Giúp hs tiếp cận tác giả nguyễn du bằng phương pháp tự nghiên cứu

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

ĐỀ TÀI: GIÚP HỌC SINH TIẾP CẬN TÁC GIẢ NGUYỄN DU BẰNG PHƯƠNG PHÁP TỰ NGHIÊN CỨU I. ĐẶT VẤN ĐỀ Không có tác giả văn học sẽ không có nền văn học với những đỉnh cao. Sự xuất hiện của tác giả văn học và nghiên cứu về tác giả văn học góp phần làm sáng tỏ những quy luật vận động, hình thành và phát triển của một nền văn học. Muốn trở thành tác giả văn học, nhà văn phải dành được vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền văn học dân tộc. thành tựu của tác giả văn học không chỉ là số lượng tác phẩm và sự phong phú về thể loại mà còn là chất lượng tác phẩm, trong đó những tác phẩm tốt góp phần khẳng định một khuyng hướng, trào lưu định mốc cho sự hình thành và phát triển của nền văn học. Nhà văn, nhà thơ là nghệ sĩ sáng tác văn học. Nghệ sĩ viết văn chân chính là những người có tâm hồn giàu xúc cảm; có tình yêu tha thiết, sâu nặng đối với cuộc sống con người ; có trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt; có năng lực trí tuệ sắc bén; một khả năng quan sát và tự quan sát tinh tế, … Trên cơ sở những phẩm chất ấy, nghệ sĩ viết văn không ngừng tu dưỡng để tạo cho mình một tài năng nghệ thuật cao. Trong sáng tác văn học, tài năng nghệ thuật là kết quả tổng hợp kết tinh từ nhiều yếu tố: thế giới quan lành mạnh, tích cực, vốn sống phong phú, vốn văn hóa uyên bác và chủ động, thành thạo trong sử dụng ngôn ngữ và tổ chức tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Nhận thấy tầm quan trọng lớn lao của nhà văn, nhà thơ trong tiến trình phát triển của văn học nước nhà, hơn nữa Nguyễn Du lại là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới nên tôi quyết định tìm hiểu, lựa chọn những phương pháp phù hợp nhất, đạt hiệu quả cao nhất để giúp học sinh tiếp cận với tác giả một cách hứng thú, hiệu quả và sáng tạo. Những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, đổi mới phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực 1 tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả, tôi đã luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu, sử dụng các phương pháp cho phù hợp với từng phân môn và từng bài học. Có như vậy thì hiệu quả giảng dạy mới cao được. Phương pháp là một bộ phận hữu cơ trong quá trình dạy – học văn. Quá trình dạy - học văn bao gồm mục đích – nội dung, lí luận về phương pháp và hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh. Đây là quá trình sư phạm mang tính chất và đặc điểm xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ qua lại nhằm hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ nghĩa cho học sinh bằng phương pháp văn chương. Người giáo viên là người tổ chức và điều khiển quá trình dạy học văn sao cho quá trình đó diễn ra phù hợp với đặc điểm nhận thức bộ môn và điều kiện sư phạm. Tính chất phức tạp của quá trình nhận thức văn học đòi hỏi người giáo viên không những có tri thức khác nhau về quá trình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa và đánh giá các hiện tượng văn học mà cả khả năng nhìn thấy ở học sinh những cảm xúc tinh tế thường ẩn kín, khả năng quan sát và nhận thức nhạy bén về nhiều mặt đối với những biểu hiện tản mạn và lệch lạc trong cảm thụ và tư duy văn học của học sinh. Từ đó giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp và hiệu quả cho bài học giúp học sinh lĩnh hội được một cách tốt nhất bài học. Có thể nói, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Thầy giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức cho học sinh mà là người hướng dẫn, tổ chức học sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tự học. Trong bộ môn Ngữ văn có những bài học thuộc về văn học sử, nếu chúng ta không chủ động tìm tòi đổi mới phương pháp thì sẽ làm cho học sinh cảm thấy bài học đó trầm buồn, giáo viên rơi vào tâm thế giảng lại những kiến thức mà SGK đã viết và viết rất hay, rất đầy đủ gây cảm giác nhàm chán cho bài học. Mà tác giả văn học lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa, văn học của mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên việc giảng dạy phần tác giả lại khô khan và dễ gây nhàm chán cho người học. 2 Từ những vấn đề trên mà tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp tự nghiên cứu vào giảng dạy bài tác giả NGUYỄN DU để giúp học sinh tiếp cận một cách tốt nhất với tác giả Nguyễn Du - một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa của thế giới. Đồng thời để phát huy tính tự học và tư duy sáng tạo của học sinh. Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích tìm ra những phương pháp tối ưu nhất cho bài học nhằm đạt được mục đích cao và nâng cao chất lượng giờ dạy, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên. Làm tốt công tác này sẽ kích thích tinh thần tự học của học sinh, tạo không khí sôi nổi cho giờ dạy. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề 1.1. Khái niệm phương pháp Phương pháp dạy học là cách thức hành động có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học. Nói cách khác phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính như vậy mà đạt được mục đích dạy học. Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy. 1.2. Khái quát về phương pháp tự nghiên cứu Học văn học sử, học sinh trung học có thể tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tự lĩnh hội bài học. So với phương pháp đặt câu hỏi, mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò không được rõ, không được diễn ra cùng một lúc. Giáo viên chỉ có thể hướng dẫn tự đọc và kiểm tra kết quả đó trên lớp. Tuy nhiên đây là phương pháp có tác dụng rèn luyện 3 năng lực tự học, tự lĩnh hội văn bản của học sinh. Ở THPT, cần đặc biệt chú trọng đến phương pháp này. Trong xu thế chung của dạy học hiện đại, yêu cầu học sinh phổ thông tập dượt nghiên cứu đã đặt ra khá mạnh dạn ở nhiều nước. Học sinh có thể được hướng dẫn tóm tắt toàn bài học hoặc một phần bài học bằng cách rút bỏ ý phụ hoặc bằng cách khái quát ý nhỏ thành ý lớn. Trong quá trình tự đọc, tự nghiên cứu bài học, học sinh có thể phát hiện ra những thiếu sót của sách giáo khoa (nhất là một hệ thống) làm cho sự lĩnh hội của học sinh gặp khó khăn. Cốt lõi của việc học sinh tự nghiên cứu là tập dượt cho học sinh làm quen với khả năng độc lập tự phát hiện nội dung văn bản một cách chính xác từ ý đồ chung cho đến luận điểm. Các bài bài học được dùng cho nghiên cứu được kiểm tra trên lớp khi giáo viên lướt qua bài đó với mục đích xem các em có thật sự tự đọc ở nhà không và nếu có tự đọc thì có hiểu, có nắm được tri thức cơ bản không? Việc tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa là một việc làm khó. Đối với lớp thường, cần vận dụng từ thấp đến cao, bắt đầu từ việc chuẩn bị cho bài dạy (lập dàn ý, trả lời câu hỏi, sau có thể thay cho bài dạy trên lớp. Một bài dạy học văn học sử trên cơ sở học sinh đã tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa chưa có nhiều trong thực tiễn hiện nay) là kiểu bài cần được thực nghiệm và khuyến khích trong thời gian tới. Học sinh làm việc trên sách giáo khoa là chủ yếu. Song cũng không loại trừ việc giáo viên (trong điều kiện cho phép ) nghiên cứu một vài bài viết có liên quan đến bài học văn học sử để hiểu đúng hơn vấn đề đặt ra trong sách giáo khoa. Bài dạy tác giả văn học là kiểu bài có thể vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu văn học và giảng dạy văn học một cách rộng rãi. Trước hết đó là những phương pháp kết hợp tri thức khái quát (nhận định, quan điểm…) với tri thức cụ thể (tư liệu về đời sống và sáng tác tác phẩm ) để hình thành tri thức lí luận văn học (những quy luật văn học sử, quy luật sáng tác và quy luật tiếp nhận văn học). Dù cho thức kiến thức đưa vào sách giáo khoa đã được cân nhắc đến từng câu, từng chữ, nhưng người giáo viên có trình độ vẫn không bao 4 giờ “bê nguyên si” tri thức ấy truyền lại cho học sinh, mà thường làm “sinh động hóa” những tri thức ấy bằng những dẫn chứng minh họa văn chương, bằng những hiện tượng, sự kiện văn học cụ thể. Phương pháp tự nghiên cứu là phương pháp học sinh làm việc một mình với sách giáo khoa dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theo nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra. *. Nghiên cứu sách giáo khoa Sách là nguồn tri thức vô tận và đa dạng, là phương tiện quan trọng để nhận thức thế giới xung quanh, vì nó phản ánh những kinh nghiệm đã được loài người khái quát hoá, hệ thống hoá trong suốt quá trình phát triển lịch sử của mình. René Descartes, nhà triết học, nhà khoa học tự nhiên người Pháp đã nói: “Đọc một cuốn sách tốt, khác nào như trao đổi ý kiến với các nhân vật ưu tú của các thế kỷ đã qua, và hơn nữa, cuộc trao đổi này hoàn toàn bổ ích vì những con người ưu tú này chỉ thông báo cho chúng ta những tư tưởng cao quý của mình”. Vì vậy, phương pháp tự nghiên cứu sách giáo khoa có một vị trí quan trọng không chỉ trong việc lĩnh hội tri thức mà còn làm cho học sinh hình thành cách đọc sách. Nhờ đó mà học sinh có thể tiến hành học tập liên tục, học tập suốt đời – một yêu cầu cấp bách trước sự bùng nổ thông tin như hiện nay. Bản chất của phương pháp này là sử dụng sách giáo khoa trong quá trình làm việc, học sinh nắm vững, đào sâu, mở rộng tri thức đồng thời hình thành những kỹ năng, kỹ xảo đọc sách. **. Những yêu cầu của phương pháp tự nghiên cứu Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên cần xác định nội dung nào trong sách giáo khoa hoặc sách báo khác để học sinh có thể tự lực nghiên cứu ở lớp. - Khi tiến hành bài học, giáo viên có trách nhiệm xem trong từng trường hợp cụ thể phải hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa hoặc các sách báo khác tại lớp cần theo trình tự nào là hợp lý nhất để kích thích hoạt động tư duy tích cực của học sinh mà không dẫn tới ghi nhớ một cách máy móc. 5 - Trước khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu sách báo khác, giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ về chủ đề học tập, nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu cần nghiên cứu và xác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trình tự đó. - Sử dụng việc nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp dù bất kỳ trường hợp nào cũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phải phối hợp với các phương pháp dạy học khác. - Sau khi tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu nội dung nào đó trong sách giáo khoa hoặc trong tài liệu học tập khác cần đặt ra câu hỏi và kích thích học sinh trả lời nhằm biết được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đào sâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều mà học sinh chưa hiểu đúng. - Tự học với sách giáo khoa tại lớp có thể sử dụng trong các tiết học lĩnh hội kiến thức mới và cả trong tiết học củng cố kiến thức đã học. Để việc sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác có kết quả cần hình thành cho học sinh một số kỹ năng, kỹ xảo sau: + Kỹ năng, kỹ xảo đọc sách. + Kỹ năng, kỹ xảo lập dàn ý, xây dựng đề cương. + Kỹ năng, kỹ xảo trích ghi. + Kỹ năng, kỹ xảo ghi tóm tắt. Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác tại lớp và ở nhà với điều kiện ở lớp giáo viên đề ra những yêu cầu phải thực hiện nghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có hệ thống và học sinh tích cực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập đề ra. 2. Thực trạng vấn đề Thực tế chung những năm gần đây, việc học sinh không tha thiết, thậm chí còn quay lưng lại đối với môn Ngữ văn trong nhà trường THPT là một thực trạng đáng báo động. Thực tế dạy học cho thấy: việc đổi mới phương pháp dạy học chỉ mới dừng lại ở chủ trương, ở khẩu hiệu hô hào chứ chưa thực sự đi vào thực tiễn một cách sâu sát. Thỉnh thoảng vẫn có 6 những giáo viên nỗ lực tìm con đường đi sao cho tiết dạy của mình đạt hiệu quả cao nhất. Nhưng số đó không phải là nhiều. Đa phần họ đều giảng dạy theo phương pháp cũ lâu nay đã làm, từ đó dẫn đến tình trạng chán học, ngại học ở học sinh. Các em luôn nghĩ văn là đọc chép, văn là nhiều chữ, dài dòng mà không biết rằng văn học vốn rất gần gũi với cuộc sống, cuộc sống thì bao giờ cũng bề bộn và vô cùng phong phú. Mỗi tác phẩm văn chương là một mảng cuộc sống đã được nhà văn chọn lọc phản ánh. Vì vậy môn văn trong nhà trường có một vị trí rất quan trọng: nó là vũ khí thanh tao đắc lực có tác dụng sâu sắc đến tâm hồn tình cảm của con người, nó bồi đắp cho con người trở nên trong sáng, phong phú và sâu sắc hơn. Thực tế bài dạy: đây là một bài nghiên cứu về tác giả văn học, được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học. Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã giới thiệu thân thế và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du, một nhà thơ nhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX. Ông có một đóng góp to lớn đối với nền văn học dân tộc về nhiều phương diện nội dung và nghệ thuật, xứng đáng được gọi là thiên tài văn học, danh nhân văn hóa thế giới. 3. Giải pháp và tổ chức thực hiện 3.1. Cấu tạo bài học tác giả Nguyễn Du và những giải pháp thực hiện - Thông qua bài học cần cung cấp cho học sinh kiến thức về quy luật của lịch sử, về chặng đường sáng tác. Phân tích, đánh giá những đóng góp của tác giả cho nền văn học dân tộc, nhất là đối với giai đoạn mà nhà thơ sống và sáng tác. Kiến thức lý luận quan trọng nhất là giải thích các yếu tố hình thành nên thiên tài Nguyễn Du. - Bài học tác gia văn học gồm hai phần: cuộc đời và sự nghiệp văn học, hai nội dung này có mối quan hệ minh giải lẫn nhau làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nhà thơ và người. Xử lý mối quan hệ giữa văn và người không thể chỉ nhìn hình thức bề ngoài để cắt nghĩa đơn giản, thô thiển: văn là người, người thế nào thì văn thế ấy! Ý nghĩa xã hội tiêu biểu của Nguyễn Du, của Truyện Kiều. Đây là bài học có tính chất tổng quát và lý 7 luận về một tác giả nên giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững dàn ý, kết cấu của bài và nắm vững một số khái niệm chủ yếu đã nêu trong bài để có thể hiểu được bài. - Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học theo nguyên tắc hướng dẫn cho học sinh tự đọc, tự nghiên cứu văn bản bài học trước, sau đó cho học sinh thảo luận, tranh luận, học sinh nêu các luận điểm đã tiếp nhận dược qua tự nghiên cứu sách giáo khoa, giáo viên góp ý, bổ sung, học sinh nêu các ý kiến băn khoăn, thắc mắc và giáo viên giải đáp. Hình thức dạy bài này chủ yếu là học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu khác liên quan đến bài học. - Cuộc đời Trong bài học tác giả Nguyễn Du bao gồm cuộc đời nhà thơ được trình bày trước sự nghiệp văn học. Lịch sử văn hóa nhân loại luôn luôn gắn chặt với sự sáng tạo của con người. Việc trình bày trước sau như vậy hàm chứa tính hợp lý tự nhiên, đồng thời thể hiện mối quan hệ đúng đắn giữa con người với sản phấm sáng tạo. Sản phẩm dù có tinh xảo như người máy thì vẫn thấp hơn người sáng tạo ra nó. Tác giả văn học đâu phải chỉ là người sản xuất ra sản phẩm cho xã hội. Đó là một nghệ sỹ, một nhân cách có những nét riêng. Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu cuộc đời tác giả Nguyễn Du với tư cách “Tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (Mác) trong khi giảng dạy. Trong cuộc đời tác giả Nguyễn Du, chúng ta cần thiết phải cho học sinh tìm hiểu về các yếu tố gia đình, quê hương, thời đại xã hội và cuộc đời riêng đã góp phần hình thành nên thiên tài Nguyễn Du. - Sự nghiệp văn học Yếu tố đầu tiên làm nên vị trí, vai trò của một tác giả trong lịch sử văn học chính là sự nghiệp văn học. Phần sự nghiệp văn học giữ vai trò quan trọng trong phần bài dạy. Xét tác gia văn học như một chỉnh thể văn học sử thì phải chú ý đầy đủ mối quan hệ cuộc đời và sự nghiệp sáng tác với tuổi thọ của những trang sách và hoạt động nhà văn để lại. Như vậy, chúng ta đều thấy Nguyễn Du và Truyện Kiều đều đã trở thành bất hủ trong lòng độc giả xưa và nay. 8 Trong khi trình bày về thành tựu văn học, tôi không chỉ dừng lại ở liệt kê tác phẩm mà có thể phân tích một số tác phẩm chính như Truyện Kiều, Văn chiêu hồn, … để soi sáng những nhận định văn học sử và lý luận văn học có liên quan. Cống hiến quan trọng của Nguyễn Du là tác phẩm Truyện Kiều, một tác phẩm đủ sức làm rõ nét một phong cách nghệ thuật đã được định hình và đem đến cho nền văn học dân tộc một cá tính sáng tạo độc đáo, một tiếng nói riêng không ai thay thế được. Bài học tác gia văn học nói chung và Nguyễn Du nói riêng tạo nên một cái nhìn tổng thể về tiến trình văn học và tránh được sự khô khan, phiến diện vì nó kết hợp được cái chung và cái riêng, tri thức khái quát và tri thức cụ thể, con người và tác phẩm, nhân cách và tài năng, lý luận văn học và thực tiễn sáng tác. Vì vậy, bài học về tác giả Nguyễn Du có khả năng tạo nên sự sinh động về tri thức và giáo dục. So với chương trình PTCS văn học Việt Nam được học ở PTTH ít hơn nhưng vẫn đòi hỏi giáo viên cung cấp kiến thức cơ bản, hệ thống cho học sinh. Để khắc phục những khó khăn trên, không thể tăng thêm bài khái quát văn học sử mà cần khai thác triệt để của các bài học về tác giả văn học đồng thời quan tâm thích đáng đến những tác phẩm dạng trích và đọc thêm của những nhà văn, nhà thơ cùng thời với Nguyễn Du. 3.2 Tổ chức thực hiện 3.2.1 Cách thức tổ chức Do đặc điểm bài học tương đối dài nên giáo viên nhanh chóng ổn định lớp và kiểm tra bài cũ trong vòng 5 phút, còn lại 40 phút cho giảng dạy bài mới với kế hoạch thời gian như sau: 22-15-3: 22 phút: học sinh làm việc độc lập với SGK theo phương pháp tự nghiên cứu; 15 phút sau: giáo viên kiểm tra quá trình tự học của học sinh theo phương pháp vấn đáp; 3 phút còn lại: giáo viên củng cố bài học. Giáo viên yêu cầu học sinh đọc, tóm tắt nội dung chính của bài học trong sách giáo khoa. Gợi ý cách đọc và trình tự bài học như sau: - Đây là bài trình bày những nét lớn về thân thế và sự nghiệp văn chương của một tác giả lớn, vì thế khi đọc cần chú ý các yếu tố về gia đình, quê 9 hương, nền giáo dục, tác động của thời đại, sự từng trải, vốn văn hóa, thế giới quan, nhân sinh quan, … ảnh hưởng đến sáng tác của tác giả. - Khi đọc phần Sự nghiệp văn học, cần nhớ tên những sáng tác tiêu biểu, khắc sâu những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du, chú ý các luận điểm, luận cứ của tác giả bài viết. Sau khi hướng dẫn xong, giáo viên cho học sinh làm việc độc lập dưới sự giám sát trực tiếp của mình. Sau khi học sinh tự nghiên cứu và tóm tắt những nội dung chính vào vở, giáo viên tiến hành kiểm tra dưới hình thức vấn đáp (đàm thoại) Tương ứng với mỗi phần, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi để kiểm tra và kích thích học sinh trả lời nhằm biết được mức độ lĩnh hội nội dung và qua đó có biện pháp mở rộng hoặc đào sâu những kiến thức hoặc sửa chữa những điều mà học sinh chưa hiểu đúng. 3.2.2. Đề xuất hướng triển khai bài giảng TRUYỆN KIỀU – tiết 80: Phần một tác giả NGUYỄN DU - Ổn định lớp - Kiểm tra bài cũ - Dạy bài mới: Hoạt động của Giáo viên Yêu cầu cần đạt và Học sinh Giáo viên yêu cầu học sinh đọc, tóm tắt nội dung chính của bài học I. CUỘC ĐỜI trong sách giáo khoa. Nguyễn Du (1765- 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Giáo viên gợi ý cách đọc và 1. Quê hương và gia đình: trình tự bài học - Quê cha Hà Tĩnh, núi Hồng, sông Lam anh kiệt, khổ nghèo. - GV: Hãy lý giải sự hình - Quê mẹ Kinh bắc hào hoa, cái nôi của thành thiên tài văn học dân ca Quan họ. Nguyễn Du từ sự tác động - Nơi sinh ra và lớn lên: kinh thành của ba yếu tố: quê hương, Thăng Long nghìn năm văn hiến lộng gia đình; thời đại – xã hội; lẫy hào hoa. cuộc đời riêng ? - Quê vợ đồng lúa Thái Bình lam lũ. - Gia đình quan lại có danh vọng lớn, - GV phát vấn : học vấn cao nổi tiếng: “ Bao giờ Ngàn Hồng hết cây 10 - Nét chính về Nguyễn Du? - Ông xuất thân trong một gia đình như thế nào? ? Con người Nguyễn Du chịu ảnh hưởng từ những vùng văn hoá nào +Quê cha, quê mẹ có ảnh hưởng gì đến con người ông? + Nơi sinh ra và lớn lên? + Ảnh hưởng từ gia đình quan lại quý tộc? + Tư tưởng, tình cảm của ông đối với con người, xã hội như thế nào? ? Những biến động xã hội đưa cuộc đời Nguyễn Du về đâu. Giáo viên: 1802 Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn để lập triều Nguyễn - HS : đọc kĩ SGK, nắm vững lượng thông tin đã được cung cấp để hiểu rõ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, các yếu tố thuộc gia đình, đời sống riêng đối với sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du? - HS lần lượt trả lời Sông Rum (Lam) hết nước, họ này hết quan”. Nguyễn Du có điều kiện tiếp nhận truyền thống văn hóa quý báu của gia đình và nhiều vùng quê khác nhau. Đó là tiền đề cho sự phát triển tài năng của thơ ông sau này. - Dòng họ Nguyễn Tiên Điền của Nguyễn Du ở Hà Tĩnh nổi tiếng là dòng họ “tấu thư” (đội sách), học hành giỏi giang, đời đời đỗ đạt, làm quan và có truyền thống trước tác. - Vợ Nguyễn Du là con gái Đoàn Nguyễn Thục – Đốc trấn Nghệ An. Dòng họ Đoàn Nguyễn ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình) cũng là dòng họ có truyền thống học giỏi, đỗ đạt, làm quan. 2. Thời đại, xã hội .- Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, xã hội phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, loạn lạc bốn phương: khởi nghĩa nông dân, kiêu binh làm loạn, Tây Sơn thay đổi sơn hà, diệt Nguyễn, Trịnh, diệt Xiêm, đuổi Thanh huy hoàng một thuở. - Trên đà khủng hoảng không gì cứu vãn của chế độ phong kiến Việt Nam ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, gia đình Nguyễn Du cũng tan tác mỗi người một phương. Đặc biệt từ năm 1789 đến 1802, hơn 10 năm trốn tránh Tây Sơn, Nguyễn Du rơi vào cuộc sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn, cực khổ: Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu! Quãng đời “thập tải phong trần” này rất có ý nghĩa trong việc đào luyện nhà thơ Nguyễn Du, nhà thơ của nhân dân 3. Cuộc đời nhà thơ - Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du 11 GV bình: Điều đáng quý ở Nguyễn Du là tấm lòng nhân đạo cao cả trong mỗi trang sách gửi lại hậu thế. Điều đáng khâm phục ở ông là từ một quý tộc thất thế đã vươn lên thành một nhà văn thiên tài. được sống trong không khí một gia đình phong kiến quý tộc bậc nhất ở Kinh đô Thăng Long. Đây là quãng thời gian có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để cậu ấm Nguyễn Du dùi mài kinh sử, tích lũy vốn văn hóa, văn học, làm nền tảng cho sáng tác văn chương sau này. Đồng thời, đó cũng là dịp để Nguyễn Du hiểu rõ bản chất hàng quan lại đương thời cùng với cuộc sống phong lưu của giới quý tộc phong kiến. Tất cả những điều đó đã để lại dấu ấn đậm nét trong các sáng tác của Nguyễn Du. - Mười năm gió bụi lang thang ở quê vợ, rồi quê hương trong nghèo túng. - Từng mưu đồ chống Tây Sơn thất bại, bị bắt rồi được tha, về ẩn dật ở quê nội. Quãng đời mười tám năm ra làm quan cho nhà Nguyễn cũng ảnh hưởng lớn đến sáng tác của ông. Làm quan lần lượt qua nhiều địa phương, từ Hưng Yên đến Thường Tín, Hà Tây, vào Quảng Bình, Huế, ... ông có dịp hiểu rõ hơn cuộc sống của nhân dân trên nhiều địa bàn rộng lớn. Làm Chánh sứ đi sang Trung quốc, ông có dịp nâng cao tầm khái quát của những tư tưởng xã hội và thân phận con người trong các sáng tác văn học của mình. Ông mất ngày 10 tháng 8 năm canh thìn (18-09-1820). Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới và tổ chức kỷ niệm 200 năm ngày sinh của nhà thơ(17651965) Mở rộng: Nguyễn Du có 3 vợ, sinh được 12 con trai, 6 con gái. Tương truyền trước khi mất, Nguyễn Du yêu cầu người nhà 12 GV: phát vấn: - Thành tựu nổi bật về chữ Hán của Nguyễn Du? - Nội dung cơ bản của các tập thơ, đặc biệt là “ Bắc hành tạp lục”? - Lấy một dẫn chứng minh họa cho sáng tác bằng chữ Hán của Nguyễn Du? HS: lần lượt trả lời nhanh GV: nhận xét và chốt ý xem chân tay mình đã lạnh cả chưa, khi người nhà trả lời đã lạnh cả rồi, ông chỉ nói “được” rồi mất, không trối lại một điều gì. Kết luận: Nguyễn Du đã sống cuộc đời đầy bi kịch của một người tài hoa bất đắc chí, phải nếm trải bao đắng cay thăng trầm, một trái tim nghệ sĩ bẩm sinh và thiên tài, …Tất cả đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp văn học của ông, tạo ra những nét riêng độc đáo trong thơ văn Tố Như. II. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC 1. Các sáng tác chính. a. Sáng tác bằng chữ Hán - Sưu tầm được 249 bài. - Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên): 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng ở quê vợ Thái Bình. - Nam trung tạp ngâm ( Những bài thơ ngâm ở phương Nam): 40 bài, viết lúc làm quan cho nhà Nguyễn ở Huế, Quảng Bình. - Bắc hành tạp lục ( Ghi chép trong chuyến đi sứ): 131 bài, sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc. GV: hiểu biết của em về => Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể Truyện Kiều của Nguyễn hiện tư tưởng, tình cảm, nhân cách của Du? nhà thơ. Đặc biệt là trong Bắc hành tạp HS: nhớ và nhắc lại kiến lục, Nguyễn Du đã: thức đã học ở bậc THCS + Ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng ( Đỗ Phủ, Nhạc Phi) và phê phán những nhân vật phản diện ( Phản chiêu hồn). + Phê phán xã hội phong kiến chà đạp quyền sống của con người. + Cảm thông với những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, người phụ nữ tài hoa bạc mệnh ( Độc Tiểu Thanh kí). 13 - Tác phẩm Văn chiêu hồn ? GV: Có ý kiến cho rằng: thơ văn của Nguyễn Du mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Suy nghĩ của em về ý kiến đó? HS: trả lời GV: nhận xét, đánh giá chung + Nhiều điểm tương đồng với cảm hứng sáng tác Truyện Kiều. b. Sáng tác bằng chữ Nôm * Đoạn trường tân thanh ( Truyện Kiều): - 3254 câu lục bát, chia làm 3 phần: Gặp gỡ và đính ước, gia biến và lưu lạc, đoàn tụ. - Nguồn gốc: Từ cốt truyện của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc “ Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, với tài năng nghệ thuật bậc thầy, nhất là tấm lòng nhân đạo bao la, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một kiệt tác tự sự trữ tình độc nhất vô nhị trong văn học trung đại Việt Nam. - Sáng tạo của Nguyễn Du: + Về nội dung: Từ câu chuyện tình của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã Tạo nên một “ Khúc ca mới đứt ruột” (Đoạn trường tân thanh), nhấn vào nỗi đau bạc mệnh và gửi gắm những xúc cảm về nhân sinh của nhà thơ trước “những điều trông thấy”. + Về nghệ thuật: Lược bỏ các tình tiết về mưu mẹo, về báo oán,...( trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân), bằng thể lục bát truyền thống, với một ngôn ngữ trau chuốt tinh vi, chính xác đến trình độ cổ điển, trong một truyện thơ Nôm, Nguyễn Du thể hiện nội tâm nhân vật một cách tài tình. => Truyện Kiều là kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam, di sản văn học của nhân loại, là một “ tập đại thành” của truyền thống nghệ thuật văn hoá Việt Nam, tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa, vừa là niềm thương cảm sâu sắc, là tấm lòng nghĩ tới ngàn đời, vừa là thái độ nâng niu, trân trọng những giá trị nhân bản cao 14 đẹp của con người. Truyện Kiều đánh dấu sự phát triển rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam. * Văn chiêu hồn ( Văn tế thập loại chúng sinh): - 184 câu, viết bằng thể thơ song thất lục bát, thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của Tố Như hướng về những linh hồn bơ vơ, không nơi nương tựa: quan lại, thương nhân, ăn mày, ca nhi,... đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. 2. Một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Du a. Đặc điểm nội dung - Đề cao xúc cảm ( tình). + Thể hiện tình cảm chân thành, cảm thông sâu sắc của tác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những GV: Nêu những nét đặc sắc con người bé nhỏ, những số phận bất về nghệ thuật? Lấy dẫn hạnh, những người phụ nữ tài hoa bạc chứng minh họa. mệnh ( Thuý Kiều, Đạm Tiên...). HS: trả lời nhanh + Triết lí về thân phận bất hạnh của phụ GV: nhận xé, chốt ý nữ trong xã hội cũ, đề cập đến vấn đề thân phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh. “ Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. + Khái quát bản chất tàn bạo của chế độ phong kiến chà đạp quyền sống của con người. - Đề cao quyền sống của con người, đồng cảm và ca ngợi tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc ( mối tình KimKiều, nhân vật Từ Hải). => Chứng minh: Truyện Kiều. + Bài ca tình yêu tự do và ước mơ công lí. + Tiếng khóc cho số phận con người: khóc cho tình yêu trong trắng, chân thành bị tan vỡ; khoc cho tình cốt nhục bị lìa tan; khóc cho nhân phẩm bị chà 15 - Củng cố: - Học sinh đọc Ghi nhớ SGK. - Dặn dò: - Nắm vững nội dung bài học. - Hoàn thành bài tập vào vở. - Chuẩn bị “Phong cách ngôn ngưc nghệ thuật” theo hướng dẫn SGK. đạp; khóc cho thân xác con người bị đày đoạ. + Bản cáo trạng đanh thép: tố cáo thế lực đen tối trong xã hội phong kiến, phanh phui sức mạnh làm tha hoá con người của đồng tiền. b. Đặc điểm nghệ thuật. - Học vấn uyên bác, thành công trong nhiều thể loại thơ ca: ngữ ngôn, thất ngôn, ca, hành. - Thơ lục bát, song thất lục bát chữ Nôm lên đến tuyệt đỉnh thi ca cổ trung đại. - Tinh hoa ngôn ngữ bình dân và bác học Việt đã kết tụ nơi thiên tài Nguyễn Du - nhà phân tích tâm lí bậc nhất, bậc đại thành của thơ lục bát và song thất lục bát. - Vận dụng thành công các điển cố, điển tích trong văn học Trung Hoa, Việt hoá nhiều ngôn ngữ Hán. => Chứng minh: Truyện Kiều + Nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động. + Nghệ thuật kể chuyện có sự đan cài tự sự và trữ tình. + Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ: trong sáng, trau chuốt, giàu giá trị biểu đạt, biểu cảm. =>Nguyễn Du đã góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân gian, làm giàu cho tiếng Việt. III. TỔNG KẾT Nguyễn Du là một tập đại thành của nền văn học dân tộc với những đóng góp to lớn cả về nội dung và nghệ thuật. Tinh hoa ngôn ngữ bác học và bình dân kết tụ nơi thiên tài Nguyễn Du đã khiến ông trở thành nhà phân tích tâm lí bậc thầy, xứng đáng với danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân 16 văn hóa thế giới. Ghi nhớ (SGK) IV. LUYỆN TẬP Đề bài: Vì sao Nguyễn Du được gọi là Đại thi hào dân tộc, thiên tài dân tộc, được vinh phong danh nhân văn hóa thế giới? 4. Kiểm nghiệm Trước đây, tôi thường dùng phương pháp thuyết trình, thảo luận, đối thoại để giảng dạy bài này. Làm như vậy sẽ khắc phục được không khí nặng nề, buồn tẻ thường có trong các bài văn học sử. Tuy nhiên, chỉ có một số học sinh có năng lực đại diện ra làm cho nhóm khi thảo luận hoặc đứng lại thuyết trình, còn một bộ phận học sinh dựa dẫm, lười tư duy. Số học sinh nắm được nội dung bài học còn hạn chế. Sau khi áp dụng phương pháp tự nghiên cứu tại lớp 10A2 và 10A10 so sánh với lớp 10A4 không sử dụng phương pháp này thì kết quả như sau: Khi sử dụng phương pháp tự nghiên cứu đã nâng cao được ý thức tự học, tích cực của học sinh. Học sinh là trung tâm của bài học, các em làm việc chủ động dưới sự hướng dẫn và giám sát của giáo viên. Sau bài học kiểm tra lại, số học sinh nắm được bài học gần như tối đa. Qua tiết học đã hình thành cho học sinh tác phong tự nghiên cứu, tự học, tự làm việc một cách khoa học. Hứng thú khi tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du. Kết quả đánh giá sau tiết dạy về mức độ hiểu bài như sau: Lớp 10A4 (không sử dụng phương pháp tự nghiên cứu) 10A2 (Sử dụng phương pháp trên tự nghiên cứu) 10A10 (Sử dụng phương pháp trên tự nghiên cứu) Sĩ số Số lượng và tỷ lệ học sinh hiểu bài Số lượng và tỷ lệ học sinh hiểu bài 46 30 65,2 % 16 34.8 % 48 45 93,8 % 03 6.2 % 43 39 90.7 % 04 9.3 % 17 Kết quả đánh giá qua bài kiểm tra 15 phút như sau: TT 1 2 3 Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình SL % SL % SL % 10A4 46 2 4.3 15 32.6 23 50.0 10A2 48 20 41.7 26 54.2 2 4.1 10A10 43 10 23.3 19 44.2 14 32.5 Yếu SL 6 0 0 % 13.1 0.0 0.0 Kém SL 0 0 0 % 0.0 0.0 0.0 III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão, con người dễ dàng tiếp nhận tri thức qua công nghệ thông tin. Nếu người dạy có thể hình thành kĩ năng tự đọc, tự học, tự nghiên cứu cho học sinh thì đó là một thành công vì làm như vậy nghĩa là chúng ta đã trang bị cho học sinh những công cụ, những phương pháp tối ưu nhất để nâng cao tầm hiểu biết cho mình, tạo hành trang vững vàng cho các em bước vào tương lai. Nguyễn Du là một trong những đỉnh cao của nền văn học Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của ông mang nhiều tâm tư sâu sắc, quy tụ được những vấn đề xã hội và dự báo nhiều điều cho mai sau. Việc nghiên cứu về Nguyễn Du không bao giờ kết thúc. Truyện Kiều - tác phẩm bất hủ của ông, "tập đại thành" của văn học Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và từ đó đến nay việc nghiên cứu Nguyễn Du và Truyện Kiều không bao giờ đứt đoạn, nó luôn phát triển cùng ngành văn bản học và ngữ văn học. Hơn nữa Nguyễn Du và Truyện Kiều chiếm vị trí không thể thiếu trong chương trình văn học ở trường phổ thông. Tôi chỉ có một đề xuất nhỏ với nhà trường đó là: hãy dành sự quan tâm hơn nữa đối với môn Ngữ văn trong nhà trường. Không nên quá chú trọng đến các môn tự nhiên mà làm mờ nhạt đi giá trị của môn Ngữ văn đối với học sinh. Trên đây là những suy nghĩ, cảm nhận của tôi sau nhiều trăn trở, băn khoăn khi giảng dạy tác giả Nguyễn Du, nhưng văn chương là giếng 18 không đáy, thiết nghĩ những trình bày của tôi ở đây cũng chỉ là những tìm tòi bước đầu cho nên không tránh khỏi những bất cập, thiếu sót hy vọng nhận được sự bổ sung, góp ý của các đồng nghiệp để bài viết tốt hơn, khả dụng hơn. Xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 10 tháng 05 năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. (kí, ghi rõ họ tên) Lê Thị Luyến TÀI LIỆU TAM KHẢO 19 1. Nguyễn Văn Đường (chủ biên), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 2, NXB Hà Nội, 2006. 2. Phan Trọng Luận (chủ biên), “Phương pháp dạy học văn”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010, Tài liệu tập huấn giáo viên dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Ngữ Văn cấp THPT 4. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1, NXB Giáo dục, 2007. 5. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 1, NXB Giáo dục, 2006. 6. Nguyễn Kim Phong (chủ biên), Kĩ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 10, NXB Giáo dục, 2006. 7. Đỗ Ngọc Thống, 2003, “Chương trình Ngữ văn THPT và việc hình thành năng lực văn học cho học sinh”, Tạp chí giáo dục số 66, trang 26-28 MỤC LỤC Nội dung Trang 20
- Xem thêm -