Nam Kỳ thời kì này vẫn còn thiếu những mảnh ghép về giáo dục chuyên nghiệp. Vì thế, cần một sự khảo cứu chuyên sâu hơn nữa về giáo dục đào tạo nghề để tạo nên sự hoàn chỉnh của chỉnh thể giáo dục Nam Kỳ thời Pháp thuộc. Cùng với những nghiên cứu về nền học chính Bắc Kỳ và Trung Kỳ thời thuộc Pháp, những hiểu biết về hệ thống trường nghề Nam Kỳ trong lịch sử sẽ đưa đến cái nhìn toàn diện hơn về lịch sử giáo dục Việt Nam thời kì này; lí giải một số hiện tượng lịch sử kinh tế, xã hội Nam Kỳ từ trước cho đến nay... Đồng thời, tìm hiểu giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ thời kì này trên quan điểm khách quan khoa học sẽ mang lại cho những nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam đương đại cũng như các nhà quản lí giáo dục khu vực Nam Bộ ít nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo, hướng nghiệp hiện nay. Những lí do trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” – thời kì lịch sử đầy biến động của xứ “thuộc địa” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. Đối với giới sử học trong nước, Việt Nam thời thuộc Pháp không phải là một đề tài quá mới mẻ. Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, đã xuất hiện một số công trình khảo cứu về Việt Nam thời kì này. Từ các góc độ và chuyên môn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã miêu tả, phác họa toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam trong thời kì Pháp đô hộ. Trong đó, những biến chuyển, đổi thay của Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, nửa đầu thế kỉ XX cũng được đề cập trên nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu về giáo dục chuyên nghiệp Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng thời kì này, người viết nhận thấy nguồn tư liệu về vấn đề này quá ít ỏi, không tập trung và mất cân đối mà biểu hiện của nó là chưa có một tác phẩm hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hệ thống trường nghề ở Việt Nam, có chăng chỉ là những phần nghiên cứu nhỏ trong một công trình hay tác phẩm với nội dung giới thiệu sơ lược. Ví dụ trong cuốn: “Lịch sử đại học và trung học chuyên nghiệp Việt Nam (từ thời phong kiến đến năm 1975)” (Viện Nghiên cứu Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985) của các tác giả Lê Văn Giang, Nguyễn Tùy, Nguyễn Được, Nguyễn Hoặc. Các tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn sự ra đời của các trường đại học và chuyên nghiệp ở Việt Nam từ thời phong kiến cho đến năm 1975, trong đó, một số trường dạy nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp cũng được các tác giả trình bày với mức độ khái quát nhất. Hay tác giả Phan Trọng Báu trong công trình “Giáo dục Việt Nam thời cận đại” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994) đã dành hẳn một chương để hệ thống các trường chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học ở Việt Nam thời kì này, tuy nhiên toàn bộ nền giáo dục chuyên nghiệp ở Nam Kỳ chỉ được tác giả đề cập duy nhất với sự ra đời của Trường Thông ngôn mà tác giả gọi là “Trường đào tạo thông dịch viên ở Nam Kỳ”. Do quá sơ lược nên nhiều đặc điểm cũng như quá trình ra đời, tồn tại và hoạt động của hệ thống giáo dục chuyên nghiệp Nam Kỳ thời thuộc Pháp không được các tác giả trên nói đến. Bên cạnh đó, mới dừng lại ở mức độ kể tên một số trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc địa có một số nghiên cứu khác như: – “Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945” ( NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1985) của Vũ Ngọc Khánh; – “Lịch sử giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945” (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1996) của Nguyễn Đăng Tiến; – “Khoa cử và giáo dục Việt Nam” (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1998) của Nguyễn Quốc Thắng; – “Lịch sử giáo dục Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698 1998)” (NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1999) của Hồ Hữu Nhựt; – “Lịch sử giản lược. Hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) của Lê Văn Giang; – “Lịch sử giáo dục Việt Nam” (NXB Đại học sư phạm, Hà Nội, 2005) của Bùi Minh Hiền; – “Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám 1945)” (NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006) của tác giả Phan Ngọc Liên... Các tác phẩm trên đã giúp người đọc thống kê được danh sách tên các trường chuyên nghiệp từng tồn tại ở Nam Kỳ thời kì này. Ngoài ra, có thể tìm thấy một số thông tin “tản mát” về chính sách giáo dục chuyên nghiệp của người Pháp ở Đông Dương và Việt Nam qua một số bài viết được đăng trên tạp chí chuyên ngành: – “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến cuối chiến tranh lần thứ nhất”, (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 98, 1967) của Nguyễn Anh. – “Vài nét về giáo dục ở Việt Nam từ sau đại chiến thế giới lần thứ I đến trước cách mạng tháng 8” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 102, 1967) của Nguyễn Anh; – “Giáo dục vùng dân tộc ít người, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục tư thục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 107, 1968) của Nguyễn Anh; – “Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 96, 1967) của Nguyễn Trọng Hoàng Trong khi đó, đối với từng trường nghề thông tin thu được lại càng ít hơn; chưa có công trình hay tác phẩm đề cập nào đến sự tồn tại cũng như hoạt động của các trường nghề ấy trong thời kì này. Người viết chỉ thu thập rất sơ lược vắn tắt về lịch sử hình thành của một số trường trong tập san giới thiệu về những trường nghề hậu thân của các trường nghề trước kia như: “Cao Thắng – 100 năm xây dựng và phát triển 1906 – 2006”,… Chính vì vậy, qua luận văn, người viết mong muốn tìm hiểu sâu hơn về “Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” để góp phần làm rõ hơn sự ra đời, tổ chức, hoạt động và ảnh hưởng của các trường nghề ở Nam Kỳ thời kì (1861 – 1945). 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ đề tài * Đối tượng nghiên cứu. Trên cơ sở những cứ liệu cụ thể, luận văn đi sâu tìm hiểu “Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)” và đó cũng là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài. * Phạm vi nghiên cứu. Không gian nghiên cứu là Nam Kỳ thời Pháp thuộc, bao gồm 2 khu vực Đông và Tây Nam Kỳ với 23 tỉnh, thành phố: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hòa. Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long, Vũng Tàu, Sài Gòn, Chợ Lớn (tương đương với địa bàn Nam Bộ Việt Nam hiện nay). Sở dĩ như vậy, vì trong suốt thời kì 1861 – 1945, địa bàn trên đã được quản lý theo cơ chế thuộc địa. Thời gian nghiên cứu từ năm 1861 đến năm 1945, vì ngay sau khi chiếm được Sài Gòn tháng 2.1861, thực dân Pháp đã bắt tay vào xây dựng nền thống trị. Cùng với quá trình ấy, một nền giáo dục mới Pháp – Việt được hình thành và phát triển đã làm biến đổi hoàn toàn nền học thuật Nho học cũ, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội Nam Kỳ trong suốt thời kì này. Đến năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công đã kết thúc chế độ cai trị thuộc địa của thực dân Pháp trên đất Việt Nam, trong đó có Nam Kỳ. * Nhiệm vụ nghiên cứu. Trong điều kiện thời gian có hạn và nguồn tư liệu còn hạn chế, luận văn đặt ra nhiệm vu nghiên cứu cụ thể sau: – Điều kiện cho sự ra đời và phát triển của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc; – Miêu tả, phục dựng một cách có hệ thống quá trình hình thành và phát triển của các trường nghề trên địa bàn Nam Kỳ thời kì 1861 – 1945; – Rút ra những đặc điểm của quá trình đó và bước đầu đưa ra những nhận định về công cuộc tư bản hoá của người Pháp trên lĩnh vực giáo dục ở Nam Kỳ; – Xuất phát từ tình hình phát triển thực tế của hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp, luận văn bước đầu nêu những tác động của giáo dục nghề đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của Nam Kỳ. 4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu. * Nguồn tư liệu. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, tập hợp, khai thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kế thừa nghiêm túc các nguồn tài liệu có liên quan. Nguồn tài liệu này gồm: Sách, báo, tạp chí viết về tình hình giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc nói riêng, về công cuộc khai thác thuộc điạ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Các tài liệu nghiên cứu riêng về Nam Kỳ được xuất bản ở cả Trung ương và địa phương. Đặc biệt với nguồn tài liệu lưu trữ, tác giả đã cố công khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II thành phố Hồ Chí Minh mà một số đã được dẫn nguồn trong luận văn này. Nguồn tài liệu quý giá đó đã tạo nhiều thuận lợi cho việc tạo dựng công trình, nâng cao giá trị tham khảo, tính khách quan, khoa học của luận văn. Ngoài ra, nguồn tài liệu địa chí tại thư viện Khoa học Tổng hợp, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn của Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ, nguồn tài liệu tham khảo trên mạng trong các Website đã được kiểm định cũng được chúng tôi chắt lọc tham khảo. * Phương pháp nghiên cứu. Để giải quyết nội dung khoa học mà đề tài đặt ra và đặt cơ sở lý luận cho những nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho mình. Dựa trên nền tảng đó để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện và làm rõ những điều kiện cùng đặc điểm phát sinh, phát triển của Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945) luận văn sử dụng Phương pháp lịch sử, xem xét một cách cẩn trọng những điều kiện xuất hiện và hình thành các trường nghề, đồng thời đặt quá trình phát triển của hệ thống trường nghề trong mối quan hệ nhiều chiều của bối cảnh lịch sử Nam Kỳ lúc bấy giờ. Song song với phương pháp lịch sử là Phương pháp lôgích được sử dụng để nghiên cứu các sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của các trường nghề. Mặt khác, luận văn còn sử dụng những phương pháp riêng của nhận thức lịch sử như: Phương pháp phân tích so sánh là phương pháp hỗ trợ cần thiết nhằm làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgích; Phương pháp đồng đại giúp bao quát toàn diện và đầy đủ quá trình lịch sử để so sánh những gì đã xảy ra trong cùng một thời gian; Phương pháp lịch đại cho phép nghiên cứu quá khứ lần theo các giai đoạn phát triển trước kia của nó… Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các môn phụ cận như Phương pháp thống kê cho phép thông qua tất cả các bản thống kê về số lượng vạch ra tính quy định thuộc về tính chất của các hiện tượng và quá trình lịch sử. Phương pháp nghiên cứu xã hội cụ thể để theo dõi trực tiếp các hiện tượng và quá trình của đời sống xã hội… Thực hiện đồng bộ tất cả các phương pháp trên, luận văn đã phục dựng lại bức tranh lịch sử về hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp. Qua đó mô tả và diễn đạt một cách cụ thể, khách quan các kết quả nghiên cứu. 5. Đóng góp của luận văn. Không tham vọng đưa lại điều gì mới mẻ mang tính phát hiện nhưng với tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học. Khi thực hiện đề tài “Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945)”, luận văn mong muốn có những đóng góp nhất định: – Phục dựng diện mạo tổng thể của giáo dục chuyên nghiệp ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp thông qua việc mô tả cụ thể sự hình thành và hoạt động của các trường nghề ở Nam Kỳ thời kỳ này một cách hệ thống; – Bước đầu nêu những tác động của giáo dục chuyên nghiệp đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng Nam Kỳ thời kì này; – Sơ bộ nhận xét, đánh giá khách quan về quá trình hình thành và phát triển của hệ thống trường nghề Nam Kỳ, về công cuộc tư bản hoá của người Pháp trên mảnh đất này. Góp phần bổ sung những khoảng trống kiến thức trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục ở Nam Kỳ thời thuộc Pháp. 6. Bố cục của đề tài. Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục. Nội dung chính của luận văn được có cấu trúc thành 3 chương: Chương 1. Những điều kiện cho sự hình thành và phát triển hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945). Chương 2. Hệ thống trường nghề ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945). Chương 3. Đặc điểm và tác động của hệ thống trường nghề đến kinh tế - xã hội Nam Kỳ thời Pháp thuộc (1861 – 1945). CHƯƠNG 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG NGHỀ Ở NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC (1861 – 1945) 1.1. Bối cảnh lịch sử - chính trị. Đầu thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa đế quốc; với những tiến bộ vượt bậc về khoa học kĩ thuật, giai cấp tư sản ở các cường quốc phương Tây đã có thể tiến xa hơn trong những hành trình tìm kiếm và khám phá những vùng đất xa xôi, mở đầu là các cuộc phát kiến địa lí. Cùng với đó, nhu cầu bành trướng chiếm lĩnh thuộc địa của các nước này ngày càng gia tăng. Trong xu thế đó,Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung không thể đứng ngoài “quỹ đạo” của những biến động chính trị lớn trên thế giới. Ngày 31.08.1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam bằng cuộc tấn công vào cửa biển Đà Nẵng, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh lực lượng hải quân Pháp tại Viễn Đông – tướng Rigault de Genouilly. Tuy nhiên, cuộc tấn công đầu tiên này đã thất bại, thực dân Pháp phải chuyển hướng tấn công vào Nam, đẩy Nam Kỳ lục tỉnh (Nam Bộ Việt Nam ngày nay) – một dải đất mới được khai phá hơn 200 năm của cư dân người Việt – đứng trước họa xâm lăng. Ngày 18.09.1859, Thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm thành Gia Định. Ngày 25.10.1860, sau khi giải quyết những khó khăn ở Trung Hoa, Pháp đã tăng viện binh để củng cố và mở rộng vùng chiếm đóng. Tháng 2.1961, Pháp chiếm đồn Kỳ Hòa. Hai tháng sau (tháng 4.1861), Pháp chiếm Mỹ Tho. Song song đó, những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Nam Kỳ chống Pháp đã bùng nổ khắp nơi, đưa thực dân Pháp vào tình thế khó khăn. Nhưng chính lúc đó, triều đình Huế đã chấp nhận thương thuyết với Pháp bằng Hòa ước Nhâm Tuất (05.06.1862) với 12 điều khoản. Trong đó Điều khoản thứ 3 và 11 đã quy định 3 tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa cùng đảo Côn Lôn trở thành thuộc địa của Pháp, gọi là “Nam kỳ thuộc Pháp” với tất cả chủ quyền trên lãnh thổ ấy “đất đai thuộc địa là đất đai của nước Pháp” và nhân dân 3 tỉnh này là “thần dân mới của hoàng đế Napoléon”. Bốn năm sau, năm 1867, lấy cớ “để bảo vệ trật tự an ninh cho vùng biên giới Nam kỳ thuộc Pháp thường bị bọn phiến loạn quấy rối” [5; 188], chỉ trong vòng một tuần lễ, thực dân Pháp đã chiếm xong 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ: Vĩnh Long (20/6/1867), An Giang (22/06/1867) và Hà Tiên( 24/06/1867 ). Ngay sau đó, ngày 20/07/1867, Trung tướng hải quân, Thống đốc Tổng tư lệnh Nam Kỳ P. de La Grandière ra quyết định “sáp nhập 3 tỉnh đó vào đất đai của đế quốc Pháp”, “đặt 3 tỉnh đó dưới chế độ pháp luật đương thi hành ở thuộc địa”, đồng thời tổ chức cai trị ở 3 tỉnh mới chiếm thêm được. “Kể từ nay triều đình Huế không còn quyền lực gì đối với Nam Kỳ lục tỉnh nữa. Một chính quyền duy nhất ở Nam Kỳ là do người Pháp điều khiển” [5; 185, 226]. Như vậy, chỉ với 8 năm, bằng lực lượng quân sự và những thủ đoạn xảo quyệt, Nam Kỳ lục tỉnh đã nằm gọn trong tay thực dân Pháp. Với mục đích chiếm cứ vĩnh viễn, đóng vai trò nước Pháp mới ở Châu Á (Nouvelle France d’ Asie), Nam Kỳ trở thành “một phần đất thuộc gia sản đất đai của nước Pháp và được cai trị trực tiếp bởi những người đại diện cho nước Pháp” [64; 25]. Ngày 15.03.1874, Triều đình Huế ký Hiệp ước Nhâm Tuất thay thế cho hiệp ước ngày 05.06.1862, trong đó có điều khoản công nhận chủ quyền hoàn toàn của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Nam Kỳ lục tỉnh. Đó là những sự kiện mở đầu cho sự ra đời của xứ thuộc địa Nam Kỳ. Ngày 08.02.1880, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập Hội Đồng thuộc địa Nam Kỳ với 16 thành viên, quy định rõ chức năng của Hội đồng là cơ quan “tư vấn”, có thể bàn về thuế má, thu chi… tuyệt đối không được đề cập đến vấn đề chính trị. Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Trong quá trình đó, Nam Kỳ ngày càng được thực dân Pháp đầu tư và thực thi nhiều chính sách để phát triển tương xứng với vị trí là “lãnh thổ hải ngoại của nước Pháp”. Và cũng bởi Nam Kỳ là “thuộc địa” (Colonie) nên thực dân, tư bản Pháp có rất nhiều thuận lợi cả về tâm lý, điều kiện chính trị và cơ chế chính sách khi đầu tư vào mảnh đất này. Từ đó đến giữa những năm 40 của thế kỷ XX, cùng với quá trình khai thác thuộc địa, Nam Kỳ trở thành một địa bàn kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Cũng như vậy, kết quả của quá trình tư bản hóa đó đã kéo theo một cách tự nhiên những thay đổi về văn hóa, xã hội. Chính những nhân tố mới về lịch sử, chính trị nêu trên là điều kiện để Nam Kỳ sớm nhận được sự chú ý, đầu tư của thực dân Pháp và cũng là một trong những nơi triển khai mạnh mẽ nhất ở Đông Dương những chủ trương, chính sách về văn hóa, giáo dục, kĩ nghệ… 1.2. Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương và Nam Kỳ. Với nguồn tài nguyên phong phú cùng nguồn nhân công dồi dào giá lại rẻ, Đông Dương có đủ điều kiện để thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác và bóc lột kinh tế thu lợi nhuận. Trong báo cáo gửi về Pháp ngày 22.02.1902, Toàn quyền Đông Dương P.Doumer, đã viết: “Đông Dương ngày nay là một thuộc địa lớn, hoàn toàn bình định và tổ chức, có một nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng, số thực dân ngày một tăng và có những phương tiện hoạt động cao đẳng, một thiết bị kinh tế hùng hậu đang được xây dựng… Có thể nói rằng thuộc địa Đông Dương của chúng ta đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp” [47; 112]. Do đó, sau khi hoàn tất mọi kế hoạch của quá trình xâm lược, thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào công cuộc khai thác thuộc địa với mục tiêu phải thu được lợi nhuận tối đa từ xứ này. Để đạt được mục tiêu đó, song hành với các biện pháp quân sự, kinh tế,.. thực dân Pháp đã đặc biệt chú ý đến chính sách văn hóa, giáo dục, xem đó như một công cụ đắc lực để thực hiện mưu đồ “chinh phục tâm hồn”. Với ý nghĩa “giáo dục là một công cụ mạnh nhất và chắc chắn nhất ở trong tay kẻ đi chinh phục” [40; 13] nên song song với các cuộc bình định vũ trang cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã ban hành hàng loạt các chính sách, nghị định về giáo dục để xây dựng cơ sở thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Từ đầu thế kỷ XX trở đi, Việt Nam chứng kiến nhiều sự kiện liên tiếp về việc mở rộng các hoạt động văn hóa, giáo dục Pháp – Việt như: xóa bỏ Nho học, truyền bá văn hóa, tư tưởng của văn minh Pháp trên nhiều miền đất nước. Điều đó trước hết xuất phát từ lợi ích của tư bản, thực dân Pháp: muốn tạo ra trong tầng lớp thanh thiếu niên tư tưởng lệ thuộc vào Pháp; khiếp sợ trước sức mạnh vật chất của chính quốc; đào tạo một đội ngũ tay sai, sẵn lòng phục tùng cho Pháp; ngăn chặn từ xa ảnh hưởng của các luồng tư tưởng tiến bộ, tư tưởng cộng sản sự bành trướng của các đế quốc khác ở thuộc địa… Và tùy vào yêu cầu chính trị của mỗi giai đoạn lịch sử mà những chủ trương, chính sách cụ thể được ban hành. Năm 1903, Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ P.Beau đã ký một Nghị định thành lập Hội đồng nghiên cứu cải cách giáo dục. Hai năm sau (tháng 11.1905), Nghị định thành lập Nha học chính Đông Dương được ban hành. Đến năm 1906, một kế hoạch “cải cách” giáo dục đã được hình thành qua các Nghị định thành lập Hội đồng cải lương học chính bản xứ ngày 08.03.1906, thành lập ở mỗi xứ của Đông Dương một ủy ban cải lương học chính tháng 05.1906,.. mà người ta gọi đó là Chương trình cải cách giáo dục lần thứ nhất, với sự tồn tại song song của hai nền giáo dục Phong Kiến và Pháp – Việt. Đến năm 1917 một chương trình cải cách giáo dục thứ hai do Albert Sarraut hoạch định cũng được áp dụng ở Đông Dương với tên gọi “Quy định chung về giáo dục của Đông Dương”, còn gọi là bộ “Học chính
- Xem thêm -