Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 402 |
  • Lượt tải: 11
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------ THÁI THỊ HIỀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------ THÁI THỊ HIỀN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học Mã số: 60 31 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Kim Đỉnh Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan, luận văn "Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp" là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Kim Đỉnh. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác. Tác giả luận văn Thái Thị Hiền MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ .................................................... 1.1. 7 Nhận thức chung về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở ..................................................................................................... 7 1.1.1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa .................. 7 1.1.2. Hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay ....................................... 12 1.2. Những nhân tố tác động đến quá trình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc ....................................... 21 1.2.1. Nhân tố tự nhiên .................................................................................. 21 1.2.2. Nhân tố lịch sử - văn hóa ..................................................................... 23 1.2.3. Nhân tố kinh tế - xã hội ........................................................................ 25 1.3. Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc.................................................................................... 27 Đảng bộ xã ........................................................................................... 30 1.3.2. Hội đồng nhân dân .............................................................................. 35 1.3.3. Ủy ban nhân dân .................................................................................. 39 1.3.4. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ........................... 41 1.3.5. Nhận xét chung .................................................................................... 60 1.3.1 Chƣơng 2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ Ở HUYỆN CAN LỘC ............................................................................ 62 2.1. Quan điểm chung ............................................................................... 62 2.2. Một số giải pháp ................................................................................. 68 2.2.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ xã ..................................... 68 2.2.2. Nâng cao năng lực của chính quyền cơ sở .......................................... 75 2.2.3. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.................................................................................................... 81 2.2.4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân ............................................ 85 2.2.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã ...................................... 87 2.2.6. Đề cao trách nhiệm và sự tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của cấp trên, trước hết là cấp huyện ..................................... 93 2.2.7. Nâng cao chất lượng thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và chính sách tôn giáo ở các xã, thị trấn trong toàn huyện ............................... 95 KẾT LUẬN ......................................................................................... 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................... 101 PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đổi mới hệ thống chính trị nhằm thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị đất nước là vấn đề được Đảng ta quan tâm từ rất sớm, đặc biệt từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986, trong khi đổi mới trên lĩnh vực kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thì Đảng cũng xác định phải đồng thời từng bước thực hiện đổi mới hệ thống chính trị. Tiếp tục xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị cơ sở nói riêng là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là điều kiện tất yếu đảm bảo thành công của sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, tại Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) năm 2002, Đảng ta đã ban hành nghị quyết về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn". Để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) năm 2013, đã ban hành Kết luận số 64 ngày 28/5/2913 về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở". Hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) được xác định là cấp cuối cùng trong phân cấp hành chính ở nước ta hiện nay, là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta bao gồm: Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn xã, phường, thị trấn, có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân; huy động mọi khả năng để phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư. Sau gần 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp nói chung và hệ thống chính trị cấp cơ sở nói riêng đã được nâng lên rõ rệt. Bộ máy Nhà nước tiếp 1 tục được xây dựng và hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước được đổi mới cả về tổ chức cũng như phương thức hoạt động. Huyện Can Lộc với diện tích tự nhiên trên 30.128,33 ha, dân số 126.199 người, là một huyện thuộc vùng bán sơn địa của tỉnh Hà Tĩnh, vừa có núi, vừa có đồng bằng, phía Bắc giáp thị xã Hồng Lĩnh, phía Nam giáp huyện Thạch Hà, phía Tây giáp huyện Hương Khê, phía Tây Bắc giáp huyện Đức Thọ, phía Đông giáp huyện Lộc Hà. Trong những năm qua, với sự năng động, sáng tạo và tích cực trong hoạt động, hệ thống chính trị cơ sở trong toàn huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực; bộ mặt của huyện có nhiều biến đổi to lớn; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực ngày càng được phát huy; tạo ra sự đồng thuận xã hội, ổn định chính trị, kinh tế phát triển. Qua đó đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng công tác; được rèn luyện, thử thách và trưởng thành qua thực tiễn. Với những thành tựu đạt được trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, nhiều năm liền Đảng bộ huyện Can Lộc được Tỉnh ủy công nhân đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong quá trình phát triển, đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng, nhất là trước những yêu cầu mới đang đặt ra, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nhiều xã chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hoạt động một cách có hiệu quả giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị chậm đổi mới, chưa được cụ thể hóa sát với đặc điểm tình hình của mỗi địa phương; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền nhiều xã còn yếu kém; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa phát huy hết vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình. Tại một số xã, quyền làm chủ của người dân chưa được phát huy, cá biệt có nơi quyền làm chủ còn bị vi phạm hoặc có biểu hiện lợi dụng dân chủ chống lại chủ trương của Đảng và Nhà nước; sự đồng thuận xã hội ở 2 một số xã không cao, cá biệt có nơi nội bộ mất đoàn kết; mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị hàng năm chưa cao, đời sống nhân dân còn khó khăn. Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, để huyện Can Lộc tiếp tục phát triển với tốc độ cao và bền vững, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài "Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp" làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của hệ thống chính trị trong đời sống xã hội, việc nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau, qua đó hình thành nhiều ấn phẩm có giá trị ở cả tầm lý luận và thực tiễn, điển hình như: Công trình "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay" do GS.TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nhà xuất bản lý luận chính trị, H.2004, đã nghiên cứu những vấn đề từ quan điểm lý luận đến lịch sử và thực tiễn, đồng thời cũng đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta hiện nay. Công trình "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" do PGS.TS Vũ Hoàng Công biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng; từ đó rút ra những đặc điểm, những vấn đề bức xúc và kiến nghị những giải pháp cơ bản trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị cấp cơ sở. Công trình "Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới" do TS Chu Văn Thành chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H.2004, đã cung cấp những tư liệu và luận cứ khoa học - thực tiễn về hệ thống chính trị cơ sở, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách đối với hệ thống chính trị cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Trung ương năm, khóa IX. TS Nguyễn Duy Hùng (chủ biên) "Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2008; TS Mai Đức Ngọc, "Vai trò của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã trong việc giữ 3 vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2008); Kỷ yếu khoa học đề tài độc lập cấp Nhà nước năm 2001 - 2002 "Các giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay" do PGS.TS Phạm Hào làm chủ biên, Nhà xuất bản Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; Công trình "Cộng đồng làng xã Việt Nam hiện nay" do TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001, công trình được nghiên cứu ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp nông thôn nói chung và hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn nói riêng. Ngoài ra, một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng bàn về vấn đề này với những hình thức và mức độ khác nhau như: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân” của Văn phòng Quốc hội (Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001); “Hệ thống chính trị cơ sở vùng sâu, vùng xa và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết” của Hồ Minh Đức (Dân vận, số 1 và 2/2002); “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Kiều Oanh (Nxb Lý luận Chính trị, H.2005); “Tồn tại và không nên tồn tại Hội đồng nhân dân cấp nào?” của Trần Hữu Trí (Đại đoàn kết, số 139/2007); “Giải pháp nâng cao chất lượng của Hệ thống chính trị cấp xã, phường, thị trấn ở Đồng Nai hiện nay” của Nguyễn Khánh Mậu (Khoa học chính trị, số 2/2007); “Đổi mới Hệ thống chính trị để phát huy dân chủ” của Đoàn Minh Duệ (Triết học, số 9/2007); "Xây dựng và phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số" của Trần Đức Quang (Tạp chí Cộng sản số 64/2012),… cũng đã làm sáng tỏ về những vấn đề đang đặt ra của hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay. Như vậy, nghiên cứu về Hệ thống chính trị nói chung và Hệ thống chính trị cấp cơ sở nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Song, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh một cách có hệ thống nhằm tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở nơi đây. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài trên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chuyên 4 ngành Chính trị học của mình với hy vọng trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn, nhằm đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng về hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. 3.2. Nhiệm vụ - Nghiên cứu và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng. - Nghiên cứu, đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế) về tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc và hiệu quả của nó. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị ở các xã của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2002 (Năm thực hiện Nghị quyết số 17NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về "đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn") đến năm 2014. Số liệu để phân tích, đánh giá dựa trên kết quả khảo sát của tác giả tại 9 xã (trong tổng số 23 xã, thị trấn của huyện Can Lộc) cụ thể các xã: Thiên Lộc, Thượng Lộc, Khánh Lộc, Thanh Lộc, Phú Lộc, Vĩnh Lộc, Yên Lộc, Vượng Lộc, Thuần Thiện. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở. 5 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. - Kết hợp giữa phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, khảo sát tổng kết thực tiễn cùng các phương pháp mang tính chuyên ngành khác. Đặc biệt, luận văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và thăm dò dư luận xã hội tại 9 xã của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. 6. Đóng góp về khoa học của luận văn - Luận văn góp phần làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc nói riêng. - Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. - Kết quả của luận văn có thể sử dụng để làm tư liệu cho việc nghiên cứu những vấn đề có liên quan về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 6 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ 1.1. Nhận thức chung về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cơ sở 1.1.1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa 1.1.1.1. Hệ thống chính trị Thuật ngữ "hệ thống chính trị" xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị và hệ thống chính trị là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định. Khi nghiên cứu về thiết chế chính trị và cách thức tổ chức của một xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị như một chế độ chính trị theo tính hệ thống của nó và sử dụng những thuật ngữ tương đương như: "hệ thống cai trị", "hệ thống đẳng cấp chính trị", "cơ cấu chính trị", "hình thức chính trị", "thiết chế xã hội và chính trị", "cơ cấu chính quyền"...vv Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục hoàn thiện khái niệm dân chủ và hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế, V.I.Lênin chưa sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" trong các bài nói, bài viết của mình, nhưng ông thường dùng khái niệm "chuyên chính vô sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trị của xã hội. Mà hệ thống chuyên chính vô sản theo quan niệm của Lênin bao gồm: Nhà nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn. Như vậy, nếu xét theo nội hàm, những thuật ngữ mà C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra và được V.I.Lênin kế thừa, phát triển với thuật ngữ hệ thống chính trị hiện đại có liên quan chặt chẽ với nhau và được hiểu là tương đồng. Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị là một phạm trù rất quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị. Hơn nữa, những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có 7 "đầu vào" và "đầu ra"; có nội dung và hình thức, có hiện tượng và bản chất... Vì vậy, hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau. Ở phương Tây, có hai cách tiếp cận cơ bản về hệ thống chính trị. Thứ nhất, cách tiếp cận thể chế: coi hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế chính trị (gồm các tổ chức nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội) và những mối quan hệ qua lại giữa chúng. Thứ hai, cách tiếp cận hệ thống: coi hệ thống chính trị không chỉ bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa chúng, mà còn là những chuẩn mực chính trị, vai trò chính trị, hành vi chính trị. Từ hai cách tiếp cận cơ bản này phát triển nên một số quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị như: Nhà chính trị học Mỹ D.Istons, trong tác phẩm Hệ thống chính trị (1953), Giới hạn sự phân tích chính trị (1965) cho rằng: "Hệ thống chính trị giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết và phản ứng với những tác động từ bên ngoài. Hệ thống đó có "đầu vào", đó là nơi thu nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ... của môi trường xã hội và văn hóa xã hội quanh nó. Còn "đầu ra" là những quyết định chính trị và hành động chính trị để thực hiện các quyết định đó" [43, tr.33-34]. Cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ G.Almold cho rằng: "Hệ thống chính trị đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị, của các tổ chức nhà nước cũng như phi nhà nước. Các kiểu hành vi đó được chia ra hai cấp độ là: thể chế và định hướng" [43, tr.34-35]. Một số cách tiếp cận khác cho rằng: "Hệ thống chính trị là cơ chế để thực hiện và giải quyết các vấn đề, đồng thời để hoạch định và kiểm soát sự thực hiện các quyết định cũng như kiểm soát các quan hệ quản lý của Nhà nước" [43, tr.35]. Đến đầu những năm 80, khái niệm hệ thống chính trị được khẳng định trong các tài liệu triết học, chính trị học của Liên Xô. Hệ thống chính trị được hiểu theo cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, là bộ phận của thượng tầng kiến trúc được quyết định bởi hạ tầng kinh tế, theo kết cấu xã hội giai cấp. Hệ thống chính trị là một kiểu xác định của hình thái kinh tế - xã hội. Hiện nay một số nhà khoa học Nga coi hệ thống chính trị như một tổ hợp phức tạp các thể chế nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức xã hội, trong khuôn khổ đó diễn ra đời sống chính trị và thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực xã hội. 8 Ở nước ta, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học đề cập đến hệ thống chính trị, hoặc những khía cạnh khác nhau của hệ thống chính trị, đã có không ít định nghĩa hệ thống chính trị được nêu ra. Có thể khái quát theo hai quan niệm: Quan niệm thứ nhất, xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chức chính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyền, hoặc phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó. Theo đó, hệ thống chính trị đồng nhất với phạm trù "hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền". Quan niệm thứ hai, xem trong hệ thống chính trị, ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền với tư cách là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất, quy định bản chất và chức năng cơ bản của toàn bộ hệ thống, còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác. Theo quan niệm này có thể hiểu: "Hệ thống chính trị là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước, các Đảng chính trị hợp pháp, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, trong đó, vai trò chủ đạo thuộc về các thiết chế của giai cấp cầm quyền để tác động vào các quá trình kinh tế - xã hội nhằm củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời" [19, tr.197]. Nhìn chung, ở Việt Nam, cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị là mô tả các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của hệ thống chính trị. Phù hợp với quan điểm đó, có thể nêu lên định nghĩa chung về hệ thống chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong trào chính trị...) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [55, tr.262]. Như vậy, có thể thấy, hệ thống chính trị là một hệ thống cấu trúc, một chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí, chức năng, vai trò khác nhau. Hệ thống ấy được thể hiện ở những cấp khác nhau: trung ương, địa phương, cơ sở. Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, ở mỗi quốc gia lại có đặc thù khác nhau, nhưng cơ bản gồm 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp. 1.1.1.2. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Trong các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản tuy trình độ phát triển về mọi mặt rất khác nhau, nhưng đều có chung bản chất là dựa trên cơ sở của chế độ chiếm hữu 9 tư nhân về tư liệu sản xuất và duy trì quyền áp bức bóc lột của giai cấp thống trị đối với đông đảo nhân dân lao động. Vì vậy, hệ thống chính trị của các chế độ xã hội ấy hình thành và phát triển với quá trình vận động của mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng. Sự vận động của mâu thuẫn giai cấp trong các chế độ người áp bức, bóc lột người, gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi các hệ thống chính trị theo hướng tiến bộ, hoặc thủ tiêu thay thế nó bằng một hệ thống chính trị dân chủ, tiến bộ hơn. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ra đời dựa trên tiền đề chính trị là thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực chính trị, tự định đoạt quyền chính trị của mình. Dù đã trải qua những thăng trầm, biến cố trong quá trình phát triển, nhưng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vẫn luôn kiên định và nhất quán mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, không có sự đối kháng giai cấp, không có sự phân biệt giàu nghèo. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, tùy theo góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy rõ điểm chung mà các định nghĩa nêu lên là xem hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là cách thức tổ chức quyền lực chính trị mà giai cấp công nhân nắm quyền thực hiện phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Các tác giả trong cuốn "Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới", nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1999) đã khẳng định: "Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà nước chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố nhằm đảm bảo quyền lực của nhân dân" [6, tr.47]. Cũng có định nghĩa cho rằng: "Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là liên minh các thiết chế chính trị - xã hội được thành lập, hoạt động trong mối liên hệ chặt chẽ mà vai trò lãnh đạo thuộc về Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện triệt để quyền lực nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội" [52, tr.301]. Đối với nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyền lực. Cho nên, hệ thống chính trị Việt Nam là cơ chế, công cụ thực 10 hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay về mặt thành tố bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống chính trị, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã hội. Về mặt tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức thành 4 cấp gắn liền với nền hành chính quốc gia: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn. Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức theo mô hình có đỉnh quyền lực. So với nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước có cùng mô hình hệ thống chính trị, thì hệ thống chính trị Việt Nam vẫn có những đặc điểm khác biệt. Những đặc điểm chủ yếu của hệ thống chính trị Việt Nam là: Một là, hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, chỉ do một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nó thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, nhưng đồng thời cũng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội nói chung, hệ thống chính trị nói riêng xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta như: truyền thống lịch sử; phẩm chất vốn có của Đảng; những thành tựu to lớn mà Đảng ta đem lại cho nhân dân trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Hai là, các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản thành lập, có lịch sử đấu tranh vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước. Các đoàn thể quần chúng luôn gắn mình với sự nghiệp cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc, thể hiện rõ là các tổ chức quần chúng có chức năng xã hội gắn với đời sống của các tầng lớp nhân dân, vừa tổ 11 chức nhân dân trực tiếp thực hiện quyền làm chủ; vừa giúp Đảng, Nhà nước trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách tới nhân dân, vừa truyền đạt tiếng nói, nguyện vọng của dân đến Đảng, Nhà nước. Với lịch sử lâu dài, vẻ vang, với vai trò to lớn qua các thời kỳ và kinh nghiệm tổ chức quần chúng, các đoàn thể này xứng đáng là chủ thể của hệ thống chính trị. Ba là, hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo mô hình Xô viết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Bốn là, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị còn rất non trẻ, lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ thực dân phong kiến), bị ảnh hưởng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn như: đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa đồng thời với hiện đại hóa đất nước, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân... Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ, vừa cho thấy những khó khăn thách thức mà chúng ta phải giải quyết, vừa đặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta khác với các hệ thống chính trị khác trên thế giới. 1.1.2. Hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay 1.1.2.1. Khái niệm Cơ sở là một khái niệm đa nghĩa, xét về mặt loại hình, đó là cơ sở của xã hội, những không gian xã hội, nơi diễn ra các hoạt động sống của con người, nơi hình thành những tập thể, cộng đồng người để thực hiện các hoạt động lao động, sinh hoạt, giao tiếp thông qua các quan hệ xã hội, các tổ chức và thiết chế. Bức tranh về cơ sở rất phong phú, đa dạng từ một cộng đồng người tập hợp lại theo lứa tuổi, giới tính, công việc, sở thích, nghề nghiệp hay gia đình, cơ quan, công sở, một xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty, một bệnh viện, một trường học, một viện nghiên cứu... Tuy nhiên, những loại hình và mô hình này không nằm trong đối tượng nghiên cứu của đề tài. 12 Cơ sở được nghiên cứu ở đây là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta. Ở nước ta hiện nay, xã, phường, thị trấn được gọi chung là cấp cơ sở và do số lượng xã là tuyệt đối, thị trấn cũng tương đương với xã; còn phường ở các tỉnh vẫn gắn một phần với sản xuất và cư dân nông nghiệp nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã. Đến tháng 12 năm 2012 ở nước ta có 11.120 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn [45, tr.13]. Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Ở đó, vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người lao động, vừa diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng. Nói tới cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc sống của họ; nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng. Tại đây, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Tất cả những hoạt động đó đều nằm trong khuôn khổ lãnh đạo, quản lý, điều hành trực tiếp của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở. Khi nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cách tiếp cận thứ nhất, xem xét hệ thống chính trị cơ sở như một hệ thống về mặt tổ chức và chức năng của các bộ phận hợp thành: tổ chức Đảng, chính quyền (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) ở xã, phường, thị trấn. Mỗi bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể: Đảng bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc triển khai, đề ra các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của đảng viên trong bộ máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và các đoàn thể 13 nhân dân; bằng công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên. Chính quyền là trụ cột của hệ thống chính trị cơ sở, có vai trò quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp và pháp luật. Trong chính quyền cơ sở, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, thực hiện nhiệm vụ theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, nhiệm vụ do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, của chính quyền cơ sở; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên, đoàn viên. Đồng thời, thực hiện chức năng giám sát, phản biện đối với hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở; tham gia một số hoạt động quản lý xã hội ở cơ sở, thôn xóm. Bên cạnh đó, cấp cơ sở hiện nay còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn do nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ pháp luật, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, liên kết cộng đồng, cùng nhau tổ chức đời sống trong cộng đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội. Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở nhưng có mối quan hệ mật thiết với hệ thống này. Vì vậy, nếu hệ thống chính trị cơ sở biết tạo điều kiện, phát huy ưu thế của các tổ chức này thì sức mạnh của tinh thần đoàn kết, hợp tác, sáng tạo trong cộng đồng xã hội ở cơ sở sẽ được nhân lên gấp bội, đem lại sự ổn định ở cơ sở, tạo ra sức bật lớn cho cơ sở phát triển, làm cho nền tảng xã hội của Đảng, Nhà nước và của cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở. Như vậy, xét về phương diện cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị cơ sở có khá nhiều tổ chức hợp thành với vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền khác nhau. Củng 14 cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở phải củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của từng tổ chức này, cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống theo tư tưởng: nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Cách tiếp cận thứ hai, không chỉ về mặt tổ chức pháp lý mà còn bao gồm cả các yếu tố thể hiện bản chất của hệ thống chính trị nói chung và những điều kiện đảm bảo cho các bộ phận của hệ thống đó vận hành. Ở nghĩa này, hệ thống chính trị cơ sở được hiểu theo tính chất của việc thực hiện dân chủ cơ sở, thể hiện quyền lực của nhân dân. Cách tiếp cận này đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề như: quyền dân chủ trong bầu cử, chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân, những việc dân được biết, được bàn và thực hiện kiểm tra; tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân; vai trò của tổ chức Đảng, Mặt trận và các đoàn thể trong việc phát huy quyền dân chủ của người dân; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân trong việc đảm bảo và thực hiện quyền dân chủ của dân. Việc nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở theo nội dung dân chủ cho thấy mối liên hệ bên trong của hệ thống, từ đó đi đến nhận thức: củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn không chỉ là vấn đề về tổ chức pháp lý, mà còn là vấn đề cơ chế thực hiện dân chủ. Có như vậy mới tạo ra động lực thực sự thúc đẩy sự phát triển của cơ sở. Qua phân tích những cách tiếp cận trên, có thể hiểu: "Hệ thống chính trị cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở" [46, tr.10]. 1.1.2.2. Đặc điểm Hệ thống chính trị cơ sở là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nên nó mang đặc điểm chung của toàn bộ hệ thống. Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung, xét khía cạnh địa vị pháp lý và thực tế thì hệ thống chính trị cơ sở còn có những đặc trưng riêng như: Thứ nhất, là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, gần với cộng đồng dân cư nhất, do vậy tổ chức và hoạt động mang tính tự quản cao. 15
- Xem thêm -