Giáo trình ngữ văn 10 hk2

  • Số trang: 118 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 77 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Ngữ Văn 10 VẬN NƯỚC (Đỗ Pháp Thuận) Bài tập 1: Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về tác giả và hoàn cảnh ra đời bài thơ. - Thiền sư Pháp Thuận (915- 990) họ Đỗ là một nhà sư thuộc thế hệ thứ mười dòng thiền Nam Phương. Nhà sư “học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, hiểu rõ thế cuộc đương thời”. ông tham gia đắc lực vào triều chính thời tiền Lê được Lê Hoàn rất mực kính trọng và tin cậy phong tới chức Pháp sư. - Theo Thiền uyển tập anh ngữ lục, vua Lê Hoàn hỏi nhà sư: “vận nước ngắn dài thế nào?”, nhà sư đáp lại bằng bài ngũ ngôn tuyệt cú này. Bài thơ làm sau năm 981982, sau khi Lê Hoàn đích thân cầm quân chống giặc ngoại xâm thắng lợi. Đây là bài thơ có tên tác giả sớm nhất của văn học Việt Nam. Bài thơ vốn không có tên, tên Vân nước là do học giả thời nay căn cứ vào hoàn cảnh ra đời của bài thơ mà đặt tên. Bài tập 2: Anh (chị) hãy đọc và phân tích giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật bài thơ. + Vận nước: “vận” ở đây không dùng theo nghĩa “vận mệnh” hay “cảnh ngộ” mà dùng với nghĩa là “cơ may”, tức cơ hội thuận lợi cho hoạt động có kết quả hoặc thành công. + Hai câu đầu chú ý khái niệm “Đằng lạc” có thể hiểu là “dãy mây kết nối”, hình ảnh biểu tượng cho sự bền chắc. Ý nhà sư muốn khẳng định vận nước là bền chắc. Câu 2 cũng nhấn mạnh thêm ý mở nền thái bình thịnh trị cho đất nước. Mượn hình ảnh thiên nhiên để khẳng định vận nước, lời thơ ngắn gọn, ý thơ hàm súc như một câu châm ngôn. Hai câu thơ cũng phản ánh niềm tin của tác giả vào tương lai đất nước. + Hai câu thơ đầu khẳng định vận hội mới của đất nước. Hai câu sau nói về đường lối trị nước cô đọng trong hai chữ “vô vi” tức là không làm gì trái với qui luật tự nhiên. “Vô vi” xây dựng một nền chính trị- đạo đức (theo tư tưởng Nho giáo). Nhà vua lấy cái đức của bản thân để cảm hoá dân khiến dân tin phục thì xã hội tự đạt được trạng thái thịnh trị. Vận nước xoay quanh hai chữ “thái bình”, trị nước cũng hướng tới thái bình. Đó là nguyện vọng của con người thời bấy giờ cũng là truyền thống của dân tộc ta. CÁO BỆNH, BẢO MỌI NGƯỜI (Mãn Giác) Bài tập 1: Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về tác giả và bài thơ. - Thiền sư Mãn Giác (1052- 1096) tên là Lý Trường, người làng An Cách. Thuở nhỏ được hầu Thái tử Kiến Đức (vua Lý Nhân Tông sau này). Khi Kiến Đức lên ngôi, ông được ban hiệu Hoài Tín, được mời vào chùa Giáo Nguyên trong cung. Mãn Giác là tên thuỵ do vua ban tặng sau khi ông mất. - Cáo tật thị chúng là bài kệ. Kệ là thể văn Phật giáo dùng để truyền bá giáo lí Phật pháp. Nhiều bài kệ có giá trị văn chương như các bài thơ. Bài kệ của Thiền Sư Mãn Giác không có nhan đề. Nhan đề do người đời sau đặt. Bài tập 2: Anh (chị) hãy đọc và phân tích giá trị bài thơ. + Trước hết là nội dung truyền bá phật pháp: Mãn Giác Thiền Sư là một bậc cao tăng. Bài kệ khởi nguyên từ một cảm hứng tôn giáo. Cảm hứng “đạo” ở bài thơ mang tính thời sự và thời đại. Các hình ảnh thơ mang tính cách điệu, biểu tượng. “Hoa rụng” , “hoa cười”, “xuân tới”, “xuân qua” không mang nghĩa tả thực. Nó nói lên một qui luật “vô thuỷ vô chung” của nhà Phật. Con Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 người là một hiện tượng sinh học hoàn toàn “vô ngã”, để tự giải thoát chỉ có cách tu hành giác ngộ cái lẽ “hoá sinh” đạt đến “chân như” thoát vòng sinh tử do vậy mà vĩnh viễn nở hoa. Hình ảnh “nhất chi mai” không mang nghĩa tả thực mà là một hình tượng chỉ sự bất tử vĩnh hằng các bậc tu hành vượt vòng sinh tử đạt được. + Ngoài ý nghĩa Phật pháp, bài kệ còn có giá trị văn chương; - Bốn câu đầu nói lên qui luật vận động biến đổi của tự nhiên cũng như con người. Tác giả đã nhìn sự vận động theo qui luật sinh trưởng, phát triển đồng thời nhà thơ cũng thấy hoa tàn, hoa nở theo một qui luật tuần hoàn của sự sống. Con người cũng theo qui luật sinh- lão- bệnh- tử. - Từ cái nhìn đó ta thấy một sự tiếc nuối: con người chưa làm được gì mà tuổi già đã đến. đó là ý thức về sự hiện hữu, sự tồn tại có thực của đời người. Con người không thể sống vô nghĩa, đó là một quan niệm nhân sinh cao đẹp. - Hai câu cuối vừa thể hiện triết lí Phật giáo của thiền sư đắc đạo trở về với bản thể vĩnh hằng không sinh không diệt như nhành mai tươi bất chấp xuân tàn đồng thời vừa thể hiện cái nhìn lạc quan: hoa mai tượng trưng cho vẻ đẹp sự sống vượt lên hoàn cảnh, vượt lên sự phàm tục. Nó là biểu tượng cho sức sống bất diệt. HỨNG TRỞ VỀ (Nguyễn Trung Ngạn) Bài tập 1: Trình bày những hiểu biết của anh (chị) về tác giả và bài thơ. - Nguyễn Trung Ngạn (1289- 1370) tự là Bang Trực, hiệu là Giới Hiên, người làng Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi (nay là Ân Thi, Hưng Yên). Ông nổi tiếng thần đồng, 12 tuổi đỗ Thái học sinh, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp. Cuối năm 1314, ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Ông làm quan tới 4 triều vua Trần và làm tới chức Thượng thư. Năm 1341, vua Trần Dụ Tông cử ông cùng Trương Hán Siêu soạn bộ Hoàng triều đại điển và bộ Hình thư. Ông để lại tập thơ Giới Hiên thi tập. - Hứng trở về là bài thơ được Nguyễn Trung Ngạn sáng tác khi đi sứ ở Giang Nam Trung Quốc. Bài thơ trích từ tập Giới Hiên thi tập. Bài tập 2: Anh (chị) hãy đọc và phân tích giá trị bài thơ. + Hai câu đầu: Các hình ảnh “dâu già lá rụng”, “tằm vừa chín’’ “lúa sớm bông thơm”, “cua đang béo” là các hình ảnh dân dã quen thuộc của quê huơng thể hiện sự gắn bó với cuộc sống quê nhà một cách chân thực xúc động, tự nhiên. Hai câu thơ kín đáo thể hiện lòng yêu nuớc qua nỗi nhớ quê. Cái hương vị đồng quê đậm đà trong nỗi nhớ và khát vọng trở về quê huơng của con nguời xa quê ngàn dặm nơi đất khách quê nguời. + Hai câu cuối : Kết cấu 2 câu thơ “Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt/ Dầu vui đất khách chẳng bằng về’’ nêu lên một sự lựa chọn, một chân lí: không ở đâu bằng quê huơng mình. Là một vị quan, Nguyễn Trung Ngạn tận tuỵ với trách nhiệm đuợc giao. Nhưng con nguời đich thực trong ông vẫn khát khao mong trở về quê nhà. Cuộc sống phồn hoa nơi Giang Nam càng làm sâu sắc thêm nỗi nhớ thuơng quê nhà nghèo khó. + Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: Các hình ảnh bình dị mộc mạc khác cái trang nhã mĩ lệ của thơ trung đại vừa cho ta cảm nhận tình quê sâu đậm của ngưoi làm thơ vừa thể hiện xu huớng bình dị hoá, dân tộc hoá trong thơ trung đại. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Lí bạch) Bài tập 1: Trình bày những nét cơ bản về Lí Bạch. Lý Bạch (701 - 762) Lý Bạch là một trong hai nhà thơ lớn nhất đời Đường. Ông là người có tài, luôn ôm ấp hoài bão lớn nhưng không được trọng dụng. Lý Bạch đi nhiều, giao du rộng rãi tính tình hào phóng, có nhiều mâu thuẫn phức tạp trong tư tưởng. Song vượt lên tất cả, thơ Lý Bạch thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước, yêu cuộc sống mãnh liệt. Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn. Thơ ông được mệnh danh là “thi tiên". Thơ Lý Bạch có nhiều sáng tạo mới mẻ, táo bạo đặc biệt là những hình ảnh kì vĩ, những tứ thơ bất ngờ. Bài tập 2: Mạnh Hạo Nhiên là ai? Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào? - Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) thế hệ nhà thơ đàn anh được Lý Bạch hâm mộ. Hai người kết bạn vong niên, tài thơ và nhân cách của Mạnh Hạo Nhiên được Lý Bạch hâm mộ. Hai người tìm thấy ở nhau nhiều tiếng nói tương đồng, tri âm. - Chia tay Mạnh Hạo Nhiên với bao lưu luyến cùng nỗi lòng nôn nao thầm kín, Lý Bạch đã viết nên bài thơ được coi là hay nhất về đề tài tống biệt trong số rất nhiều bài của ông. Bài tập 3: Nhận xét về nhan đề bài thơ? Nhan đề bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. + Cảm giác thừa vì nhan đề quá dài song đó là dụng ý của nhà thơ, nói rõ điểm tiễn đưa (Hoàng Hạc Lâu), điểm bạn đến (Quảng Lăng), người ra đi (Mạnh Hạo Nhiên) và hành động của mình (Tống Mạnh Hạo Nhiên). Nếu rút ngắn e rằng không khắc sâu được tất cả những điều đó. Bài tập 4: Nhận xét gì về thời gian, không gian và cảnh đưa tiễn? 2 câu đầu có phải chỉ là 2 câu tự sự thuần tuý không? Hoàn cảnh đưa tiễn: + Không gian: Chia tay tại Lầu Hoàng Hạc, một tiên cảnh nơi chỉ có mây trời và thiên nhiên phóng khoáng không gian thanh cao hợp với cả hai: Tiên thơ họ Lý và ẩn cư họ Mạnh. Chọn điểm cao để chia tay, tầm nhìn được mở rộng, người tiễn sẽ nhìn thấy người đi xa hơn, lâu hơn. Một lầu cao, một bến sông, Mạnh Hạo Nhiên ngoái về phía Tây nơi Lý Bạch đang dõi theo bạn về Đông. Hai người giữa một không gian rợn ngợp khiến mối sầu chia li lan toả đến mênh mông. + Điểm đến của mạnh Hạo Nhiên: Dương Châu + Thời gian: Tháng ba (mùa xuân) - hoa khói. Dương Châu là nơi đo thị phồn hoa. Hai chữ “yêu hoa" bao hàm nhiều nghĩa. Lý Bạch như muốn gửi gắm điều gì nhưng khó nói khiến lời thơ man mác, xa xôi, nôn nao rất lạ. Bản dịch đã đánh mất sắc thái hoài niệm trang trọng của hai chữ: “cố nhân". Mạnh Hạo Nhiên không chỉ là người “bạn" thông thường của Lý Bạch. Hai người đã có chiều dài của thời gian, bề dày của kỷ niệm và độ sâu của tình cảm. Vì vậy, 2 chữ “cố nhân" gợi sức nặng bội phần của tình cảm tống biệt. Hai câu đầu dường như thuần tuý tự sự song hàm chứa trong lời tự sự là nỗi niềm tâm sự thầm kín, là tình cảm sâu nặng là tâm trạng lưu luyến trong buổi tống biệt. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 Bài tập 5: Chỉ ra những chỗ chưa thoát ý của bản dịch thơ của 2 câu sau và nhận xét các từ ngữ: "cô phàm", 'bích không tận", "duy", "thiên tế lưu". Hai câu sau cảnh và tình hoà làm một. Bản dịch đã bỏ mất những chữ quan trọng: "cô" (cô phàm), "bích không tận", "duy", "tế"... + "Cô phàm": bóng cánh buồm cô độc lẻ loi. Đây là "tâm cảnh". Trường nhìn, vùng nhìn của kẻ tiễn đưa bị hút vào một điểm duy nhất bộc lộ cái nhìn đầy tâm trạng: nhớ thương đau đáu, vời vợi, da diết. + "Bích không tận": bầu trời xanh biếc đến không cùng: "cô phàm" đối với "bích không tận" là sự đối lập giữa cái lẻ loi, bé nhỏ, đơn chiếc với cái mênh mông, bao la, rợn ngợp để rồi "cô phàm" chỉ còn là "viễn ảnh" giữa “bích không tận". Tất cả nhoà đi trong con mắt thương nhớ dâng đầy. + "Duy kiến": chỉ nhìn thấy. + "Thiên tế lưu": dòng sông bay ngang trời. "Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu": chỉ nhìn thấy dòng Trường Giang chảy ngang trời. Chữ "duy" kết hợp với chữ "cô" ở câu trên thật đắt. Bạn cũ đi rồi, cánh buồm bị hút vào hư không, dòng Trường Giang in hình trong đôi mắt chứa đầy tâm trạng. Hình ảnh dòng sông chảy ngang trời vừa mang đậm hồn thơ lãng mạn kì vĩ của bậc "thi tiên" vừa diễn tả cảm xúc trào dâng đối với "cố nhân" đồng thời vừa khắc hoạ cái nôn nao khó tả của người ở lại - một con người ôm những hoài bão lớn mà không có cơ hội thực hiện. Hình ảnh kết thúc thật bất ngờ, khép lại bài thơ mà mở ra cả một thế giới cảm xúc, tâm trạng. Đúng là "thi tại ngôn ngoại". Bài tập 6: Anh (chị) hãy nêu nội dung và nghệ thuật bài thơ. 1. Nghệ thuật: Bài thơ hoà quyện giữa tình và cảnh, tự sự và trữ tình, lời thơ cô đọng, hàm súc, hình ảnh thơ kì vĩ mang đậm hồn thơ Lý Bạch. 2. Nội dung: Bài thơ nói lên tình bạn thắm thiết cùng tâm trạng lưu luyến khôn xiết của Lý Bạch trong cảnh chia tay. THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẢN DỤ VÀ HOÁN DỤ Bài tập 1: (SGK) a) Ở ví dụ (1): Thuyền - biển là hai hình ảnh luôn gắn bó với nhau. "Thuyền" gợi sự di chuyển, vận động, được dùng để chỉ hình ảnh con trai. "Biển" gợi sự cố định, phù hợp để chỉ hình ảnh người con gái với phẩm chất thuỷ chung. Ở ví dụ 2: "Cây đa bến cũ" cũng là những hình ảnh gợi sự cố định, khó thay đổi. Còn "con đò" gợi sự vận động - di chuyển. Vì vậy, các hình ảnh "cây đa bến cũ" và "con đò" cũng chỉ hình ảnh những người có quan hệ, có tình cảm gắn bó nhưng phải xa nhau do hoàn cảnh khách quan. b) Để hiểu được đúng nội dung hàm ẩn của hai câu ca dao trên, cần phải so sánh ngầm để tìm ra những điểm tương đồng giữa con người với các sự vật. Bài tập 2: (SGK) 1. Hai câu thơ của Nguyễn Du xuất hiện hai hình ảnh ẩn dụ: - Quyên (chim cuốc) là ẩn dụ, vì được dùng như từ chỉ người. Tác dụng: miêu tả tiếng chim quyên gọi hè thêm sinh động và có hồn. - Lửa lựu : từ “lửa” là ẩn dụ vì dùng để chỉ bông hoa đỏ. Tác dụng: miêu tả bông hoa lựu mùa hè thêm ấn tượng về màu sắc. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 2. Ẩn dụ trong đoạn trích: - Thứ văn nghệ ngòn ngọt, bay ra từ sự phè phỡn, thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vào tình cảm gày gò của cá nhân "co rúm lại". Chúng ta muốn có những cuốn tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọclàm thành người (từ in đậm của tác giả), đẩy chúng ta lên một sự sống trước kia chỉ nhìn, đứng nhìn xa thấp thoáng. Trong đoạn trích, tác giả đã dùng các ẩn dụ để nói về chức năng văn nghệ một cách mạnh mẽ. 3. "Con chim chiền chiện" và “giọt long lanh rơi” là những ẩn dụ, mỗi sự vật nhỏ bé đều tượng trưng cho cuộc sống đáng yêu. 4. "Thác" là hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng cho những khó khăn, thử thách của cuộc đời và của cách mạng mà con người cần phải đối diện, phải vượt qua. - "Chiếc thuyền" hình ảnh con người và nghị lực của con người. Tác dụng: giúp cho việc thể hiện những khó khăn thêm sống động, mạnh mẽ, thể hiện con người và thái độ vượt khó của con người thêm sinh động. 5. "Phù du" là hình ảnh ẩn dụ, được dùng để diễn đạt những gì trôi nổi, phù phiếm không có giá trị. Đó chính là chặng đường thơ trước cách mạng của Chế Lan Viên. - "Phù sa" hình ảnh nói về những gì có giá trị, làm cho dòng sông - cuộc đời trở nên màu mỡ. Đó là hình ảnh ẩn dụ để diễn đạt chặng đường thơ sau cách mạng của nhà thơ. Tác dụng: giúp cho việc thể hiện chặng đường thơ thêm sinh động. Bài tập 3: (SGK) + Cậu Cún nhà em năm nay đã học lớp 5 rồi. + Mẹ em nói rằng, các con còn phải gặp nhiều chông gai phía trước. + Hôm qua, bố em đi công tác xa về, trong nhà đầy ắp tiếng cười. Bài tập 4: Đọc và trả lời các câu hỏi (SGK). a) Dùng các cụm từ "đầu xanh", "má hồng" nhà thơ Nguyễn Du muốn nói đến những người trẻ tuổi, những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là cách nói nhằm thay thế cho nhân vật Thuý Kiều. - "Áo nâu" - hình ảnh những người nông dân lao động ở nông thôn, "áo xanh" là hình ảnh những người công nhân ở thành thị. b) Để hiểu được đúng đối tượng khi nhà thơ đã thay đổi tên gọi của đối tượng đó, cần phải dựa vào quan hệ gần nhau (tương cận) giữa hai sự vật hiện tượng. Quan hệ gần nhau trong hai trường hợp trên là: - Quan hệ giữa bộ phận với tổng thể, như đầu xanh, má hồng với cơ thể. - Quan hệ giữa bên ngoài với bên trong, như áo nâu, áo xanh với người mặc áo... Bài tập 5: (SGK) Hai câu thơ có cả hai phép tu từ: ẩn dụ và hoán dụ. - Hoán dụ là “thôn Đoài”, “thôn Đông” (Dùng thôn để nói người trong thôn: quan hệ giữa vật chứa và cái được chứa). - Ẩn dụ là "cau" và "trầu không" dùng để nói đôi trai gái (Vì cau trầu dùng vào việc cưới hỏi, nên trong ngữ cảnh, chúng có mối tương đồng với đôi trai gái). - Cùng nói về nỗi nhớ người yêu, nhưng câu thơ trên khác với câu ca dao “Thuyền ơi, có nhớ bến chăng...” ở chỗ: câu thơ Nguyễn Bính vừa có ẩn dụ, vừa có hoán dụ. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 Đồng thời, ẩn dụ trong câu thơ Nguyễn Bính kín đáo và “lấp lửng” hơn, phù hợp với việc diễn tả tình yêu chưa rõ rệt. Bài tập 6: (SGK) Nhà em nuôi một con mèo loang. Bố em gọi nó là Lang với ý chê nó là loang. Lang rất lười bắt chuột suốt ngày nằm lì trong ổ rơm. Một hôm, mẹ em đem về một con chuột đồng, gọi “meo, meo” và giơ lên cho nó nhìn thấy. Cậu chàng đang lim dim ngủ, thế mà sáng mắt, lập tức vọt ra khỏi ổ, nhảy phốc lên, hay chân trước vồ lấy con chuột từ tay mẹ em, động tác thật chính xác, rồi gã gầm gừ chạy ra tận góc vườn như sợ có kẻ nào ăn tranh. Con chuột nhỏ chỉ kịp kêu “chí, chí” vài tiếng là đã nằm gọn trong bụng mướp rồi. Ăn xong, gã khoái chí lắm, chạy lại gần mẹ em, mắt xanh lét nhìn lên tay chủ, miệng kêu “meo, meo” như muốn hỏi xem có còn chuột nào nữa không? Từ đó trở đi, em thấy Lang không mấy khi nằm trong ổ rơm nữa. CẢM XÚC MÙA THU (Thu hứng) Đỗ Phủ Bài tập 1: Đọc phần Tiểu dẫn, trình bày những hiểu biết của mình về nhà thơ Đỗ Phủ và bài thơ Thu hứng. + Đỗ Phủ (712- 770) là nhà thơ hiện thực lớn nhất trong đời nhà Đường và thời cổ Trung Quốc. Cuộc đời Đỗ Phủ là cả một chuỗi dài những biến cố thăng trầm của thời buổi tao loạn đời Đường (Mười năm khốn khổ ở Trường An, 1 năm bị bắt, 3 lần chạy loạn, 2 lần bị cách chức, 11 năm cuối đời phiêu dạt, chết lênh đênh trên một chiếc thuyền nát ở Hồ Nam). Thơ Đỗ Phủ được mệnh danh là Thi Thánh – Thi sử. + Vị trí và hoàn cảnh sáng tác bài thơ. - Thu hứng là bài mở đầu cho chùm thơ thu gồm 8 bài của Đỗ Phủ. Bài thơ được coi như “cương lĩnh sáng tác" cho 7 bài sau. - Thời gian này, Đỗ Phủ từ quan nhưng không về lại quê nhà được vì Hà Nam là nơi tranh chấp. Lúc ở Thành Đô, lúc lại Quỳ Châu, thương nhớ và lo lắng. Với "Nỗi lòng quê cũ" nhà thơ đã viết chùm Thu hứng (8 bài). Bài tập 2: Đọc và tìm hiểu bố cục bài thơ. + Thể thất ngôn bát cú trong thơ Đường có bố cục gồm 4 phần, mỗi phần 2 câu: đề - thực - luận - kết. + Thu hứng của Đỗ Phủ cũng có bố cục 4 phần. Song bài thơ có thể chia làm 2 phần tương đối rõ: - 4 câu đầu: Miêu tả cảnh thu. - 4 câu cuối: Nỗi lòng nhà thơ. Tuy nhiên, cảnh thu và nỗi lòng nhà thơ đã hoà quyện và xuyên thấm trong nhau: trong cảnh có nỗi lòng, trong nỗi lòng có cảnh. Bài tập 3: Nhận xét về cảnh thu trong 2 câu đầu? + Hai câu đầu: tả chung khung cảnh thu ở Quỳ Châu với các hình ảnh: Sương móc trắng xoá làm tiêu điều, tang thương cả rừng phong. Từ núi Vu đến kẽm Vu, hơi thu hiu hắt, ảm đạm (Bản dịch đã chưa dịch chọn ý hai từ "điêu thương" và "tiêu sâm"). Tác giả miêu tả cảnh thu ở 3 chiều không gian: - Chiều dài, rộng: rừng phong. - Chiều cao: núi Vu. - Chiều sâu: kẽm Vu (bản dịch đã bỏ mất "vu giáp"). Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 Điều đó cho thấy tính chất tiêu điều, hiu hắt, bi thương lan toả khắp không gian, khác với không khí mơ màng của mùa thu thường thấy trong thơ ca truyền thống. Bài tập 4: Cảnh thu trong 2 câu 3 và 4 có gì thay đổi so với 2 câu trên? Biểu hiện qua những chi tiết nào? Hãy phân tích. Hai câu 3-4: Tất cả chuyển động chao đảo dữ dội tạo nên một cảnh tượng vừa hùng vĩ, vừa bi tráng. Một loạt hình ảnh đối lập: Giang (lòng sông) - Tái thượng (cửa ải) Ba (sóng) - Vân (mây) Thiên (trời) - Địa (đất) Sóng dưới lòng sông vọt lên tận ngang trời. Mây trên cửa ải sa sầm xuống mặt đất. Cả vũ trụ chao đảo, vần vũ. Phải chăng đó là cái vần vũ, chao đảo của xã hội tao loạn lúc bấy giờ? Lời thơ vừa giấu đi, vừa như hé mở nỗi lòng đau đớn trước thời thế và tình cảm nhớ thương đến tuyệt vọng của nhà thơ gửi đến quê nhà. Tóm lại: Bốn câu thơ tả 2 nét cảnh thu tiêu điều, ảm đạm và hùng vĩ, bi tráng. Đây là cảnh thu mang dấu ấn Quỳ Châu. Đây còn là cảnh thu trong cảm nhận và nét vẽ của nhà thơ hiện thực. Cảnh thu mang bóng dáng cuộc đời và nỗi lòng con người. Bài tập 5: Bốn câu cuối diễn tả nỗi lòng nhà thơ bằng cách nào? 2 câu 5 và 6 tả sự vật gì? Tác giả đồng nhất hoá những gì? Điều đó có ý nghĩa như thế nào? Nỗi lòng nhà thơ được diễn tả bằng cách kể, tả và liên tưởng. Câu 5 và 6: Tả hoa cúc và dây buộc thuyền. Nhà thơ đồng nhất hoá hiện tại và quá khứ (giọt lệ năm nay - giọt lệ năm trước - giọt lệ cũ). Sự vật và con người (dây buộc thuyền với vườn cũ và dây buộc lòng người với cố hương) tình và cảnh (hoa cúc nở mà tưởng là nước mắt. Dây buộc thuyền liên tưởng tới dây buộc lòng người, mảnh vườn cũ và nỗi lòng thương quê hương). Bằng cách này, nhà thơ đã thể hiện một cách sinh động, sâu lắng và hàm súc tình cảm thương nhớ quê hương da diết. Bài tập 6: Nhận xét về nét độc đáo của 2 câu thơ kết? Giá trị của cách kết thúc đó? Hai câu kết: bất ngờ, độc đáo. Hai câu kết thông thường bộc lộ tình cảm, tâm sự, cảm xúc chủ quan của người viết. Ở đây, Đỗ Phủ đã kết bằng việc tả một cách khách quan cảnh sinh hoạt ở thành Bạch Đế: Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước Thành Bạch chày vang bóng ác tà. Hai chi tiết: - Cảnh nhộn nhịp may áo rét - Tiếng chày đập (giặt) áo cũ. Đây là 2 chi tiết có sức gợi cảm đặc biệt nhất là đối với khách tha hương đang sống trong cảnh lạnh lùng. Việc sửa soạn may (giặt) áo rét gợi cảnh đoàn tụ đầm ấm. Câu kết là tiếng chày đập áo dồn dập làm lung lay cả bóng chiều thu. Tiếng chày như thúc giục khiến nhà thơ đứng ngồi không yên. Câu kết tạo nên một dư âm vang vọng, lan xa, thấm sâu. Bài tập 7: Anh (chị) hãy nêu nội dung và nghệ thuật bài thơ trên. 1. Nghệ thuật: Tính chất đặc biệt hàm súc của thơ Đỗ Phủ. Từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi cảm với nhiều lớp ý nghĩa. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 2. Nội dung: Thu hứng là nỗi lòng của Đỗ Phủ và cũng chính là nỗi lòng của trăm họ đang trong cảnh lầm than li biệt. Bài thơ không trực tiếp phản ánh xã hội mà vẫn có giá trị hiện thực và ý nghĩa nhân văn sâu sắc. THƠ HAI-CƯ (HAIKU) Bài tập 1: Đọc tiểu dẫn và cho biết những đặc điểm của thơ hai-cư. Hai-cư là thể loại thơ ca truyền thống Nhật Bản. 1. Về hình thức: Hai-cư là loại thơ cực ngắn nên cô đọng, hàm súc. Thơ hai-cư bắt nguồn từ thể thơ liên ca gồm 31 âm tiết, mỗi đoạn 2 vế, vế đầu 3 câu, 17 âm tiết, vế sau 2 câu, 14 âm tiết (vế đầu xướng, vế sau hoạ). Liên ca trở thành 1 loại thơ xướng hoạ có thể kéo dài hàng trăm câu. Đến đời Mat-su-ô Ba-sô, liên ca được cách tân, vế đầu 17 âm tiết được xây dựng thành 1 bài thơ Độc lập. Trước đây liên ca thường mang tính giải trí mua vui hoặc dung tục tầm thường. Hai cư thì khác, đậm chất lãng mạn trữ tình thanh thoát. 2. Về nội dung: Thơ hai-cư thường phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên và tâm trạng con người. Người Nhật Bản rất yêu thích thiên nhiên, thích hoà nhập thả hồn mình vào thiên nhiên để tìm vẻ đẹp thuần khiết của nó và giải thoát tâm linh mình. Thơ hai-cư đậm chất sa-bi (Tịch hoặc Thiền). Đó là xu hướng hoà nhập tâm linh, bản ngã vào cái tịch lặng vô biên, trống vắng vô hạn. Tuy đơn sơ tao nhã, trầm lắng, u buồn nhưng không chán chường, bi luỵ hay oán đời. Đó là vẻ đẹp tâm hồn con người mà ta cảm nhận được từ những bài thơ hai-cư. Bài tập 2: Đọc phần giới thiệu về Ba-sô và tóm tắt nhứng nét cơ bản về nhà thơ này. Mat- su-ô Ba- sô (1644 - 1694). Mat-su-ô Ba-sô là một nhà thơ nổi tiếng của Nhật Bản, ông xuất thân trong một gia đình võ sĩ đạo, lấy việc luyện tập võ nghệ, cung kiếm và tu luyện thiền để trở thành người có sức mạnh thể chất và trí tuệ, giải thoát tâm linh. Bản thân Ba-sô cũng theo Thiền tông nên thơ của ông đượm chất thiền. Ông thích thơ văn, hội hoạ từ bé, có vốn hiểu biết rộng về văn học Nhật và Trung Quốc. Ba-sô sống cuộc đời lận đận, lên 9 tuổi đã phải đi ở cho một gia đình lãnh chúa, hầu hạ Yô-si-ta-đa (con trai lãnh chúa). Lớn lên, 2 người kết thân với nhau vì cùng yêu thích văn chương. Yô-si-ta-đa mất sớm, Ba-sô buồn chán bỏ đi lang thang. Trong nhật kí, bút kí thơ ca của mình Ba-sô viết nhiều về những cuộc hành trình đó. “Ba tiêu thất bộ tập" là 7 bộ tác phẩm của Ba-sô để lại cho đời. Bài tập 3: Tình cảm thân thiết của nhà thơ với thành phố Ê-đô và nỗi niềm hoài cảm về kinh đô Ki-ô-tô đẹp đẽ đầy kỉ niệm được thể hiện qua các bài 1 và 2 như thế nào? Bài thứ nhất thể hiện tình cảm thân thiết, gắn bó với mảnh đất nơi mình ở. Quê Ba-sô ở Mi-ê, ông lên Ê-đô mười năm mới về thăm lại, nhưng đi rồi lại thấy nhớ Êđô bởi Ê-đô giờ đây đã gắn bó thân thiết như quê hương mình. Mối quan hệ giữa “đất khách” và “cố hương” tự trong sâu thẳm đã ngầm nói lên điều đó. Bài thứ 2 nhắc đến tên một loài chim đã rất quen thuộc trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, chim đỗ quyên. Ở đây, tiếng chim không phải gợi tiếng lòng vong quốc mà gợi nỗi thương tiếc thời gian, nỗi buồn và sự vô thường (vẫn biết vô thường sao còn phiền não?). Ba-sô trở về kinh đô sau 20 năm xa cách, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà nhớ kinh đô năm nào, một kinh đô đầy ắp những kỉ niệm. Chủ thể của bài thơ bị xoá mờ? bị đồng nhất? bị phân thân? Tiếng chim đỗ quyên hay Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 tiếng người? Dư âm vang vọng thời gian để tạo nên tiếng đồng vọng trong lòng người chính là ở sự mơ hồ, hư ảo ấy. Bài tập 4: Tình cảm của tác giả đối với mẹ, với một em bé bị bỏ rơi thể hiện trong các bài 3, 4 như thế nào? Hình ảnh trong các bài đó mơ hồ, mờ ảo ra sao? Bài thơ thứ ba có ba hình ảnh: giọt lệ, tóc mẹ, sương thu. Giọt lệ nóng hổi những xót xa của người con rơi trên mớ tóc bạc, di vật còn lại của mẹ. Làn sương thu là giọt lệ như sương? Là tóc mẹ trắng màu sương? Hay cuộc đời ngắn ngủi, vô thường? Bài thứ tư là sự liên tưởng giữa tiếng vượn hú và tiếng khóc của trẻ bị bỏ rơi trong rừng. Gió mùa thu tái tê mang theo nỗi đau buồn của con người về kiếp người, về nỗi đời, một nỗi đau rất đỗi nhân văn. Bài tập 5: Qua bài 5, anh (chị) cảm nhận được vẻ đẹp gì trong tâm hồn nhà thơ? Hình ảnh chú khỉ đơn độc gợi lên hình ảnh những người nông dân, những em bé nghèo đang co ro trong mưa lạnh. Bài thơ thể hiện lòng từ bi đối với những sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp, cũng là đối với những con người nghèo khổ. Bài tập 6: Mối tương giao giữa các sự vật hiện tượng trong vũ trụ thể hiện như thế nào trong các bài 6, 7? Hình tượng thơ đẹp, thú vị ở chỗ nào? Thiên nhiên vốn là đề tài nổi bật của thơ hai-cư. Bài 6 miêu tả cảnh mùa xuân, một cảnh tượng mang vẻ đẹp giản dị thể hiện triết lí sâu sắc về sự tương giao giữa các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ. Bài 7 miêu tả cảnh u tịch, vắng lặng của một buổi chiều tà nơi rừng núi. Tiếng ve rền rĩ như thấm vào từng thớ đá. Liên tưởng thật độc đáo, kì lạ. Cảm thức thẩm mĩ trong hai bài thơ là cảm thức ka-ru-mi (nhẹ nhàng). Bài tập 7: Khát vọng được sống, được tiếp tục lãng du của Ba-sô được thể hiện như thế nào trong bài 8? Cuộc đời Ba-sô là cuộc đời lang thang, phiêu bồng, lãng du. Ngay cả khi nhìn mùa thu thấy mình già nhanh thế, cuộc ra đi đang đón đợi thì Ba-sô vẫn muốn được làm cánh chim bay khuất vào chân mây để hồn lang thang chốn vô thường. LẦU HOÀNG HẠC (Thôi Hiệu) Bài tập 1: Nhan đề bài thơ là Lầu Hoàng Hạc nhưng ngoài sự xác định vị trí của lầu toàn bài không nói gì về lầu cả. Vậy dụng ý của tác giả là gì? Nhan đề bài thơ là Lầu Hoàng Hạc nhưng ngoài sự xác định vị trí của lầu ở “nơi đây”, toàn bài không nói gì về lầu cả. Dụng ý của tác giả là mượn cảnh tiên để nghĩ về người tiên, về quá khứ và hư vô, về hiện tại và cuộc đời, về cái hữu hạn và vô hạn, về quê hương và tha hương,… Tất cả gợi buồn, gợi nhớ, gợi niềm man mác, bâng khuâng tới hậu thế. Bài tập 2: Tất cả cảnh đều đẹp, sao lại khiến người buồn? Tất cả cảnh đề đẹp nhưng lại khiến người buồn bởi không chỉ Thôi Hiệu mà người ta ai cũng thế, càng đứng trước cái hoàn mĩ càng bâng khuâng thấy hình như mình còn thiếu rất nhiều. Nỗi buồn của Thôi Hiệu trước cái đẹp cũng giống như cái cúi đầu bái lạy hoa mai của Cao Bá Quát vậy. Nỗi buồn ấy, cái cúi đầu ấy có khả năng thanh lọc tâm hồn con người. Bài tập 3: Có người cho rằng có thể rút gọn bài thơ này thành một câu “Tích nhân khứ… sử (kim) nhân sầu” (người xưa đã đi… khiến người (nay) buồn). Lại có người cho rằng: “Bài thơ 56 chữ thì cả 56 chữ đều là bước chuẩn bị cho một chữ “sầu” đậu xuống, đọng lại trong tâm”. Anh (chị) nhất trí với ý kiến nào? Vì sao? Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 Có người cho rằng có thể rút gọn bài thơ này thành một câu “Tích nhân khứ… sử (kim) nhân sầu” (người xưa đã đi… khiến người (nay) buồn). Lại có người cho rằng: “Bài thơ 56 chữ thì cả 56 chữ đều là bước chuẩn bị cho một chữ “sầu” đậu xuống, đọng lại trong tâm”. Cả hai ý kiến đều đúng. Buồn, sầu là điều hiện hữu có thể cảm nhận được còn lí do thì ẩn kín, mơ hồ, có thể vì người xưa đi, có thể vì người nay tha hương, có thể vũ trụ vô biên mà cuộc đời ngắn ngủi,… và cũng có thể là tất cả. NỖI OÁN CỦA NGƯỜI PHÒNG KHUÊ (Vương Duy) Bài tập 1: Nhận xét về nghệ thuật cấu tứ bài thơ. Bài thơ có nhan đề “Khuê oán” nhưng được mở đầu bằng trạng thái “bất tri sầu” của chính người phòng khuê ấy. Nhà thơ cố ý đi ngược lại chủ ý của bài thơ nhằm tạo thế cho việc biểu hiện một cảnh đột xuất rõ nét và tự nhiên quá trình chuyển biến tâm lí của người thiếu phụ. Chủ đề bài thơ vì thế được bộc lộ sâu sắc hơn. Bài tập 2: Vì sao khi thấy "màu dương liễu" nàng lại hối hận vì đã để chồng đi kiếm tước hầu? Câu thứ 3 đóng vai trò “bản lề” tạo nên sự chuyển biến đột ngột mà hợp lí trong tâm trạng người thiếu phụ. Sự xuất hiện của hình ảnh “dương liễu” đã khiến người chinh phụ dấy lên bao cảm xúc, liên tưởng, hồi ức… và tự đáy lòng thốt lên lời oán trách lắng sâu mà quyết liệt. Bài tập 3: Vì sao chỉ với 28 chữ, bài thơ được coi là tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa? Chỉ với 28 chữ, bài thơ được coi là tiêu biểu cho tinh thần phản đối chiến tranh phi nghĩa. Hối hận vì để chồng đi kiếm tước phong hầu chính là sự phủ định quan niệm công danh phong kiến, lên án chiến tranh phi nghĩa “giãi thây trăm họ làm công một người”. KHE CHIM KÊU (Vương Xương Linh) Bài tập 1: Nhận xét về cảnh đêm xuân và tâm hồn thi sĩ. Cây quế, cành lá sum suê nhưnh hoa rất nhỏ. Nhà thơ cảm nhận được hoa quế rơi. Điều đó cho thấy cảnh đêm xuân vô cùng tĩnh Bài tập 2: Mối quan hệ giữa động và tĩnh, hình và âm được thể hiện như thế nào? Mối quan hệ giữa động và tĩnh, giữa hình và âm, giữa sáng và tối, giữa người và cảnh không phải ở thế đối lập mà bổ sung, không tương phản mà tương hỗ, lấy cái này để nói cái kia theo kiểu “vẽ mây nảy trăng”. Bài tập 3: Dùng một câu ngắn gọn để tóm tắt bài thơ. Có thể tóm tắt bài thơ bằng một câu ngắn gọn: “Đêm xuân vắng, tiếng đêm xao động tâm hồn”. CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH Bài tập 1: Xác định đối tượng và mục đích thuyết minh của 2 văn bản (SGK). + Đối tượng: - Trong văn bản Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân: người viết tập trung thuyết minh về một hiện tượng, một nếp sống văn hoá của dân tộc Việt Nam, cụ thể là hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân - một làng ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Nội. - Trong văn bản Bưởi Phúc Trạch, người viết tập trung thuyết minh về bưởi Phúc Trạch và giá trị của bưởi Phúc Trạch, một loại quả nổi tiếng đã từng được xếp vào hàng "Quả ngon xứ Đông Dương". Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 + Mục đích: - Trong văn bản Hội thi thổi cơm ở làng Đồng Vân, người viết tập trung thuyết minh giúp người đọc hiểu được quy trình của hội thi thổi cơm, cách thức thổi cơm thi, cách đánh giá của Ban giám khảo. Từ đó, văn bản cũng giúp người đọc ý thức được những nét đặc sắc và gìn giữ những nét đẹp cổ truyền trong sinh hoạt văn hoá thời hiện đại. - Văn bản Bưởi Phúc Trạch giúp người đọc hình dung đặc điểm, hương vị của loại bưởi nổi tiếng- bưởi Phúc Trạch, giúp bạn đọc thấy được công dụng của loại bưởi này từ xưa đến nay. Bài tập 2: Tìm các ý chính tạo thành nội dung thuyết minh của từng văn bản. Các ý chính tạo thành nội dung của từng văn bản: + Văn bản "Hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân" được cấu tạo dựa trên các ý chính sau: - Thời gian tổ chức hội thổi cơm thi. - Diễn biến và cách thức tiến hành của các đối tượng tham gia hội thi. - Cách đánh giá về kết quả của các nồi cơm tham gia hội thi. - Ý nghĩa của hội thi. + Văn bản "Bưởi Phúc Trạch" được hình thành từ các ý sau: - Giới thiệu về hình dáng, màu sắc của loại bưởi Phúc Trạch. - Cách thức gọt bưởi và đặc điểm của những múi bưởi Phúc Trạch. - Công dụng, giá trị của bưởi Phúc Trạch. Bài tập 3: Cách sắp xếp ý của từng văn bản và giải thích cơ sở của nó. + Văn bản “Hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân”: - Cách sắp xếp các ý theo trình tự thời gian, từ quá trình bắt đầu cho đến khi kết thúc cuộc thi thổi cơm. - Cơ sở: dựa vào nội dung của văn bản (có nhiều yếu tố tự sự). Cách xắp sếp này giúp người đọc hình dung được toàn bộ diễn biến của quá ttrình thi thổi cơm. + Văn bản "Bưởi Phúc Trạch": - Cách sắp xếp theo trình tự hỗn hợp: trình bày, miêu tả (từ đặc điểm bên ngoài, như hình dáng, vỏ, màu sắc..., đến đặc điểm bên trong, như múi bưởi, hương vị..., rồi tiếp đến công dụng, như tăng thêm sức khoẻ... - Cơ sở: dựa vào nội dung của văn bản (miêu tả). Cách xắp sếp này giúp người đọc hình dung được đầy đủ các đặc điểm, tính chất...của bưởi Phúc Trạch. Bài tập 4: Nêu các hình thức kết cấu chủ yếu của văn bản thuyết minh. Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh bao gồm: - Kết cấu theo trình tự thời gian. - Kết cấu theo trình tự không gian. - Kết cấu theo trình tự lô-gíc. - Kết cấu theo trình tự hỗn hợp... Bài tập 5: Nếu cần thuyết minh bài Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão, anh (chị) định chọn hình thức kết cấu nào? Khi thuyết minh bài "Tỏ lòng" (Phạm Ngũ Lão) nên chọn hình thức kết cấu hỗn hợp. Kiểu kết cấu này phù hợp với tác phẩm, giúp người đọc hiểu được nội dung nghệ thuật, giá trị tư tưởng của nó. Các ý chính:: + Giới thiệu về tác giả. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 + Thuyết minh về thời điểm ra đời bài thơ. + Nội dung của bài thơ: - Câu 1, 2: niềm tự hào về mình và quân đội của mình. - Câu 3, 4: khát vọng lập công trả nợ công danh của tác giả. + Vẻ đẹp của từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu bài thơ. Bài tập 6: Nếu phải thuyết minh một di tích, thắng cảnh thì anh (chị) sẽ giới thiệu những nội dung gì ? Sắp xếp ra sao? - Khi giới thiệu một di tích, một thắng cảnh của đất nước, có thể dựa trên các nội dung sau: + Địa điểm, nguồn gốc lịch sử của di tích. + Miêu tả vẻ đẹp của di tích. + Ý nghĩa, giá trị của di tích. - Có thể sắp xếp theo trình tự như trên, nhưng khi miêu tả vẻ đẹp của di tích, có thể sắp xếp theo trình tự không gian: xa - gần, ngoài - trong,... LẬP DÀN Ý BÀI VĂN THUYẾT MINH Bài tập 1: Nhắc lại bố cục ba phần của một bài làm văn và nhiệm vụ của mỗi phần. Bài làm văn có bố cục 3 phần: + Mở bài: Giới thiệu nội dung bài viết (Thuỷ theo từng thể loại mà xác định nội dung cần giới thiệu). + Thân bài: Lần lượt thực hiện các yêu cầu trọng tâm: kể chuyện, biểu cảm, miêu tả hay nghị luận... + Kết bài: Khái quát vấn đề hay nêu cảm xúc, suy nghĩ trước câu chuyện kể hoặc đối tượng miêu tả. Bài tập 2: Bố cục ba phần có phù hợp với đặc điểm của bài văn thuyết minh không? Vì sao? Bố cục ba phần vẫn phù hợp với bài văn thuyết minh, vì ngoài thân bài (phần nội dung trung tâm của thuyết minh), văn bản thuyết minh vẫn cần có mở và kết. Tuy nhiên, văn bản này cũng có dấu hiệu đặc thù cho mỗi phần. Bài tập 3: Mở bài và kết bài văn bản tự sự giống và khác so với văn thuyết minh thế nào? Mở bài trong văn bản tự sự yêu cầu giới thiệu thời gian, địa điểm xảy ra câu chuyện, giới thiệu nhân vật chính, góc nhìn (người chứng kiến)... Mở bài trong văn thuyết minh giới thiệu đối tượng, mục đích thuyết minh. Như vậy, điểm giống nhau là: cùng có chức năng giới thiệu. Tuy nhiên, cách giới thiệu trong văn thuyết minh linh hoạt hơn, có khi rất ngắn, chỉ gồm 1, 2 câu. + Kết bài trong văn tự sự đôi khi cũng gắn với thân bài, vì sau khi giải quyết vấn đề (mở nút xung đột) là câu chuyện đã kết thúc rồi. Trong bài làm của HS hay trong một số sáng tác còn có phần cuối, dùng để nêu suy nghĩ và cảm xúc, song cách kết thúc như vậy có phần nào gượng ép. Kết bài trong văn thuyết minh đôi khi không nhận thấy được: nó đồng thời là phần cuối của nội dung thuyết minh. Chừng nào người đọc cảm thấy đã thoả mãn, thì chừng ấy, bài văn thuyết minh cũng kết thúc. Như vậy, kết bài trong văn tự sự và văn thuyết minh có những điểm giống nhau: chúng biến hóa năng động và nhiều khi chỉ là phần cuối của nội dung chính. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 Tất nhiên, 2 cách kết bài này cũng có những điểm khác nhau: văn tự sự cần kết thúc bằng hình tượng, để sau khi kết thúc vẫn mở ra những suy nghĩ, tình cảm mới trong lòng độc giả; còn văn thuyết minh cần kết thúc bằng lí lẽ đầy sức thuyết phcụ để sau khi kết bài, người đọc có thể dẫn tới suy nghĩ hay hành động. Bài tập 4: Các trình tự sắp xếp ý (cho phần thân bài) dưới đây (SGK) có phù hợp với văn bản thuyết minh không? Vì sao? Ba loại trình tự đầu ít hoặc không phù nhợp với văn bản thuyết minh. Vì: - Trình tự thời gian phù hợp với văn tự sự hơn. - Trình tự không gian phù hợp với văn miêu tả hơn. - Trình tự nhận thức: phù hợp với văn nghị luận hơn. Riêng trình tự chứng minh- phản bác có thể được vận dụng phù hợp với văn thuyết minh.Vì: trong văn thuyết minh rất cần phải lập luận để thuyết phục người nghe (người đọc). Bài tập 5: Đọc đề bài (SGK) và thực hiện các yêu cầu (SGK) * Yêu cầu 1: Giới thiệu Anh-xtanh. Tham khảo: “Trong số những nhà khoa học vĩ đại đã mang đến cho nhân loại một bức tranh vũ trụ mới và đã có công cải tạo thế giới tự nhiên, An- be Anh-xtanh là một, nếu không nói là nhà sáng tạo về khoa học tự nhiên vĩ đại nhất của nửa đầu thế kỉ XX. ... Những công trình của Anh-xtanh đã đạt tới đỉnh cao nhất của nền vật lí học hiện đại, những công trình mà người ta chỉ có thể diến đạt được trọn vẹn với một công cụ toán học tối tân, đồ sộ... Anh-xtanh không chỉ là nhà khoa học, ông còn là một con người yêu chuộng chân lí và chính nghĩa. Ông đã thấy trách nhiệm của mình trước xã hội và đã đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa đế quốc. Không chỉ có thế, Anh-xtanh còn là hình ảnh của sự trong sáng về tâm hồn, một con người khinh miệt đến cùng cực cái hung bạo, những tham vọng tầm thường. Con người Anh-xtanh là một sự nhất trí hiếm có giữa cái trong sáng về tâm hồn và cái trong sáng về tư duy. Trên đây là những điểm chính mà chúng tôi muốn nhấn mạnh về Anh-xtanh”. (Theo Nguyễn Hoàng Phương- Lời giới thiệu cuốn An-be Anh-xtanh, NXB. Giáo dục. Hà Nội, 1996). * Yêu cầu 2: Giới thiệu một danh nhân đất Việt. Trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng vang danh cả trong nước và ngoài nước tiêu biểu phải kể đến nhà thơ Nguyễn Du-một thiên tài văn học của nước nhà. Ông là một nhà văn, nhà thơ lớn của nền văn học trung đại Việt Nam.Các tác phẩm của ông tập trung vào những người dân nghèo khổ trong thời phong kiến loạn lạc. Mặc dù ông thành công trong sự nghiệp nhưng đường đời của ông lại không mấy bằng phẳng. Nguyễn Du (1765-1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.Tổ tiên tùng ở Thanh Oai sau di cư về Tiên điền. Nguyễn Du sống trong một gia đình thuộc giai cấp quí tộc nên đã may mắn được tiếp nhận truyền thống văn học của gia đình. Nhưng từ 10 đến 13 tuổi ông đã mất cả cha lẫn mẹ, Nguyễn du đến sống với Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 người anh cùng cha khác mẹ. Trong thời gian này, ông có nhiều điều kiện thuận lợi để dùi mài kinh sử, có dịp hiểu biết về thế giớ phong lưu xa hoa của giớ quí tộc phong kiến. Điều đó đã để lại đấu ấn ttrong sáng tác văn học của ông sau này. Sau đó có một số biến cố xảy ra cho đến năm 1783, Nguyễn Du thi đỗ tam trường(tú tài). Trước đây một võ quan họ Hà ở Thái Nguyên không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấp một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên. Năm 1789,Nguyễn Huệ của nhà Tây Sơn kéo quân ra bắc đánh tan quân Thanh, Nguyễn Du chạy theo vua Lê Chiêu thống nhưng không kịp, đành trở về quê vợ sống nhờ nhà người anh vợ . Đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn. Năm 1802,ông nhậm chức chi huyện tại Phù Dung,kể từ đó Nguyện du Luôn được thăng quan tiến chức.Xét về văn học, sự thăng tiến trên đường làm quan của Nguyễn Du khá thành đạt. Nhưng ông không màng để tâm đến công danh. Trái tim ông đau xót, buồn thương, phẫn nộ trước “những điều trông thấy” khi sống lưu lạc, gần gũi với tầng lớp dân đen và ngay cả khi sống giữa quan trường. Ông dốc cả máu xương mình vào văn chương, thi ca. Thơ ông là tiếng nói trong trái tim mình. Đấy là tình cảm sâu sắc của ông đối với một kiếp người lầm lũi cơ hàn, là thái độ bất bình rõ ràng của ông đối với các số phận con người. Xuất thân trong gia đình quý tộc, sống trong không khí văn chương bác học, nhưng ông có cách nói riêng, bình dân, giản dị, dễ hiểu, thấm đượm chất dân ca xứ Nghệ. Nguyễn Du có nhiều tác phẩm. Thơ chữ Hán như Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Cả ba tập này, nay mới góp được 249 bài nhờ công sức sưu tầm của nhiều người. Lời thơ điêu luyện, nhiều bài phản ánh hiện thực bất công trong xã hội, biểu lộ tình thương xót đối với các nạn nhân, phê phán các nhân vật chính diện và phản diện trong lịch sử Trung Quốc, một cách sắc sảo.. Tác phẩm tiêu biểu cho thơ chữ Nôm của thiên tài Nguyễn Du là Đoạn trường tân thanh và Văn tế thập loại chúng sinh, đều viết bằng quốc âm. Đoạn trường tân thanh được gọi phổ biến là Truyện Kiều, là một truyện thơ lục bát. Cả hai tác phẩm đều xuất sắc, tràn trề tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, phản ánh sinh động xã hội bất công, cuộc đời dâu bể. Tác phẩm cũng cho thấy một trình độ nghệ thuật bậc thầy.Truyện Kiều đã là đầu đề cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến. Ngay khi Truyện Kiều được công bố (đầu thế kỷ XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 văn đàn, thi xã đã có trao đổi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Năm 1965 được Hội đồng Hoà bình thế giới chọn làm năm kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du.Nguyễn Du là nhà thơ sống hết mình, tư tưởng, tình cảm, tài năng nghệ thuật của ông xuyên suốt các tác phẩm của ông, xuyên suốt cuộc đời ông và thể hiện rõ nhất qua áng văn chương tuyệt vời là Truyện Kiều. Đọc Truyện Kiều ta thấy xã hội, thấy đồng tiền và thấy một Nguyễn Du hàm ẩn trong từng chữ, từng ý. Một Nguyễn Du thâm thuý, trải đời, một Nguyễn Du chan chứa nhân ái, hiểu mình, hiểu đời, một Nguyễn Du nóng bỏng khát khao cuộc sống bình yên cho dân tộc, cho nhân dân. Bài tập 6: Tìm hiểu dàn ý mang tính gợi ý (SGK) bằng cách trả lời các câu hỏi. a) Mở bài: - Để nêu được đề tài bài viết (như giới thiệu về danh nhân nào, tác giả nào, nhà khoa học nào?...) cần gọi tên đề tài và đưa ra đặc điểm nổi bật của nó. - Để người đọc nhận ra kiểu văn bản (thuyết minh), cần sử dụng các ngôn từ đặc trưng của thuyết minh hoặc nêu trực tiếp mục đích thuyết minh. - Để thu hút sự chú ý của người đọc, cần trình bày trung thực, hấp dẫn. b) Thân bài: - Muốn tìm ý, chọn ý, cần lựa chọn những tri thức, xem xét độ chính xác và tầm quan trọng của mỗi thông tin đối với bạn đọc... - Muốn sắp xếp ý, cần nghiên cứu cấu trúc của bài viết một cách phù hợp, sao cho trật tự trước sau , trật tự lô-gíc...giữa các ý tạo ra vẻ đẹp cân xứng và có ý nghĩa. c) Kết bài: - Muốn trở lại với đề tài thuyết minh, cần khái quát toàn bộ nội dung đã thuyết minh trong phần thân bài, dùng câu văn liên kết để chuyển ý, chuyển đoạn. - Muốn lưu lại những suy nghĩ và cảm xúc lâu bền trong lòng độc giả, cần có những từ ngữ ấn tượng, lịch sự, xã giao... trong kết thúc bài. Bài tập 7: Giới thiệu một tác giả văn học. a) Mở bài: - Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi (1380-1444). - Vị trí của Nguyễn Trãi trong nền văn học. b) Thân bài: - Một vài nét về cuộc đời của Nguyễn Trãi. - Sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi: + Các tác phẩm chính. + Nội dung thơ văn của Nguyễn Trãi. + Giá trị nghệ thuật thơ văn Nguyễn Trãi. c) Kết luận: Khẳng định vị trí về tư tưởng cũng như về văn học của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn hóa văn học Việt Nam. *Bài văn mẫu. Trong suốt 4000 năm chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, sử sách ta đã ghi dấu rất nhiều vị anh hùng dân tộc có cống hiến to lớn cho nền phồn thịnh của nước nhà và một trong những ngôi sao sáng rực rỡ trên bầu trời văn hóa của những người con đất Việt Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 chính là nhà quân sự, chiến lược gia đại tài, đại văn hào Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi không những được người người khâm phục ở tài năng quân sự mà còn vì ông là một con người tận trung ái quốc, yêu mến quê hương đất nước thiết tha.Văn võ song toàn, cống hiến suốt đời và đóng góp to lớn cho sự nghiệp cứu và dựng nước, đáng là bậc anh hùng của nước nhà.Với những chiến lược quân sự tài ba, lời lẽ chau chuốt của một nhà ngoại giao chính trị, lời văn mượt mà tha thiết của một nhà văn hóa, Nguyễn Trãi đáng là một đại văn hào của dân tộc. Tuy nhiên, cũng giống như bao bậc hiền triết nổi tiếng khác của nhân loại,số mệnh của phải chịu những oan khiên thảm khốc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Nguyễn Trãi (1380-1442), hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, sau dời về Nhị Khê. Thân sinh là Nguyễn Ứng Long. Mẹ là Trần Thị Thái, con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình mà cả bên nội cũng như bên ngoại, đều có hai truyền thống lớn là yêu nước và văn hoá, văn học. Thuỡ thời ông cũng phải chịu những mất mát đau thương. Khi ông lên năm tuổi thì mẹ qua đời, 10 tuổi thì mất ông ngoại. Năm 20 tuổi ông đỗ thái học sinh và ra làm quan cùng cha dưới triều nhà lê, làm quan chưa được bao lâu thì đất nước gặp phải cảnh binh đao loạn lạc. Năm 1407, ông bị giặc minh giam lỏng, sau khi thoát khỏi sự giam lỏng của giặc minh, ông tiến vào Lam Sơn theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa. Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, thiên hạ thài bình, ông trở thành một trong những vị Khai Quốc Công Thần đầu tiên giúp vua dựng nước. Thừa lệnh Lê Lợi, ông viết “Đại cáo bình ngô”, nhưng về sau Lê Thái Tổ mất đi lòng tin với ông, nên ông dành cáo ẩn về Côn Sơn. Đến năm 1440, Lê Thái Tông mời ông ra giao việc lớn, nhưng không may oan oán lệnh chi viên bỗng đỗ ập xuống gia đình và dòng họ ông, ông bị ghép tội mưu sát nhà vua, khép tội chu vi tam tộc. Hơn 20 năm, sau Lê Thánh Tông mới giải tỏa nỗi oan này cho ông, sau đó cho người đi sưu tầm lại thơ văn của ông. Nguyễn trãi là một bậc anh hung dân tộc, một nhà văn hoá lớn. Ông là tác giả xuất sắc về nhiều thể loại văn học cả ở lĩnh vực chữ Hán và chữ Nôm. Ông để lại một khối lượng sáng tác lớn với nhiều tác phẩm có giá trị. Đó là “Đại cáo bình Ngô”, “Quân trung từ mệnh tập”, “Lam Sơn thực lục”, “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”,… là nhà văn chính luận kiệt xuất của văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” gồm những thư từ và giấy tờ giao thiệp với giặc Minh và triều đình nhà Lê, được đánh giá là “có sức mạnh bằng 10 vạn quân”. Về lục sử có “Lam Sơn thực lục” là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và “Dư địa chí” viết về địa lý nước ta lúc bấy giờ. Về văn học, Nguyễn Trải có “Ức trai thi tập” , “Quốc Âm thi tập” . “Quốc Âm thi tập” được viết bằng chữ nôm, đánh dấu sự Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 hình thành của nền thơ ca Tiếng Việt. Trong đó đặc biệt nhất là tác phẩm bình ngô đại cáo, là khúc tráng ca ngợi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn. Được viết khi cuộc kháng chiến chống quân Minh giành chiến thắng, theo sự ủy thác của Lê Lợi. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, theo thể cáo thể văn nghị luận được vua chúa dùng để trình bày một chủ trương, sự nghiệp, tuyên ngôn về một sự kiện trọng đại. Đây là loại văn hùng biện, lời lẽ đanh thép, lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ mạch lạc. Có ý nghĩa vô cùng trọng đại với dân tộc ta, được coi là bản tuyên ngôn độc lập. Tác phẩm vừa mang đầy đủ đặc điểm của thể cáo vừa có những sáng tạo riêng về nghệ thuật của Nguyễn Trãi. Ông là người đứng đầu trong sự nghiệp khởi nghĩa dòng thơ Nôm và văn chương chữ Hán. Thơ văn của ông đậm chất tư tưởng nhân nghĩa, triết lí thế sự và tình yêu thiên nhiên, nổi bật trong thơ văn Nguyễn Trãi là tư tưởng mang nội dung yêu nước, thương dân. Thơ Nguyễn Trãi thể hiện những triết lí thế sự sâu sắc mà giản dị, những trải nghiệm đau đớn về cuộc đời. Và trong thơ ca của ông còn tràn đầy tình yêu thiên nhiên, đối với ông thiên nhiên là tri kỹ, là gia đình ruột thịt. Thơ văn ông đạt mốc đỉnh cao chói lọi trong nền văn học dân tộc, có nhiều cống hiến to lớn cho văn học đất nước, cùng với các tác phẩm ông đã xây đắp nền móng văn hóa tư tưởng cho dân tộc. Thơ chữ Hán của ông phong phú, vừa trữ tình, trí tuệ, vừa hào hùng, lãng mạn. Về thơ Nôm, nhiều tập thơ giàu trì tuệ, sâu sắc, thấm dẫm trỉ nghiệm về cuộc đời. Có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật tài đức có đủ trí dũng song toàn trong lịch sự Việt Nam thời phong kiến. Ông được đánh giá là thiên tài văn học, là hồn thơ kết tinh tinh hoa văn hóa, là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. Cũng là người có số phận bi thương trong lịch sử Việt Nam. Ông góp phần viết nên các trang hào hùng trong lịch sử giữ nước và dựng nước, và là người tiên phong cho nền móng vững chãi của văn học nước nhà. Nguyễn Trãi luôn nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, gắn bó thiết tha với cảnh vật thiên nhiên đất nước. Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới vào năm 1980. Bài tập 8: Giới thiệu một tấm gương học tốt. a) Mở bài: Giới thiệu một số nét chính về tấm gương học tốt: tên, nơi học tập... b) Thân bài: - Hoàn cảnh sống. - Những thành tích nỗi bật về học tập. - Phương pháp học của bạn. c) Kết bài: Nêu cảm nghĩ, nhận xét của mình về tấm gương học tốt. Bài tập 9: Giới thiệu một phong trào của trường (lớp) mình. a) Mở bài: Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 - Giới thiệu về lớp, về trường mình. - Giới thiệu về các hoạt động nổi bật của lớp (của trường) mình. (Ví dụ: phong trào học tập, phong trào văn nghệ, phong trào thể dục - thể thao). b) Thân bài: - Nguyên nhân dẫn đến phong trào. - Diễn biến của phong trào + Bắt đầu. + Phát triển . + Kết quả. - Ý nghĩa của phong trào. c) Kết luận: - Khẳng định lại về sự tác động của phong trào trong lớp (trường). - Những bài học rút ra từ phong trào. Bài tập 10: Trình bày các bước của một quá trình học tập (hoặc một quy trình sản xuất). a) Mở bài: Giới thiệu về việc đọc một tác phẩm tự sự. b) Thân bài: + Nêu các bước của việc đọc một tác phẩm tự sự: - Đọc từng phần. - Đọc kết hợp với suy ngẫm. - Chú ý đến sự phát triển của các tuyến nhân vật và mối quan hệ của các nhân vật trong tác phẩm. - Tóm tắt tác phẩm. - Tìm ra nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. + Ý nghĩa của việc đọc một tác phẩm tự sự. c) Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa và cách thực đọc một tác phẩm tự sự. TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ Bài tập 1: Từ thực tế cuộc sống, anh (chị) hãy cho biết tầm quan trọng của việc trình bày một vấn đề. - Trình bày một vấn đề là trình bày trước người khác (thường là tập thể) một cách thuyết phục về những nhận thức, suy nghĩ, nguyện vọng,… của mình về một vấn đề nào đó. - Trình bày một vấn đề là việc làm thường xuyên và quan trọng của mỗi người trong cuộc sống cũng như trong công việc. - Muốn trình bày thành công một vấn đề cần rèn luyện một số thao tác cơ bản. Bài tập 2: Với tình huống trên, anh (chị) chon vấn đề như thế nào để trình bày? - Đề tài "Thời trang và tuổi trẻ" có thể bao gồm những vấn đề nào? - Bản thân am hiểu và thích vấn đề nào? - Xác định đối tượng nghe để lựa chọn vấn đề thích hợp. Bài tập 3: Với vấn đề đã chọn, anh (chị) hãy chuẩn bị đề cương cho phần trình bày của mình. Đề cương bao gồm những ý gì cà sắp xếp như thế nào cho hợp lí. Ví dụ chọn vấn đề “Thời trang với vẻ đẹp của người phụ nữ” có thể trình bày theo đề cương sau: - Trang phục là người bạn đồng hành với con người đặc biệt là người phụ nữ. - Trang phục giúp người phụ nữ tôn thêm vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại vốn có. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 - Thời trang chỉ thích hợp với những ai am hiểu và biết cách lựa chọn phù hợp với mình. - Vẻ đẹp bên ngoài không thể thay thế vẻ đẹp tâm hồn nên người phụ nữ cần phải chú ý tới cả hai. Bài tập 4: Dựa vào đề cương, anh (chị) hãy trình bày vấn đề trước lớp. Trình bày cần tuân thủ theo các bước: 1. Bắt đầu: Chào cử tọa và giới thiệu vấn đề. 2. Trình bày nội dung vấn đề. 3. Kết thúc: Chốt lại vấn đề; cảm ơn người nghe. Bài tập 5: Từ những câu trích trong các bài trình bày khác nhau (SGK), hãy cho biết mỗi câu tương ứng với phần nào trong quá trình trình bày? Khi trình bày một vấn đề thông thường phải đi qua ba bước: Bắt đầu trình bày - trình bày nội dung chính, kết thúc và cảm ơn. Dựa vào cấu trúc này chúng ta có thể sắp xếp lại: 1. Các câu sau tương ứng với phần Bắt đầu trình bày: - Chào các bạn! cảm ơn các bạn đã tới đây. Xin tự giới thiệu, tên tôi là ................ làm việc ở cơ quan.............................! Tôi rất phấn khởi được đến đây phục vụ các bạn. - Trước khi bắt đầu, cho phép tôi được nói đôi điều về bản thân. Tôi đã làm việc ở Công ty..................trong ...........năm........ 2. Câu sau tương ứng với phần Trình bày nội dung chính: - Giờ chúng ta hãy đi vào nội dung chính của đề tài. Thứ nhất........ 3. Các câu sau tương ứng với phần Chuyển qua chủ đề khác: - Để xem xét tất cả các phương án có thể, chúng ta hãy chuyển sang phân tích những thuận lợi và khó khăn của từng phương án. - Giờ chúng ta chuyển sang vấn đề môi trường. Như các bạn đã biết, chúng ta đã tận lực để đảm bảo công việc xử lý phế thải.... 4. Các câu sau tương ứng với phần Kết thúc và cảm ơn: - Tôi muốn kết thúc bằng cách nhắc lại đôi điều đã nêu lên lúc mở đầu. - Giờ tôi sắp kết thúc bài nói và đến đây một lần nữa, lướt qua những điều chính đã nêu. Bài tập 6: Từ một số đề tài (SGK), hãy dự kiến các ý cần trình bày cho mỗi đề tài. Dự kiến các nội dung cần trình bày: a) Nét thanh lịch trong ứng xử hàng ngày. - Ứng xử hàng ngày trong đời sống cộng đồng có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo nên quan hệ giữa người với người. - Sự ứng xử phải thể hiện được nét thanh lịch. - Thế nào là nét thanh lịch trong ứng xử: + Qua thái độ, nét mặt, cử chỉ. + Qua lời nói, sự chân thành. + Qua sự am hiểu đối tượng... - Làm thế nào để tạo được nét đẹp thanh lịch trong ứng xử. b) Nghệ thuật gây thiện cảm. Nguyễn Phúc Vinh 107 Ngữ Văn 10 - Qua cách nói năng, sự giao tiếp. - Qua cử chỉ, hành động. - Qua vốn hiểu biết về đối tượng giao tiếp. - Qua vốn văn hoá.... c) Thần tượng của tuổi học trò. - Thế nào là thần tượng? - Biểu hiện của sự thần tượng ở tuổi học trò. + Sự ngưỡng mộ về một nhân vật nổi tiếng. + Sự bắt chước làm theo thần tượng. d) Giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp. - Vai ttrò của môi trường đối với cuộc sống của con người. - Các biện pháp giữ gìn môi trường.... e) An toàn giao thông là hạnh phúc của mỗi người. - Thực tế về thảm hoạ vi phạm giao thông hiện nay. - Nguyên nhân dẫn đến những thảm hoạ về an toàn giao thông. + Sự coi tường tính mạng và pháp luật. + Ý thức về luật lệ giao thông kém. - Cách khắc phục, giữ an toàn giao thông... Bài tập 7: Chọn một trong các đề tài để trình bày trước lớp. Có thể dựa trên các nội dung chính ở các vấn đề đã nêu ở bài tập 2, từ đó chuẩn bị và trình bày trước lớp. Lưu ý chọn lựa cách giới thiệu, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói. Trước khi trình bày cần tìm hiểu trình độ, yêu cầu, tâm lý, sở thích của người nghe... LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN Bài tập 1 : Từ kinh nghiệm học tập của bản thân, hãy cho biết sự cần thiết của việc lập kế hoạch cá nhân. - Kế hoạch cá nhân là bản dự kiến nội dung, cách thức hành động và phân bố thời gian để hoàn thành một công việc nhất định. - Khi lập được kế hoạch cá nhân, ta sẽ hình dung trước được công việc cần làm, phân phối thời gian hợp lí, tránh bỏ quên, bỏ sót công việc. Bài tập 2: Hãy lập kế hoạch ôn tập môn Ngữ văn để chuẩn bị thi học kì I. - Phần mở đầu. - Nội dung kế hoạch: Nội dung ôn tập Hình thức và cách thức tiến hành Thời gian Bài tập 3: Từ bài tập 2, hãy rút ra cách lập kế hoạch cá nhân. Cách lập kế hoạch cá nhân: - Chuẩn bị. - Lên kế hoạch gồm 2 phần: + Phần 1: Họ tên, nơi làm việc, chức danh,… + Phần 2: Nội dung công việc, thời gian, địa điểm,… - Lời văn cần ngắn gọn, cần thiết có thể kẻ bảng. Bài tập 4: Đọc và cho biết những điểm khác biệt của bản kế hoạch cá nhân (SGK) Nguyễn Phúc Vinh 107
- Xem thêm -