Giáo trình chăn nuôi dê

  • Số trang: 136 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 83 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24635 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN TS. TRẦN TRANG NHUNG (Chủ biên), TS NGUYỄN VĂN BÌNH TS. HOÀNG TOÀN THẮNG, PGS.TS. ĐINH VĂN BÌNH GIÁO TRÌNH CHĂN NUÔI DÊ NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2005 LỜI NÓI ĐẦU Dê là loài gia súc nhai lại nhỏ đã được thuần dưỡng từ rất lâu đời và đã đem lại những lợi ích thiết thực cho đời sống con người, vì vậy nó là một trong những loài vật nuôi gần gũi với con người. Trong những năm qua, việc giảng dạy môn học Chăn nuôi Dê cho sinh viên đại học và cao đẳng ngành Chăn nuôi Thú ý chủ yếu dựa vào tài liệu do giảng viên phụ trách môn học tự biên soạn và giảng dạy theo phương pháp truyền thống, sinh viên chưa có giáo trình chính thức về môn học này, do đó đã hạn chế đến sự mở mang kiến thức cho người học. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường, việc biên soạn giáo trình cho môn học là cần thiết. Vì vậy chúng tôi biên soạn cuốn Giáo trình chăn nuôi Dê này dành cho sinh viên đại học ngành Chăn nuôi thú y. Tuy nhiên các bậc đào tạo khác thuộc chuyên ngành này cũng có thể sử dụng giáo trình làm tài liệu học tập hoặc tham khảo. Giáo trình do TS.Trần Trang Nhung làm chủ biên, gồm 7 chương với sự tham gia của các tác giả: - Bài mở đầu: TS.Trần Trang Nhung, TS. Nguyễn Văn Bình, PGT.TS. Đinh Văn Bình. - Chương I: TS.Trần Trang Nhung, TS. Nguyễn Văn Bình - Chương II- III: TS.Hoàng Toàn Thắng - Chương IV-V: TS. Trần Trang Nhung, TS. Nguyễn Văn Bình - Chương VI: TS.Trần Trang Nhung, TS.Nguyễn Văn Bình, PGS.TS.Đinh Văn Bình. - Chương VII: TS.Trần Trang Nhung, TS. Nguyễn Văn Bình Nội dung giáo trình được viết tương đối ngắn gọn, trình bày những kiến thức cơ bản nhất về khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi dê. Với những kiến thức này, người học sau khi ra trường có thể vận dụng vào thực tiễn sản xuất, phát triển nghề nuôi dê. Tuy nhiên, người học cũng cần phải nắm chắc kiến thức các môn học cơ sở, các môn chuyên ngành Chăn nuôi và Thú y có liên quan. Do kinh nghiệm của các tác giả còn hạn chế, Giáo trình Chăn nuôi Dê lần đầu tiên ra mắt bạn đọc chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được sự phê bình, góp ý của đồng nghiệp và các em sinh viên. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn. Tập thể tác giả 2 BÀI MỞ ĐẦU I. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CHĂN NUÔI DÊ 1.1. Vai trò của chăn nuôi dê Ở nhiều nước nhiệt đới và bán nhiệt đới, dê là một loài vật nuôi có vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi. Chăn nuôi dê cung cấp nhiều loại sản phẩm phục vụ đời sống con người như: thịt, sữa, lông, da, sừng, móng, cung cấp một nguồn phân bón khá lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Trong các sản phẩm của con dê, sữa là một loại thực phẩm quí đối với con người bởi vì sữa dê rất có lợi cho sức khoẻ, trong sữa dê có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người như đạm, khoáng, vitamin-A... giúp cho việc phát triển cơ bắp và não. Do vậy trẻ em sau khi sinh cho cần ăn sữa dê mà cơ thể vẫn phát triển tốt, trẻ em vị thành niên và người già cần ăn sữa dê để tăng sức khoẻ (Tacio, 1987). Sữa dê cung cấp một nguồn protein rất quan trọng cho những trang trại nhỏ, cho gia đình các hộ nông dân ở các nước nhiệt đới và bán nhiệt đới, nơi mà ở đó những người nông dân nghèo không có đủ khả năng nuôi trâu bò sữa. Đặc biệt, sữa dê rất hiếm khi nhiễm khuẩn lao như sữa bò. Thịt dê được sử dụng phổ biến ở nhiều nước, nhất là thế dê non có giá trị dinh dưỡng rất cao. Ở nhiều nơi, giá thịt dê cao hơn so với các loại thịt khác bởi vì về chất lượng: tỷ lệ thịt nạc trong thân thịt cao, tỷ lệ mỡ thấp, do đó thịt có hàm lượng năng lượng thấp nhưng giàu protein. Lông và da dê là những sản phẩm quan trọng ở nhiều nước, đặc biệt là da dê được sử dụng để làm những đồ da mỹ nghệ có giá trị sử dụng rất tốt. 1.2. Ưu thế của chăn nuôi dê Đã từ lâu con dê được coi là "bạn của người nghèo", là "con bò sữa của người nghèo" vì con dê có nhiều tính ưu việt, nuôi dê mang lại rất nhiều lợi ích cho gia đình. Điều đó được phản ánh ở những điểm chính sau đây: - Có khả năng thích nghi cao ở hầu hết các điều kiện sinh thái khác nhau của trái dết vì vậy nơi nào cũng có thể nuôi được dê. - Là loài động vật rất thông minh, khá thuần tính, dễ nuôi, sạch sẽ. Nó thích hợp với chăn nuôi gia đình, tận dụng được nguồn lao động là phụ nữ, người già hoặc trẻ em. - Đòi hỏi lượng thức ăn ít hơn trâu bò: Nhu cầu về khối lượng thức ăn của 10 dê thịt tương đương với 1 bò thịt và 7 - 8 dê sữa tương đương với 1 bò sữa. Có thể nuôi dê bằng cách chăn dắt dọc theo các hàng rào, đường đi. - Dê không chỉ ăn cỏ như bò, cừu, mà chúng còn có khả năng sử dụng, tận dụng 3 rất nhiều loại cây thức ăn. Điều đó có nghĩa là chúng có khả năng lợi dụng và tiêu hoá chất xơ rất cao, trong khi đó đây là một nguồn thức ăn rẻ tiền, sẵn có trong tự nhiên. - Dê là loài vật ăn cỏ nhỏ, yêu cầu vốn đầu lư ít hơn trâu bò, nhưng lại có khả năng tăng đàn nhanh hơn trâu bò, chu kỳ sản xuất ngắn hơn, nhanh cho sản phẩm, vì vậy có khả năng cho ra sản phẩm thịt sữa nhiều hơn trâu, bò. Hơn nữa, chăn nuôi dê thường ít gặp rủi ro hơn những đối tượng vật nuôi khác. - Dê cung cấp một lượng đáng kể phân bón cho trồng trọt và nuôi cá, nuôi giun quế. - Đối với người nông dân, con dê còn được coi như là một "Sự bảo hiểm đồng vốn cho họ khi có những khó khăn, rủi ro xảy ra". - Về mặt xã hội, có thể nói con dê là một đối tượng vật nuôi được sử dụng nhiều trong các chương trình phát xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm cho người nông dân ở những vùng sâu, vùng xa còn nhiều nghèo khó. So sánh hiệu quả sản xuất sữa của dê với một số loài vật nuôi khác Loài vật nuôi Sản lượng sữa trung bình - S Khối lượng cơ thể (kg/năm) trung bình - P (kg) Tỷ lệ S/P - Bò sữa (Bos indicus) 1377 364 3,8 - Bò sữa (Bos taurus) 1814 410 4,4 - Trâu 880 455 1,9 - Dê địa phương 90 33 2,8 - Dê lai (Anglo x địa phương) 295 42 7,1 (Nguồn: FAO - IGA - IDRC, 1992) Như vậy, so với một số loài vật nuôi khác như trâu bò thì nuôi dê sữa có hiệu quả khá cao, nhất là khi nuôi các giống dê lai có hiệu quả cao hơn hẳn trâu bò (tỷ lệ S/P là 7, 1 so với 1,9 - 4,4). 1.3 Những hạn chế trong chăn nuôi dê Ngoài những ưu điểm trên, chăn nuôi dê cũng còn một số hạn chế như: - Do tính phàm ăn và ăn tạp của dê nên nó có thể phá hoại mùa màng, cây trồng. - Dê cũng là động vật dễ bị bắt trộm hoặc dễ bị loài khác tấn công. - Khi nuôi dê cần phải có bãi chăn để cung cấp thức ăn thô xanh - Thị trường tiêu thụ thịt, sữa dê chưa được thiết lập rộng rãi như các sản phẩm của các loài gia súc khác - Thịt dê đòi hỏi cách chế biến riêng biệt, hơn nữa nhiều người chưa có thói quen ăn thịt dê, do đó thịt dê chưa trở thành một nguồn thực phẩm thường xuyên, hàng ngày 4 của người dân - Sữa dê rất ngon và bổ nhưng cũng chưa được sử dụng phổ biến do người dân chưa có thói quen sử dụng. II.TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI DÊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NUỚC 2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới Theo số liệu thống kê của FAO - năm 2004, số lượng dê trong một số năm gần đây như sau: Số lượng dê trên thế giới và các khu vực từ năm 2001 - 2003 (Đơn vị tính: con) Năm Khu vực 1. Toàn thế giới 2001 2002 2003 737.175.842 750.39.679 764.510.558 Các nước phát triển 30.998.608 31.490117 31649.683 Các nước đang phát triển 706.177.234 718.849.562 732.860.875 Châu Á 464.344.462 474.179.766 487.588.456 Châu âu 18.199.686 18.179.413 18.425.226 Châu Phi 217614.386 219399.142 219.736.486 Châu Mỹ La tinh và Caribe 34.804.839 36.496.508 35.713.150 2. Phân bổ theo nhóm nước. 3. Phân bổ theo châu lục Tài liệu trên cho thấy, số lượng dê của thế giới tăng dần qua các năm và đến năm 2003 đạt 7645.10.558 con. Trong đó đàn dê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển với số lượng 732.860.875 con (chiếm 95,86% so với các nước phát triển) và được nuôi nhiều ở châu Á, có tới 478.588.456 con (chiếm 63,78% tổng đàn dê của thế giới). Tiếp theo là châu Phi có 219.736.486 con (chiếm 28,74% tổng đàn). Châu Mỹ và Caribe có số lượng dê đứng thứ 3 (36.713.l50 con - chiếm 4,8% tổng đàn dê thế giới). Số liệu ở bảng trên cũng cho thấy, chăn nuôi dê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển ở các nước phát triển, mặc dù có số lượng dê ít hơn nhưng chăn nuôi với quy mô đàn lớn hơn, sử dụng phương thức chăn nuôi tiên tiến với mục đích lấy sữa và làm pho mát, do đó có hiệu quả kinh tế cao. Ở châu Á, nước nuôi nhiều dê nhất là Trung Quốc (172.957.208 con), sau đó là Ấn Độ ( 124.500.000 con); Pakistan (52.800.000 con); Việt Nam có 780.33 con (Số 5 liệu năm 2003 của FAO). Sản lượng thịt và sữa dê theo số liệu thống kê của FAO - năm 2004 như sau: Sản lương thịt, sữa dê trên thế giới và các khu vực từ năm 2001 - 2003 (Đơn vị tính: tấn) Năm Khu vực 1. Toàn thế giới 2001 Thịt 2002 Sữa Thịt 2003 Sữa Thịt Sữa 3.895.618 11.679.970 4.047.507 11.755.792 4.091.190 11.816.315 Các nước phát triển 182.167 2.584.798 186904 2.517.059 187.834 2.538.373 Các nước đang phát triển 3.713.450 9.095.172 3.860.603 9.238.733 3.903.357 9277942 Châu Á 2.820.321 6176772 2.963.962 6262.971 3.003.742 6291364 Châu Âu 119.961 2.470.006 122.009 2.394.988 122.281 2.421.473 Châu Phi 809.528 2.686.129 811.312 2.742.975 813.653 2.744.583 Châu Mỹ La tinh và Caribe 132.402 347.033 136.704 354.828 137.554 358.86 2. Phân bổ theo nhóm nước 3. Phân bổ theo châu lục Thông báo của FAO-2004 cho biết, trong năm 2003, sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt 249.851.017 tấn. Trong đó, sản lượng thịt dê đạt 4.091.190 tấn (chiếm 1,64% tổng sản 1ượng). Khu vực các nước đang phát triển là nơi sản xuất nhiều thịt dê nhất (3.903.357 tấn - chiếm 95,4% tổng sản lượng), trong đó tập trung chủ yếu ở các nước châu Á (3.003.742 tấn - chiếm 73,42% tổng sản lượng). Nước sản xuất nhiều thịt dê nhất là Trung Quốc (1.518.081 tấn sau đó là Ấn Độ (473.000 tấn), Pakistan (373.000 tấn). Việt Nam sản xuất được 6.000 tấn thịt dê trong năm 2003. Cũng theo số liệu của FAO - 2004, đối với sản lượng sữa các loại trong năm 2003, toàn thế giới đạt 600978.420 tấn, trong đó sữa dê là 11.816.315 tấn (chiếm 1,97%). Cũng như thịt dê, sữa dê chủ yếu do các nước đang phát triển sản xuất (9.277.942 tấn - chiếm 78,52% tổng sản lượng). Các nước châu Á cung cấp phần lớn lượng sữa này (6.291.364 tấn - chiếm 5324% tổng sản lượng). Trong đó đứng đầu là Ấn Độ (2.610000 tấn), sau đó là Bangladesh (1.312.000 tấn); Pakistan (640.000 tấn); Trung Quốc (242.000 tấn). Sản lượng sữa dê của Việt Nam còn rất thấp và đạt khoảng 120 tấn Trong đó vùng Ba Vì, Sơn Tây, Hà Tây sản xuất được 95 tấn, số còn lại tập trung ở vùng ven thành phố Hồ Chí Minh (Đinh Văn Bình và cộng sự 2003). Ngoài ra, chăn nuôi dê cũng đã cung cấp một khối lượng khá lớn sản phẩm về lông da, sản lượng trong các năm 2001, 2002 và 2003 tương ứng là 864.055 tấn; 894.934 tấn và 898.960 tấn. Về số lượng các giống dê, Acharya R. M, 1992 cho biết, trên thế giới có 150 giống dê đã được miêu tả cụ thể, phần còn lại chưa được biết đến và phân bố ở khắp các châu lục Trong đó có 63% giống dê hướng sữa, 27% giống dê hướng thịt và 5% là dê kiêm dụng lấy thịt và lông làm len. Các nước châu Á có số giống dê nhiều nhất, 6 chiếm 42% số giống dê thế giới Nước có nhiều giống nhất là Pakistan. 25 giống, Trung Quốc: 25 giống Ấn Độ 20 giống. Ấn Độ là nước có ngành chăn nuôi dê rất phát triển. Công tác nghiên cứu về chăn nuôi dê được Chính phủ đặc biệt quan tâm chú ý. Nước này đã thành lập Viện nghiên cứu chăn nuôi dê, Viện sữa quốc gia, một số trường đại học và trung tâm nghiên cứu về đê Ở Philippine với tổng số dê hiện nay là 6,25 triệu con, tốc độ tăng đàn trong 10 năm qua là 1,2% năm. Việc nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê đã được chính phủ rất quan tâm chú ý, nhiều chương trình nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê quốc gia đã được xây dựng. Hiện họ đã và đang tiến hành một chương trình nghiên cứu toàn diện về con dê nhằm đẩy mạnh ngành chăn nuôi dê trong những năm tới. Ở Trung Quốc, từ năm 1978, Chính phủ đã bắt đầu quan tâm đến chăn nuôi dê, do đó tốc độ phát triển của đàn dê khá nhanh Hiện tại Trung Quốc có 12 trại dê giống sữa, giống Ximong - Saanen là giống dê phổ biến ở đây. Trung Quốc đã sử dụng giống dê này lai với dê địa phương, con lai cho năng suất sữa tăng lên từ 80 - 100% ở thế hệ thứ nhất, 200% ở thế hệ thứ hai. Hiện có tới 95% dê sữa Trung Quốc là giống Ximong - Saanen và các thế hệ con lai của chúng. Trung Quốc cũng là nước đã sử dụng kỹ thuật cấy truyền hợp tử trên dê. Theo Wang Ruixing Zhong và cộng sự - 1988, Trung Quốc đã có 11 dê con ra đời từ kỹ thuật tách đôi hợp tử. Để hội tụ các nhà khoa học cùng tham gia nghiên cứu và tổ chức trao đổi, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giới, Hội Chăn nuôi Dê thế giới đã được thành lập từ năm 1976 (International Gom Association) và 4 năm họp một lần. Khu vực châu Á cũng thành lập tổ chức Chăn nuôi gia súc nhai lại nhỏ (Small Ruminant Production System Networkfor Asia), có trụ sở tại Indonexia, với mục đích góp phần đẩy mạnh trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê cừu trong khu vực. 2.2. Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi dê đã có từ lâu đời nhưng theo phương thức quảng canh, tự cung tự cấp. Tới năm 2000, theo số liệu của Cục thống kê: Tổng đàn dê của cả nước là 525.000 con, trong đó chủ yếu là giống dê Cỏ (dê địa phương), được phân bố tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc. Riêng đàn dê của miền Bắc chiếm 72,5% tổng đàn, miền Nam 27,5% (trong đó Tây Nguyên chiếm 12,3%, Duyên hải miền Trung chiếm 8,9%; Đông Nam bộ 2,1% và Tây Nam bộ 3,8%). Đàn dê của các tỉnh vùng núi phía Bắc chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê cả nước. Theo số liệu thống kê của FAO năm 2003, tổng đàn dê của nước ta là 780.354 con, đã sản xuất ra được 6000 tấn thịt, tuy nhiên sản lượng sữa còn rất thấp và chỉ đạt 7 khoảng 120 tấn Nhiều năm qua, ngành chăn nuôi dê của nước ta chưa được quan tâm, chú ý. Người dân nuôi dê chủ yếu theo phương thức quảng canh, lận dụng dồi bãi chăn thả, thiếu kiến thức kỹ thuật. Giống dê Việt Nam chủ yếu là giống dê Cỏ địa phương nuôi lấy thịt. có nhiều màu sắc lông da khác nhau và bộ pha tạp nhiều, dê có lầm vóc bé nhỏ, hiệu suất chuyển hoá thức ăn thấp, hiện tượng suy thoái cận huyết cao. nuôi dưỡng kém, bệnh tật phát sinh nhiều. Ở một số nơi tỷ lệ chết của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi khá cao, lên tới trên 40c/o tổng số dê con sinh ra (Từ Quang Hiển và cộng sự, 1996). Năm 1993, Nhà nước bắt đầu giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong cả nước cho Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây thuộc Viện Chăn Nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi dê về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y, chế biến sản phẩm đã được tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu rất phấn khởi. Diện tích tự nhiên, số lượng và phân bố dê tại các vùng ở Việt Nam năm 2002 Khu vực Miền Bắc Diện tích Km2 % 166,6 50,4 Dân số Số lượng dê 1000 con % (triệu người) 39,2 509,9 75,5 - Trung du, miền núi 102,9 31,1 11,5 327,1 48,5 - Khu 4 cũ 51,2 15,5 10,3 124,3 184 - Đ.bằng sông Hồng 12,5 3,8 17,4 58,5 8,7 164,5 49,7 40,5 270,4 34,6 - Duyên hải miền Trung 58,9 17,8 6,8 32,3 4,8 - Tây Nguyên 32,4 9,8 4,4 47,6 609 - Đông Nam bộ 25,1 7,6 12,6 120,6 1 5,5 - Đ.bằng sông Cửu Long 48,0 14,5 16,7 70,0 8,9 Tổng số 331,1 100 79,7 780,3 100 Miền Nam (Nguồn: Cục Nông nghiệp - 8/2003) Trong đó công trình nghiên cứu đánh giá khả năng sản xuất của giống dê Bách Thảo (1991 - 1995) đã hoàn thành tốt đẹp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đây là giống dê nội kiêm dụng sữa thịt có khả năng sản xuất sữa và thịt đặc biệt là khả năng sinh sản cao hơn rất nhiều so với dê Cỏ. Do đó, giống dê này đã được đưa ma sản xuất đại trà trong cả nước và được người chăn nuôi ở nhiều nơi hoan nghênh tiếp nhận. Năm 1994, ba giống đê sữa Ấn Độ đã được nhập về nước ta với số lượng 500 con. Sau 4 năm nuôi theo dõi, đánh giá khả năng thích nghi, 3 giống dê này đã được Nhà nước công nhận thích nghi và cho phép đưa ra phát triển, nuôi đại trà ở các vùng 8 trong cả nước. Việc sử dụng dê đực Bách Thảo và dê Ấn Độ để lai cải tạo, nâng cao tầm vóc và năng suất giống dê Cỏ đã thu được kết quả rất tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Vì vậy chương trình này đã trở thành một trong những chương trình khuyến nông quan trọng nhằm chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi dê cho cả nước trong 2 giai đoạn 1996 - 2000 và 2001-2005. Chương trình này đã góp phần đưa ngành chăn nuôi dê tham gia vào chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi. tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập cho người dân, nhất là dân nghèo ở các vùng trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 2001, chương trình giống dê quốc gia giai đoạn 2001 - 2005 đã dược Nhà nước phê duyệt và đầu tư. Năm 2002 chương trình nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo giống dê sữa - thịt cấp quốc gia giai đoạn 2002 - 2005 và 2006 - 2010 đã được phê duyệt. Trong năm 2002, ba giống dê cao sản nhất trên thế giới là Boer chuyên thịt và Saanen, Alpine chuyên sữa đã được Nhà nước đầu tư và cho nhập từ Mỹ nhằm mục đích nhân thuần và lai lạo để lạo ra các giống dê sữa, thịt của Việt Nam. Với các chương trình nghiên cứu và đầu tư phát triển của Nhà nước như trên, trong 10 năm qua ngành chăn nuôi dê của nước ta đã có được những bước phát triển mạnh. Đặc biệt là việc thành lập Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ, đây là một trung tâm nghiên cứu tầm cỡ quốc gia và khu vực đã và đang hoạt động đạt hiệu quả tốt. Cho đến nay, số lượng dê cả nước đã tăng từ 320.000 con (trong đầu những năm 90) lên 780.000 con, gấp gần 2.5 lần. Chất lượng đàn giống cũng đã hoàn toàn thay đổi, đến nay hầu như các giống dê tốt nhất của thế giới chúng ta đã có và đang được nuôi nhân ra tại Việt Nam. 9 Số lượng dê và giá bán trên thị trường từ năm 1991-2003 (Nguồn: Số liệu Cục thống kê - 2003) * Những thuận lợi và khó khăn của nghề nuôi dê ở Việt Nam Thuận lợi: - Nước la có 9 triệu ha đồi núi trọc, núi đá, là nơi cây quán mộc phát triển, thích hợp cho phát triển nuôi dê. - Điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta thích hợp cho cây cối phát triển quanh năm, đây là điều kiện tốt nhất để phát triển chăn nuôi dê lấy thịt và lấy sữa - Hiện tại thị trường tiêu thụ sản phẩm từ con dê đang trên đà phát triển. Thịt dê được con là loại thịt sạch được dùng để chế biến các món ăn đặc sản hấp dẫn người tiêu dùng. Nhu cầu về sữa tươi của người dân ngày một tăng cao, là điều kiện tốt nhất để thúc đẩy chăn nuôi dê sữa nước ta phát triển - Vốn đầu tư cho nuôi dê không lớn, tốc độ quay vòng đồng vốn lại cao. - Nuôi dê ít gặp các rủi ro do bệnh dịch so với các loài vật nuôi khác Khó khăn: - Do bản năng hoang dã, nghịch ngợm, ăn nhiều loại cây lá khác nhau nên dê hay phá phách mùa màng, hoa màu, vì vậy ở vùng đồng bằng thường rất khó phát triển chăn nuôi dê. - Do phương thức chăn nuôi quảng canh. chăn nuôi dê chưa được đầu tư đúng mức vì vậy tốc độ tăng trọng thấp. Ở những nơi bãi chăn thả hẹp đàn dê không phát 10 triển được - Thị trường mua bán dê giống, dễ thịt và thịt dê còn hạn hẹp. - Kỹ thuật chăn nuôi dê chưa được phổ biến rộng rãi, nhất là dê nuôi lấy sữa còn là mới mẻ với người dân - Chăn nuôi dê cũng sẽ làm môi trường ô nhiễm nếu người chăn nuôi không biết cách xử lý vệ sinh môi trường, do đó ít nhiều gây ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. 2.3. Phương hướng phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam Để phát huy hết tiềm năng sẵn có và đẩy mạnh phát triển theo hướng nông - lâm kết hợp, phương hướng phát triển đàn dê trước mắt và lâu dài được xác định như sau: - Tập trung khai thác có hiệu quả các bãi chăn thả tự nhiên. diện tích đất trống đồi núi trọc, núi đá, ven rừng, khu vực ngoại ô thành phố để phát triển đàn dê thể theo hướng hàng hoá. Chú trọng bảo vệ môi trường, môi sinh, tu bổ rừng, bảo vệ và khai thác rừng có kế hoạch, đẩy mạnh kinh tế vườn-rừng, từng bước cải thiện đời sống văn hoá - xã hội cho nhân dân. - Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê ở khu vực hộ gia đình, mở rộng hình thức liên doanh, khuyến khích phát triển trang trại nuôi dê ở các hộ có quy mô đàn lớn, có kinh nghiệm chăn nuôi và có cơ sở vật chất kỹ thuật. - Nâng cao chất lượng và số lượng đàn dê Việt Nam bằng cách + Chọn lọc đàn cái nền và đực giống tốt tại các địa phương để nhân giống, tránh đồng huyết, tạo đàn cái nền để lai tạo nâng cao tầm vóc và khả năng sản xuất đàn dê trong nước. + Nhập những giống tốt của các nước theo hai hình thức: nhập tinh dông lạnh và con giống theo hướng sản xuất sữa, thịt. Nuôi thích nghi nhân thuần và từng bước tiến hành lai tạo với các giống dê trong nước để nâng cao khả năng sán xuất ra sữa, thịt và tạo ra giống dê mới. Khuyến khích người chăn nuôi plál ticn nuôi dê sữa, kết hợp nuôi kinh doanh dê thịt cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, cùng với việc tự sản xuất giống dê tại các vùng để cung cấp đủ cho nông dân. - Tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh công tác khuyến nông, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật cho người chăn nuôi, dần dần chuyển từ phương thức chăn thả tự do quảng canh sang phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp. 11 Chương I NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHÍNH CỦA DÊ I. NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI 1.1. Nguồn gốc của dê Rất nhiều nhà khoa học ớ các nước khác nhau đã nghiên cứu về nguồn gốc của dê nhà, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này song phần lớn ý kiến đều cho rằng: Dê là một trong những loài vật nuôi dược con người thuần hoá sớm nhất sau đấy là Chó (Zeuner. 1963). Kết quả nghiên cứu các mảnh xương dê nhà tìm thấy ở bang Bell gần biên giới Caxpi, thông qua việc xác định niên đại băng C14, các nhà khoa học đã xác định rằng, dê nhà đã xuất hiện cách đây 6 - 7 nghìn năm trước công nguyên. Kết quả trên đây cũng phù hợp với kết quả xác định niên dại các mảnh xương dê nhà được tìm thấy ở di chỉ đồ đá mới cua Jeri. Nhìn chung, khó xác định được thật chính xác thời điểm con người thuần hóa dê rừng là nơi đã thuần hóa dê đầu tiên. Nhưng với những dẫn liệu đặc biệt tìm thấy được gần đây người ta đã cho rằng: nơi thuần hóa các giống dê đầu tiên là ở châu Á (Devcndra và Nozawa. 1976), vào thiên niên kỷ thứ 7 - 9 trước công nguyên. tại vùng núi Tây Á. Thực tế ngày nay người ta còn thấy nhiều loài dê nguyên thủy tới số lượng lớn ở thung lũng đầu nguồn sông Ấn và ở những dãy núi nằm ở phía đông sông này. Đây là vùng giáp ranh giữa vùng có dê rừng có sỏi trong dạ dày và vùng có dê Markhor. Phần lớn những dê rừng này có lông màu đen, lông dài ở khuỷu chân. Từ đây dê được phổ biến sang các vùng khác từ thời tiền sử hay cận đại và dã thích nghi dần với cuộc sống mới ở mỗi vùng. Giống như các vật nuôi khác sau khi thuần hóa, ban đầu dê dược nuôi để lấy thịt, sau đó nuôi đê lấy sữa cũng được con người tiến hành sớm hơn cả bò sữa, vì vãi sữa dê đơn giản hơn với sữa bò. Về nguồn gốc: Người ta cho rằng dê nhà ngày nay (Capra hircus) có nhiều nguồn gốc khác nhau. Tổ tiên trực tiếp của dê nhà gồm 2 nhóm dê rừng chính. + Dê rừng Bezoar (Capra aegagrus) được tìm thấy ở trận và các nước vùng tiểu Á, là tổ liên của phần lớn dê nhà đang được nuôi ở châu Á và châu Âu. Nó dược coi là nhóm tổ tiên thứ nhất của dê nhà. Dê thuộc nhóm này có sừng thẳng nhưng xoắn vặn 12 (Hình 2a). + Dê rừng Markhor (Capra Falconeri), nhóm này có sừng cong vặn về phía sau (Hình 2b) và được coi là nhóm tổ tiên thứ 2 của dê nhà, còn thấy ở vùng núi Hymalaya và đang được nuôi nhiều ở hai bên sườn phía Đông là Tây của dãy núi này. Nhóm Markhor phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir - Karakorum. Hình 2a. Sừng dê Bezoar Hình 2b. Sừng dê Markhor Hiện nay,người ta thấy rằng khu vực nuôi dê lâu đời nhất là các nước Trung Đông, sau đó đến Ấn Độ và Ai Cập, tiếp đến là các nước châu Âu, châu Á và châu Phi. Khu vực nuôi dê mới nhất là Đông Nam Á. 1.2 Vị trí phân loại của dê Về phân loại động vật học, dê thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), là loài nhai lại nhỏ (Small Ruminant), thuộc loài dễ (Capra), họ sừng rỗng (Covicolvia), họ phụ dễ cừu (Capra rovanae), bộ guốc chẵn (Actiodactila), bộ phụ nhai lại (Rumnantia). Trong số các động vật nông nghiệp thì dê gần gũi với cừu và đều được xếp chung vào nhóm gia súc nhỏ có sừng. II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỀM SINH VẬT HỌC CỦA DÊ 2.1. Đặc điểm về ngoại hình Quan sát các đặc điểm ngoại hình cho thấy cơ thể dê có góc cạnh, có râu ở cá con đực và con cái, trong khi thân hình cừu tròn hơn. Sừng dê có 2 gốc sừng gần sát nhau và liên choãi ra, mặt cắt ngang sừng dê có hình tam giác, còn ở sừng cừu mặt cắt ngang gần như buông. Trán dê lồi xương mũi thẳng và không có hốc mắt. Cừu thì ngược lại trán phẳng mũi lồ và có hốc mắt. Mõm của dê và cừu đều mỏng, môi linh hoạt, răng cửa sắc, giúp cho con vật có thể gặm được cỏ mọc thấp và chọn lấv những lá non à búp cây mềm mại. 13 Lông của dê có nhiều màu khác nhau và rất đa dạng như: màu trắng, đen. xám, áng nâu, khoang... Lông dê khác lông cừu ở chỗ tỷ lệ lông sạch cao, do da dê có ít luyện mồ hôi và tuyến mỡ hơn da cừu. Vì vậy, các cơ quan hô hấp ớ dê cũng tham gia rất tích cực vào quá trình diều tiết thân nhiệt. 2.2 Tập tính sinh hoạt của dê 2.2.1. Tập tính ăn uống Dê khác hẳn cừu về tiếng kêu cũng như về tập tính sinh hoạt. Cừu có thói quen đi ăn thành từng đàn lớn trên đồng cỏ bằng phẳng, còn dê lại đô thành từng bầy nhỏ lẻ, ưa những vùng núi đá cao, khô ráo, thích ăn các loại thức ăn cành lá hoa và các cây lùn, thân bụi, cây họ đậu thân gỗ hại dài. Dê rất nhanh nhẹn. hiếu động, chúng di chuyển rất nhanh khi ăn xung quanh cây xà bứt lá búp ở phần non nhất rồi nhanh chóng chuyển sang cây khác. Mỗi ngày dê đi lại chạy nhảy từ 10 - 15 khi. Dê thích ăn lá cây ở độ cao 0,2 - 1,2 m, chúng có thể đứng rất lâu để bứt lá ăn. Dê thường chọn loại thức ăn nào mà chúng ưa thích nhất, thức ăn rơi vãi dễ thường bỏ không ăn lại. Dê có khả năng ăn được lượng thức ăn bằng 2,5 - 4 % khối lượng cơ thể (tính theo VCK thu nhận). 14 2.2.2. Tính nết của dê Dê là con vật có tính khí thất thường, hiếu động, ương bướng và cũng rất khôn ngoan. Dê rất phàm ăn nhưng luôn tìm thức ăn mới. Chúng nếm mỗi thứ một chút nhưng rồi cuối cùng chẳng ưng ý một món nào cả. Dê leo trèo rất giỏi và ưa mạo hiểm, điều này thấy rõ ngay cả ở dê con. Chúng có thể leo lên những vách núi, những mỏm đá cạnh vực sâu cheo leo, hiểm trở. Với sự nhanh nhẹn, khéo léo, chúng có thể di chuyển dê đàng trên những mỏm đá cheo leo. Dê chọi nhau rất hăng, không riêng gì con đực mà cả con cái và dê con, với những lý do khác nhau. Chúng dùng sừng húc vào mặt, đầu, bụng đối thủ. Những con không có sừng thì húc bằng cả đầu. Những cuộc chiến này có thể kéo dài đến hàng nửa giờ. Khi gặp nguy hiểm chúng tỏ ra rất hăng, liều mạng nhưng lại rất nhất và dễ hoảng sợ trước một vật lạ. Tuy nhiên dê rất mến người chăm sóc chúng. Chúng có khả năng nhớ được nơi ở của mình và tên riêng do người nuôi đặt cho. Dê có thể nhận được chủ của chúng từ xa và kêu ầm lên để đón chào. Khi phạm lỗi bị phạt đòn thì không kêu, nhưng nếu bị đánh oan thì kêu be be ầm ĩ để phản đối. 2.2.2. Tập tính bầy đàn của dê Dê thường sống tập trung thành đàn và mỗi con có vị trí riêng trong đàn: Con có vị trí thấp phải phục tùng con có vị trí cao. Thường trong đàn, con đầu đàn sẽ dẫn đầu khi di ăn. Chúng thích ngủ, nghỉ trên những mô đất hoặc tảng đá phẳng, cao và ngủ nhiều lần trong ngày: trong khi ngủ dê vẫn nhai lại. Do có thính và khứu giác rất phát triển nên chúng rất nhạy cảm với mọi tiếng động dù nhỏ. Dê còn có khả năng chịu đựng tốt khi mắc bệnh và hay dấu bệnh, những con ốm vẫn thường cố gắng đi theo đàn đến khi kiệt sức gục ngã mới chịu rời đàn. Vì vậy nuôi dê phải quan tâm tỷ mỹ mới có thể phát hiện được những con bị bệnh để điều trị kịp thời. 2.3. Đặc điểm về sinh trưởng phát triển Sự sinh trưởng phát triển của dê cũng tuân theo quy luật giai đoạn và phụ thuộc vào giống, tuổi, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường sống. Khối lượng của dê thay đổi tuỳ theo giống và tuổi. Khối lượng dê sơ sinh trong khoảng từ 1,6 - 3,5 kg 3 tháng tuổi đạt 6 - 1 2 kg ; 6 tháng tuổi đạt 10 - 2 1 k2-, 30 kg ; 1 8 tháng tuổi đạt 30 40 kg. Dê đực thường lớn nhanh hơn dê cái. Ở giai đoạn từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi dê đạt khả năng sinh trưởng tuyệt đối và tương đối là lớn nhất (90 - 120 gam/con/ngày và 15 95 - 130%), sau đó giảm dần. Tới tuổi trưởng thành (24 - 36 tháng tuổi), khả năng sinh trưởng giảm hẳn và khối lượng thay đổi không rõ rệt nữa. Khối lượng của một số giống dê ở các lứa tuổi (kg) Lứa tuổi Sơ sinh Đực Dê cỏ 2,3 Dê Bách Thảo 2,7 Dê Babary 2,3 Dê Jamnapari 3,4 Dê Beetal 3,5 3 tháng Cái Đực 1,6 6,1 2,3 11,6 2,1 9,4 3,0 12,4 2,9 12,9 6 tháng Cái Đực 5,3 9,7 10,1 17,9 9,1 14,8 11,7 18,5 10,7 18,9 9 tháng Cái Đực 8,2 14,3 15,8 25,5 12,5 19,4 14,6 24,0 15,4 26,6 12 tháng Cái Đực 13,7 19,8 22,1 31,4 15,3 23,3 20,6 30,2 22,9 31,6 18 tháng Cái Đực 17,2 25,0 26,8 41,7 18,3 31,1 29,3 39,3 25,7 40,9 24 tháng Cái Đực 20,7 28,0 33,5 46,2 21,8 34,7 27,1 47,5 29,6 49,0 30 tháng Cái Đực 22,8 32,8 35,3 54,3 23,7 39,6 29,1 54,4 33,0 56,2 36 tháng Cái Đực 25,7 36,6 38,6 57,3 25,8 44,9 32,1 59,5 36,1 62,3 Cái 27,6 40,6 27,9 36,2 40,1 (Nguồn: Đinh Văn Bình và cộng sự, 1994) Tác giả Trần Trang Nhung (2000), khi nghiên cứu trên đàn dê cỏ cùng Đông Bắc cho biết khối lượng của dê đực và dê cái ở các độ tuổi: sơ sinh, 3, 6, 9, 1 2 tháng tương ứng là 1,69; 7,80; 12,50; 16,00; 19,40 kg và 1,56; 7,10; 10,40; 13,31; 15,70kg. Khả năng sinh trưởng tuyệt đối của dê đực và dê cái trong giai đoạn từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi đạt trung bình tương ứng là 49g/ngày và 44g/ngày; Cường độ sinh trưởng tương đối của dê đực và dê cái đạt cao nhất ở giai đoạn sơ sinh đến 1 tháng tuổi (tương ứng là 74,44% và 74, 19%), sau đó giảm dần đến giai đoạn 11 - 2 tháng tuổi là 4,60% và 4,56%. Quá trình tích luỹ mỡ ở dê chủ yếu ở các cơ quan nội tạng, còn cừu tích luỹ mỡ chủ yếu trong mô mỡ ở dưới da và trong cơ. 2.4. Một số đặc điểm sinh học khác Ngoài những đặc điểm sinh học trên, kết quả nghiên cứu cho thấy dễ có 60 nhiễm sắc thế trong khi cừu chỉ có 54 nhiệm sắc thể, tuổi thọ của dê thường là 7 - 9 năm. Cũng giống như trâu bò, dê có 8 răng cửa hàm dưới không có hãng cửa hàm trên. Sau khi sinh ta tới 3 tháng tuổi dê đã mọc đủ 8 răng cửa tạm thời (răng sữa). Dê dược 16 18 tháng bắt đầu thay 2 răng cửa giữa, 24 tháng thay 2 răng bên, 30 tháng thay 2 răng áp góc và 36 tháng thay 2 răng góc và từ đây trớ đi gọi là bộ răng vĩnh cửu. Sau 4 năm tuổi răng mòn dần, hở chân răng và rụng tăng sau 7 năm tuổi. Căn cứ vào các đặc điểm đó, chúng ta có thể xem răng để xác định tuổi của dê. Hình 6. Xem răng xác định tuổi dê 1. Răng cửa giữa; 2. Răng cửa bên; 3. Răng áp góc; 4. Răng góc 2.5. Một số chỉ tiêu sinh lý cơ bản của dê Chỉ tiêu Giá trị bình thường Ghi chú Thân nhiệt (0C) 38,7 - 40,2 Mạch đập (lần/phút) 70 - 80 Ở dê con nhanh hơn. Tần số hô hấp (lần/phút) 12 - 15 Ở dê con nhanh hơn. Nhu động dạ cỏ (lần/phút) 1 - 1.5 Tuổi bắt đầu động dục (tháng) 7 - 12 Thời gian động dục (giờ) 12 - 48 Chu kỳ động dục (ngày) 17 - 23 Trung bình là 21 ngày Thời gian mang thai (ngày) 146 - 156 Trung bình là 150 ngày 2.6 Các bộ phận trên cơ thể của dê 17 Hình 7. Các bộ phận trên cơ thể của dê 1. Trán 18. Móng huyền 35 Hậu môn 2. Sống mũi 19. Tĩnh mạch vú 36. Gốc đuôi 3. Lỗ mũi 20. Băng treo trước bầu vú 37. Đuôi 4. Môi 21. Bầu vú 38. Mông 5. Hàm 22. Núm vú 39. Phần mông 6. Hầu 23. Khoảng cách bầu vú 40. Hông 7. Vành tai 24. Đầu vú 41. Phần lưng 8. Bả vai 25 Móng chăn 42. Lưng 9. Lồng ngực 26. Cổ chân 43. Xương sườn 10. Ức 27. Khuỷu chân sau 44. Đốt sống ngực 11. Khuỷu chân trước 28. Sườn 45 U vai 12. Ngực 29 Băng treo giữa bầu vú 46. Bả vai 13. Vòng bụng 30. Phần sau bầu vú 47. Xương vai 14. Đầu gối 31. Khớp đùi 48. Cổ 15. Ngón chân 32. Bắp đùi 49. Tai 16. Bàn chân trước 33. Băng treo sau bầu vú 50. Đầu 17. Gót chân 34.Âm hộ 18 Chương II ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA MỘT SỐ CƠ QUAN Ở DÊ I. ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA CƠ QUAN TIÊU HÓA Dê có bộ máy tiêu hoá phát triển tốt và khả năng tiêu hoá mạnh. nó có thể tiêu hóa được các loại thức ăn có chứa đến 64% chất xơ. Dê có thể ăn được lượng vật chất khô trong thức ăn cao hơn cừu và bò (Dê: 2,5 - 4% khối lượng cơ thể, bò 1,5 - 2,0%) và cừu 1,5 - 2,5% 1.1. Đặc điểm cấu tạo và quá trình tiêu hoá trong xoang miệng Cũng như các loài nhai lại khác, dê không có các răng cửa ở hàm trên. Bộ răng làm phát triển mạnh để nhai nghiền làm nát thức ăn thô. Lưỡi của dễ khá dài và linh hoạt, bề mặt nhám có thể cuốn bứt cỏ lá đưa vào miệng Trong xoang miệng có chứa nước bọt do 3 đôi tuyến tiết lụa là: tuyến mang tai, tuyến dưới hàm, tuyến dưới lưỡi. Chức năng tiêu hoá cơ học của miệng bao gồm: - Lấy thức ăn, nước uống. - Nhai và tẩm thức ăn với nước bọt - Nuốt. Hoạt động tiêu hoá trong xoang miệng chủ yếu là nhờ tác động cơ học do các 19 hoạt động nhai, nghiền của răng hàm trên và dưới phối hợp với các cử động linh hoạt của môi, má, lưỡi để làm cho thức ăn được trộn đều với nước bọt, tạo điều kiện cho quá trình nuốt thức ăn được dễ dàng. Sự biến đổi về mặt hoá học của thức ăn ở trong xoang miệng dê hầu như không xảy ra do nước bọt không chứa bất kỳ loại mãi tiêu hoá nào. Tuy nhiên với lượng tiết 7 - 8 lít nước bọt một ngày đêm và được nuốt xuống dạ dày cùng thức ăn, nước bọt có vai trò to lớn đối với tiêu hoá ở dạ dày dê. Vấn đề này sẽ đề cập kỹ hơn ở phần sau. 1.2. Đặc điểm cấu tạo và quá trình tiêu hoá trong dạ dày của dê Trong ống tiêu hoá, dạ dày đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tiêu hoá thức ăn. Qua nghiên cứu cho thấy, trước khi vào đến ruột non. có khoáng 58% chất khô, 93% xơ thô, 81% bột đường và 11% protein thô đã được tiêu hoá ở dạ dày dê. Sự khác biệt cơ bản về cấu tạo và hoạt động tiêu hoá ở dễ so với các loài khác chính là ở đặc điểm cấu tạo và hoạt động phức tạp của dạ dày. 1.2.1. Sơ lược cấu tạo dạ dày dê. Dạ dày dê là loại dạ dày 4 túi: 3 túi ở phía trước là dạ cỏ, tổ ong, lá sách - gọi chung là phần dạ dày trước: một túi phía sau là dạ múi khe - gọi là dạ dày sau. Dạ dày trước không có tuyến tiêu hoá mà chỉ có các tế bào phụ tiết ra dịch nhầy. Chỉ có dạ múi khe có các tuyến tiết dịch tiêu hoá tương tự dạ dày đơn. Kích thước: dung tích là khối lượng của các túi thay đổi theo tuổi. Khi dê con mới sinh. dạ múi khe hoạt động là chủ yếu, nó chiếm tới 70% dung tích toàn dạ dày các túi khác chỉ chiếm 30%. Khi dê trưởng thành dạ cỏ lại chiếm phần chủ yếu tới 80% dung tích chung của dạ dày; dạ tổ ong: 5%; dạ múi khế: 7% ; dạ lá sách: 8% lúc này tỷ lệ giữa các phần không thay đổi nữa. Hình 9. Sơ đồ cấu tạo dạ dày kép của dê (C.E.Dtuffbeam, 1983) 1. Thực quản 5. Trực tràng 9. Tuỵ 2. Gan 6. Kết tràng 10. Dạ múi khế 20
- Xem thêm -