Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các bài tập trắc nghiệm hóa học trong chương trình hóa học phổ thông

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3355 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH …………***………… S¸ng kiÕn kinh nghiÖm GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM THÔNG QUA BÀI TẬP HOÁ HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Hà Tĩnh , tháng 3 năm 2014 MỤC LỤC Trang PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ ......................................................................2 I.1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................3 I.2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................3 I.3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................3 I.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................3 I 5. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................3 I.6. Đóng góp của đề tài ..................................................................................4 PHẦN II : NỘI DUNG .......................................................................5 II.1. Cơ sở lý luận ..........................................................................................5 II.2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................5 II.3. Thiết kế các bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm .....................6 II.3.1. Nguyên tắc ...........................................................................................6 III.3.2.Xây dựng các bài tập có nội dung GD vệ sinh an toàn thực phẩm ..... 7 II.3.2.1.Bài tập có kiến thức về các chất gây ngộ độc thực phẩm ....................7 II.3.2.2.Bài tập có kiến thức về quá trình biến đổi các chất gây ngộ độc thực phẩm ........................................................................................ 11 II.3.2.3. Bài tập có kiến thức chất bảo quản thực phẩm .................................15 II.3.2.4. Bài tập về cách xử lí chất gây ngộ độc thực phẩm ............................. 16 PHẦN III: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT ........................................19 III.1. Những việc đã hoàn thành của đề tài .................................................... 19 III. 2. Các kết luận ........................................................................................ 19 III. 3. Hướng phát triển của đề tài .................................................................20 III. 4. Một số kiến nghị và đề xuất ................................................................ 20 Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 1 Phần I . ĐẶT VẤN ĐỀ I.1. Lí do chọn đề tài Từ lâu an toàn vệ sinh thực phẩm( ATVSTP) luôn và vấn đề nóng mà dư luận và người tiêu dùng đặc biệt quan tâm, bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự an toàn tính mạng của mỗi người .VSATTP không chỉ tác động trực tiếp và thường xuyên đến sức khỏe của con người, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của kinh tế xã hội. Không những thế về lâu dài nó còn ảnh hưởng đến nòi giống dân tộc .Mặc dầu vậy ở nước ta vấn đề này hình như vẫn đang còn buông lõng hay chưa được các ban nghành quan tâm đúng mức. Tuy nhiên vài năm gần đây , trước sự bức xúc của người tiêu dùng và dư luận xã hội về vấn đề này các cơ quan chức năng đã quan tâm chú ý nhiều hơn. Thực tế cho thấy các vụ ngộ độc thực phẩm và những vi phạm về VSATTP vẫn đang xảy ra và có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê của bộ y tế , gần đây ở nước ta hàng năm có đến 200 đến 600 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra , khoảng 4 đến 6 ngàn người bị ngộ độc và trong số đó có vài chục người bị tử vong . Ngộ độc thực phẩm có thể xảy ra cùng lúc với nhiều người và tác hại rất lớn , làm hao phí sức lao động ,suy kiệt sức khỏe ....Ngoài ra ngộ độc thực phẩm củng chính là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh hiểm ngèo. Thực phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người phát triển, duy trì sự sống và lao động, thực phẩm còn là nguồn tạo ra các độc tố cho con người nếu không tuân thủ các biện pháp vệ sinh thực phẩm hữu hiệu. Thực tế ở trường phổ thông hiện nay việc đưa nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình môn học còn ít, vì vậy việc hiểu biết của các em về vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế nên thực sự chưa mang lại hiệu quả trong cuộc sống. Với đặc thù hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn cuộc sống nên hóa học cũng thuận lợi cho việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh. Có nhiều cách đưa kiến thức giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào môn hóa học như : tích hợp , lồng ghép , bài tập.. Trong các cách đó ,thì việc thiết kế những bài tập hóa học có tích hợp nội dung về Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 2 giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những cách gắn liền hóa học với giáo dục ý thức tìm hiểu an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe con người .Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông nếu chúng ta khai thác được kiến thức lồng ghép những bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chính bài học sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động, học sinh trở nên yêu và hứng thú với môn học, từ đó có được kiến thức, thái độ tình cảm, ý thức về an toàn thực phẩm sẽ sâu sắc hơn. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “ giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các bài tập trắc nghiệm hóa học trong chương trình hóa học phổ thông ” để nghiên cứu. I .2. Mục đích nghiên cứu Đề tài này nhằm nghiên cứu các nội dung hóa học ,các bài tập hóa học có liên quan đến an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học THPT, từ đó giáo dục cho học sinh có ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân , gia đình và cộng đồng , củng như tạo được sự hứng thú trong học môn hóa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học. I. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm hóa học theo hướng tích hợp về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học THPT I. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Hệ thống bài tập trắc nghiệm về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm này có thể áp dụng cho các đối tượng học sinh khác nhau , mỗi đối tượng đều có các loại bài phù hợp để học sinh có thể hiểu ,từ đó có ý thức hơn trong vệ sinh an toàn thực phẩm. I. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lí thuyết để nghiên cứu SGK, tài liệu liên quan đến đề tài. - Nghiên cứu cơ sở , kỹ thuật xây dựng bài tập để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập cho đề tài. I. 6. Đóng góp của đề tài Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 3 - Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của bài tập trong việc phát triển khả năng sáng tạo và hứng thú học tập cho học sinh. - Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hoá học có nội dung liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao nhận thức hành động và đạo đức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh THPT. Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 4 Phần II. NỘI DUNG II .1. CƠ SỞ LÍ LUẬN Hiện nay hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày càng nhiều ở nhiều địa phương trong cả nước. Ngộ độc thực phẩm xảy ra không chỉ ở các nhà ăn tập thể ( xí nghiệp, trường học , nhà hàng, nhà máy, ..) mà còn xảy ra ở rất nhiều ở các gia đình, kể cả ở thành thị và nông thôn. Vấn đề này đã được các cơ quan chức năng củng như các phương tiện thông tin tuyên truyền và cảnh báo nguy cơ ngộ độc thực phẩm và mất an toàn vệ sinh thực phẩm , nhưng vẫn không giảm mà còn có xu hướng gia tăng trong cộng đồng Thực phẩm không những là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người phát triển, duy trì sự sống và lao động, thực phẩm còn là nguồn tạo ra ngộ độc cho con người nếu như ta không tuân thủ đúng những biện pháp vệ sinh thực phẩm hữu hiệu. Có nhiều nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm (do vi sinh vật , các chất hóa học, các yếu tố vật lý..). Khả năng bị ngộ độc chủ yếu là do thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm , ngoài ra do ý thức của người tiêu dùng đang còn thói quen sử dụng thực phẩm không rõ nguồn gốc củng như kém chất lượng đang còn phổ biến.. Đối với học sinh phổ thông thì kiến thức và sự hiểu biết của các em về vệ sinh an toàn thực phẩm đang còn rất hạn chế , đặc biệt là những ngộ độc thực phẩm có liên quan đến các chất hóa học. Vì thế việc lồng ghép , tích hợp hay ngoại khóa cho các em về kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cấp thiết và quan trọng , đặc biệt là các môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn cuộc sống như môn hóa học. II.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cần thiết để làm cơ sở cho nhận thức và hành vi cá nhân và để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và cho cộng đồng. Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp con người nhận thức đúng trong việc tìm những nguồn thực phẩm sạch đảm bảo cho sức khỏe con người. Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 5 Thế hệ trẻ đặc biệt là các em học sinh những tương lai của đất nước. Vì vậy việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ngay trong trường phổ thông có vị trí đặc biệt, nhà trường là nơi đào tạo những người chủ tương lai của đất nước, nên giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho thế hệ trẻ là một việc làm có tác dụng lớn lâu bền. Thực tế ở trường phổ thông hiện nay việc đưa nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình môn học còn sơ sài ,thiếu tính hệ thống. Vì vậy việc hiểu biết của các em về vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế và thực sự chưa mang lại hiệu quả. Với đặc thù môn hóa học là môn khoa học thực nghiệm , có liên quan nhiều đến thực tiễn cuộc sống . Vì vậy trong quá trình dạy học ,việc giáo viên thiết kế củng như sưu tầm các bài tập hóa học có nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm để cung cấp thông tin và giáo dục sự hiểu biết thêm về kiến thức an toàn thực phẩm cho học sinh là điều rất quan trọng, nó không những mang lại cho học sinh sự hứng thú cho môn học mà còn giúp học sinh tuyên truyền và điều chỉnh hành vi cá nhân trong vệ sinh an toàn thực phẩm. II.3. THIẾT KẾ CÁC BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM II.3.1. Nguyên tắc Dựa vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học hoá học, cơ sở tâm lí học sinh, nội dung chương trình hoá học phổ thông và đặc điểm của bộ môn hoá học có thể thiết kế các bài tập hoá học có nội dung liên quan với thực tế về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm dựa vào các nguyên tắc sau : - Cơ sở lí thuyết: Trên cơ sở các định luật, khái niệm, học thuyết, các nguyên lí, mệnh đề,... các kiến thức cần truyền thụ, rèn luyện, kiểm tra đánh giá mà ta phải thiết kế các bài tập phù hợp. - Cơ sở thực tiễn: Dựa vào các ứng dụng, các quá trình sản xuất, đời sống lao động sản xuất, các hiện tượng về thiên nhiên, thực tế hàng ngày, các quy trình sản xuất, chế biến thực phẩm, bảo quản thực phẩm... - Như các bài tập hoá học khác, nếu nắm vững được sự phân loại các kiểu điển hình và các quy luật biến hoá của bài toán, giáo viên có thể biên soạn những bài tập mới bằng cách vận dụng các quy luật biến hoá. Xuất phát Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 6 từ những bài tập mẫu sơ đẳng điển hình, nội dung bài tập có thể biến đổi thành những dạng khác nhau. Có thể theo sáu cách sau: 1. Nghịch đảo giữa điều kiện (cho) và yêu cầu (tìm) 2. Phức tạp hoá điều kiện 3. Phức tạp hoá yêu cầu 4. Ghép nội dung nhiều bài toán lại với nhau 5. Phức tạp hoá cả điều kiện lẫn yêu cầu 6. Biến đổi bài tập tự luận sang bài tập trắc nghiệm khách quan và ngược lại. Nguyên tắc trên giúp ta nắm được cơ chế biến hoá nội dung bài tập theo những hướng có mức độ phức tạp, khó khăn khác nhau phù hợp với từng mục đích dạy học. - Thiết kế những bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tế về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng không quá xa rời nội dung chương trình hoá học. - Bài tập hoá học có tính chất tổng hợp kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo và gây hứng thú ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo của học sinh. Thông qua các bài tập này học sinh có thể tìm hiểu nguồn gốc các chất gây ngộ độc thực phẩm, thành phần hoá học của chúng, cũng như các chất bảo quản thực phẩm có thể gây ngộ độc thực phẩm .Từ đó học sinh có nhận thức đầy đủ hơn về hiện tượng ngộ độc thực phẩm. cách phòng chống ngộ độc thực phẩm cũng như xử lí các trường hợp ngộ độc thực phẩm, góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của bản thân với sức khỏe cộng đồng. II.3.2. Xây dựng bài tập có nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm II.3.2.1. Bài tập có kiến thức về các chất gây ngộ độc thực phẩm Bài tập 1: 3- MCPD là chất gây ung thư có trong một số loại nước tương, tên hoá học 3- monocloro propan- 1, 2- điol. CTCT của 3-MCPD là: A. CH2OH-CHCl-CH 2OH B. CH 2OH-CHOH-CH2Cl C. CH 2Cl-CHOH-CH2Cl D. CH2OH-CHCl-CH 2Cl Hướng dẫn: Từ tên gọi, học sinh sẽ chọn đáp án đúng là B Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 7 Thông qua bài tập này học sinh có thể biết được công thức hoá học của 3MCPD và trong một số loại nước tương có chất 3-MCPD gây ung thư ( trên các phương tiện truyền thông đã cảnh báo) từ đó biết cách lựa chọn những loại nước tương an toàn cho sức khỏe . Bài tập 2: Lá của cây thuốc lá có chứa một loại amin rất độc với cơ thể chất đó là: A. Côcain B. Hêroin C. Nicôtin D. Anilin Hướng dẫn: Qua bài amin, học sinh sẽ trả lời được đó là Nicôtin. Thông qua bài tập này học sinh biết được trong thuốc lá có chứa một amin rất độc hại với cơ thể. Giáo dục ý thức cho học sinh không hút thuốc lá. Bài tập 3: Thuốc diệt chuột là hoá chất độc hại, gây tử vong nếu rơi vào thực phẩm .Thành phần thuốc diệt chuột có chứa: A. Ba3P2 B.ZnSO4 C. PH3 D. Zn3P2 Hướng dẫn: Qua bài phốt pho học sinh trả lời được đó là Zn3P2 Thông qua bài tập này học sinh thấy được thuốc chuột là hoá chất rất độc hại với sức khỏe con người từ đó có ý thức sử dụng thuốc bẫy chuột một cách hợp lí tránh rơi vãi vào thực phẩm gây ngộ độc. Bài tập 4 : Phân bón , thuốc trừ sâu , thuốc kích thích sinh trưởng,...có tác dụng giúp cho cây phát triển tốt , tăng năng suất cây trồng nhưng lại có tác dụng phụ gây ra những bệnh hiểm nghèo cho con người . Sau khi bón phân đạm hoặc phun thuốc trừ sâu ,thuốc kích thích sinh trưởng cho một số loại rau ,quả ,thời hạn tối thiểu cho thu hoạch để sử dụng đảm bảo an toàn thường là : A. 1-2 ngày B. 2 - 3 ngày C .12 - 15 ngày D. 30 - 35 ngày Hướng dẫn : Đáp án C. Qua bài tập này cung cấp thêm kiến thức cho học để từ đó phổ biến cho mọi người biết cách sử dụng rau, quả an toàn nhất là sau khi bón phân , phun thuốc trừ sâu , thuốc kích thích sinh trưởng ,... Bài tập 5 : Photpho đỏ được lựa chọn để sản xuất diêm an toàn thay cho photpho trắng vì lý do nào sau đây? Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 8 A. Photpho đỏ không độc hại đối với con người. B. Photpho đỏ không dễ gây hỏa hoạn như photpho trắng. C. Photpho trắng là hóa chất độc hại. D. Cả A, B, C. Hướng dẫn: + Photpho trắng dễ bốc cháy. Photpho trắng rất độc, gây bỏng khi rơi vào da. + Photpho đỏ không độc hại.  Đáp án D. Bài tập 6: Cách bảo quản thực phẩm (thịt ,cá, ...) bằng cách nào sau đây được coi là an toàn ? A. Dùng fomon , nước đá B. Dùng phân đạm,nước đá C. Dùng nước đá và nước đá khô D. Dùng nước đá khô ,fomon Hướng dẫn: Phương án C Cách bảo quản thực phẩm ( thịt ,cá, ...) bằng cách dùng fomon , phân đạm rất độc hại với cơ thể , từ đó biết cách lựa chọn cách bảo quản thực phẩm an toàn cho sức khỏe. Bài tập 7: Nồng độ tối đa cho phép của PO43- theo tiêu chuẩn nước ăn uống của tổ chức sức khỏe thế giới là 0, 4 mg/l. Để đánh giá sự nhiễm bẩn của nước máy sinh hoạt ở một thành phố người ta lấy 2 lít nước đó cho tác dụng với dung dịch AgNO 3 dư thì thấy tạo 2, 646.10-3 (g) kết tủa. Xác định nồng độ PO43- trong nước máy và xem xét có vượt quá giới hạn cho phép không? A. 0, 6 mg/l, vượt quá giới hạn cho phép. B. 0, 3 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép. C. 0, 2 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép. D. Tất cả đều sai. Hướng dẫn: Phương trình phản ứng: 3Ag+ + PO43-  Ag3PO4   nAg 3 PO 4 = 2, 464 .10 -3 = 6, 315.10-6 (mol) 419 -6  nPO 34 = 6, 315.10 (mol) Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 9 -3  mPO 34 = 0, 6.10 (g) = 0, 6 (mg)  CPO 34 = 0, 6 = 0, 3 (mg/l) 2  Đáp án: Phương án B. Bài tập 8 : Amoni được coi là độc tố đối với cá ở nồng độ rất nhỏ 0,01 mg/l, từ 0,2 - 0,5 mg/l đã gây độc cấp tính. Amoni là một hợp phần thường thấy của các loại thuốc tẩy rửa kính, nồng độ của nó thường khá cao. Đối với các mẫu amoni loãng, có thể xác định hàm lượng amoniac trong thuốc tẩy kính bằng cách chuẩn độ amoniac - một bazơ yếu bằng axit mạnh. Lấy một mẫu nước (100ml) chuẩn độ bằng dung dịch HCl 0,02M với chỉ thị bromcresol lục, mỗi lần 20 ml, kết quả trung bình cho ta V (HCl)= 42,11 ml. Tính hàm lượng của amoniac trong thuốc tẩy kính. Xác định xem nước đó có thể dùng trong sinh hoạt được không? Biết tiêu chuẩn cho phép của NH3 trong nước là 0,5mg/l. Hướng dẫn: Phương trình chuẩn độ: NH3 + HCl  NH4Cl. Ta có phương trình: 0,02.CNH3 = 0,04211.0,02  CNH3 = 0,04211 M  Hàm lượng của NH3 trong nước là: 0,04211.17,03061 = 0,71715 (g/l) = 717,15 (mg/l) >> 0,5 mg/l. Nước bị ô nhiễm amoniac quá mức cho phép, không dùng được trong sinh hoạt Bài tập 9. Trong khói thuốc lá có 0,5 đến 1%CO, chất gây ô nhiễm môi trường, gây tác hại cho sức khỏe. Phương pháp nào sau đây dùng chứng minh điều đó? A. Cho khói thuốc qua CuO, t0. B. Cho khói thuốc qua dung dịch PdCl2. C. Cho khói thuốc qua MnO2, rồi cho sản phẩm qua nước vôi trong. D. Cho khói thuốc lá qua I2O 5. Hướng dẫn: Phương án B. Cho CO qua dung dịch PdCl2 làm đổi màu dung dịch sang đỏ thẫm do những hạt rất nhỏ của Pd tách ra trong dung dịch. Phương trình phản ứng: CO + PdCl2 + H2O  Pd + 2HCl + CO 2  Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 10 Bài tập 10: Dẫn xuất halogen có tác dụng diệt sâu bọ (trước đây được dùng nhiều trong nông nghiệp)một trong những nguyên nhân gây ngộ độc rau quả là: A. ClBrCH - CF3 B. CH 3C6H 2 (NO 2)3 C. C6H6Cl6 D. Cl2CH - CF2 - OCH 3 Hướng dẫn: Phương án C. Chất C6H 6Cl6 (666) trước đây dùng làm thuốc trừ sâu trong nông nghiệp ,nhưng do rất độc hại với cơ thể và ô nhiễm môi trường nên hiện nay đã thay thế bằng loại thuốc khác. Bài tập 11: Ancol nào mà chỉ một lượng nhỏ vào cơ thể cũng có thể gây ra mù loà, lượng lớn có thể gây tử vong (thường có trong rượu sắn) ? A.CH3OH B.C2H5OH C.CH3CH2CH2OH D.CH 3 CH(OH)CH 3 Hướng dẫn : Phương án A. Bài tập 12: Vì sao khi ăn sắn tươi và măng muối chua thường bị say nếu lượng lớn có thể dẫn đến tử vong ? Hướng dẫn: Xianua (CN) sẵn có nhiều trong sắn, măng... (liều tử vong đối với người 50-90 mg/kg). Măng chua, trong quá trình ngâm kết hợp với một số enzym trong ruột người tạo thành HCN (axit cyanhydric), gây ngộ độc cấp tính. Bài tập 13: Axit oxalic - chất chống calci thường có ở khế, me...(5g acid oxalic đủ gây tử vong cho người lớn trọng lượng 70 kg ). Công thức cấu tạo của axit oxalic là: A. CH 3COOH B. HOOC- COOH C. HCOOH D. H 2CO 3 Hướng dẫn : Đáp án B II.3.2.2. Bài tập có kiến thức về quá trình biến đổi các chất gây ngộ độc thực phẩm Bài tập 1: Sau khi làm thí nghiệm với photpho trắng, các dụng cụ đã tiếp xúc với hoá chất này cần được ngâm trong dung dịch nào để khử độc? A. HCl Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 B. NaOH 11 C. CuSO4 D. Na2CO 3 Hướng dẫn: Photpho trắng rất độc nên các dụng cụ tiếp xúc với hoá chất này cần phải khử độc: 2P + 5 CuSO 4 + 8 H2O  2H3PO 4 + 5H2SO4 + 5Cu   Phương án đúng: C. Bài tập 2: a) Thành phần của thuốc diệt chuột là Zn3P2. Nếu không quản lí được thuốc khi sử dụng, để lâu ngày trong không khí ẩm sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường do phản ứng thuỷ phân sinh ra PH 3 là chất khí không màu, mùi trứng thối. Hãy viết phương trình phản ứng xảy ra? b) Thuốc diệt chuột loại này thường có lẫn tạp chất là kẽm kim loại. Hoà tan một ít thuốc bằng dung dịch HCl dư thì thu được hỗn hợp khí có tỉ khối so với H2 bằng 15, 435. Viết phương trình phản ứng xảy ra, tính % khối lượng Zn tạp chất có trong thuốc. Hướng dẫn: a) Phản ứng thuỷ phân Zn3P2 + 6H 2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3 b) Phương trình phản ứng Zn3P 2 + 6HCl → 3 ZnCl2 + 2PH3 a(mol) Zn 2a + 2 HCl → ZnCl2 b H2 b Ta có phương trình tỷ khối => a = 4,612b + 34.2a  b  15, 435.2 2a  b => % Zn trong thuốc chuột là : 65 b 65 b 100%  100%  5, 2% 257.a  65 b 257.4, 612 b  65 b Bài tập 3: Melamin có công thức C3N3(NH2)3. Đưa melamin vào thực phẩm nhằm mục đích gì ? Nêu một số tác hại mà melamin gây nên ? Hướng dẫn: Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 12 Trong công thức melamin có 66% là nitơ. Đưa melamin vào thực phẩm thì khi kiểm nghiệm sẽ cho chỉ số nitơ toàn phần cao làm cho người ta hiểu lầm là lượng đạm cao nhưng đây chỉ là lượng đạm cao “giả” (vì nitơ trong melamin không có tính dinh dưỡng như nitơ trong protein thật). Có hai cách đưa melamin vào thực phẩm: + Trộn melamin vào các bột gạo protein (có tiêu chuẩn hàm lượng protein cao, gọi là gluten) để làm thức ăn cho chó mèo, gia súc (phát hiện tháng 4-2007 tại Mỹ). + Cho melamin vào nước, tạo ra một hỗn dịch giống sữa, rồi trộn với sữa tươi sẽ làm tăng lượng sữa tươi lên, rồi đem bán cho nhà máy sản xuất sữa bột. Melamin có trong sữa bột sẽ làm tăng cân nặng của sữa bột (phát hiện năm 2008, tại Trung Quốc). Có rất ít công trình nghiên cứu về độc hại của melamin. Với người: Trẻ em chức năng thận còn chưa hoàn chỉnh, melamin sẽ làm cho trẻ em bị sỏi thận và có thể tử vong (nếu trẻ quá nhỏ và melamin tích tụ nhiều). Người lớn ít bị độc hơn trẻ nhưng cũng có thể phá hủy bộ máy sinh sản, gây suy thận, sỏi thận. Bài tập 4 : Khi làm các thí nghiệm giữa HNO 3 đặc nóng với Fe, Cu, P, S cần tiến hành như thế nào để đảm bảo an toàn thí nghiệm và không ảnh hưởng đến môi trường? Viết phương trình phản ứng xảy ra. Hướng dẫn : Khi làm các thí nghiệm trên cần lấy lượng hoá chất cần thiết không quá 1/3 ống nghiệm, phản ứng có khí độc thoát ra cần làm ở trong tủ hút hoặc nơi thoáng khí, trên miệng ống nghiệm cần nút bông tẩm dung dịch kiềm NaOH, xử lí sản phẩm sau phản ứng trước khi thải: trung hoà axit sau phản ứng H3PO4, đổ bỏ đúng nơi quy định. Phương trình phản ứng: 0 t M + 2nHNO3 đặc   M (NO3)n + nNO2  + nH 2O 0 t P + 5HNO3 đặc   H3PO4 + 5NO2  + H 2O 0 t S + 4HNO3 đặc   SO2  + 4NO 2  + 2H 2O Khí sinh ra bị hấp thụ bởi dung dịch kiềm theo phương trình: Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 13 2NO 2 + 2NaOH  NaNO2 + NaNO3 + H 2O SO2 + 2NaOH  Na2SO3 + H2O Bài tập 5: Cây trồng hấp thu hiệu quả lượng chất dinh dưỡng từ phân bón thì tránh được sự dư thừa trong đất gây ô nhiễm và ngộ độc rau quả. Bón phân đúng thời điểm làm tăng hiệu quả hấp thu của cây trồng. Thời điểm nào sau đây là thích hợp để bón phân ure cho lúa? A. Buổi sáng sớm. B. Buổi trưa nắng. C. Buổi chiều vẫn còn ánh nắng. D. Buổi chiều tối, mặt trời vừa lặn. Hướng dẫn: Cây hấp thụ đạm ure dưới dạng ion NH4+ và đạm dễ phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời. Vì thế, muốn bón đạm cho lúa thì cần có nước và nhiệt độ thích hợp nên phải bón đạm lúc chiều tối khi tắt ánh sáng mặt trời, đêm sương xuống cây sẽ hấp thụ đạm tốt. (NH2)2CO + H2O  (NH4)2CO3 (NH4)2CO3  2NH4+ + CO32Bón buổi sáng sớm sương còn đọng trên lá khi đó cây chưa hấp thụ đạm được nhiều thì ánh sáng mặt trời phân huỷ một lượng đạm đáng kể. Còn buổi tưa nắng hoặc chiều vẫn còn ánh nắng thì đạm bị phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời và cây bị héo. Bài tập 6: Khi bón phân vô cơ hoặc phân chuồng có thể gây ô nhiễm môi trường và ngộ độc các loại rau quả vì: A. Tích luỹ các chất độc hại, thậm chí nguy hiểm cho đất do phân để lại. B. Tăng nồng độ các chất, làm có tác dụng xấu đến việc cung cấp oxi C. Tích luỹ nitrat trong nước ngầm làm giảm chất lượng của nước uống. D. Làm tăng lượng NH 3 không mong muốn trong khí quyển và lượng N2O do quá trình nitrat hoá phân đạm dư hoặc bón không đúng chỗ. E. Tất cả các trường hợp trên. Hướng dẫn : Phương án E Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 14 II.3.2.3. Bài tập có kiến thức chất bảo quản thực phẩm Bài tập 1: Nước đá “ khô ” không nóng chảy mà thăng hoa nên thường dùng để tạo môi trường lạnh và khô thuận tiện cho việc bảo quản thực phẩm. Nước đá khô là: A. CO rắn B. H 2O rắn C. SO2 rắn D. CO2 rắn Hướng dẫn: Nước đá khô là CO 2 chọn đáp án D. Bài tập 2: Urê là loại hóa chất không được phép sử dụng bảo quản thực phẩm. Với hàm lượng nhỏ, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm và nếu tích lũy lâu ngày dẽ gây ra ung thư. a. Viết phương trình phản ứng điều chế urê trong công nghiệp ? b. Vì sao urê lại được sử dụng làm chất bảo quản thực phẩm? Hướng dẫn: a. Phản ứng điều chế urê trong công nghiệp NH3 + CO2 - (NH2)2CO b. Khi urê hòa tan trong nước, nó thu một lượng nhiệt khá lớn, vì vậy làm lạnh môi trường xung quanh (sự hòa tan thu nhiệt), nhờ vậy ngăn cản khả năng hoạt động của vi sinh vật. Một số người buôn bán đã lợi dụng tính chất này để bảo quản thịt, cá được tươi lâu Bài tập 3: Trong nước mắm với hàm lượng urê quá mức cho phép sẽ gây ngộ độc thực phẩm. Người ta cho thêm urê vào nước mắm với mục đích gì ? A. Tăng độ đạm C. Tạo màu B. Bảo quản nước mắm D. Tăng thể tích Hướng dẫn : do chứa hàm lượng nitơ cao nên người ta cho thêm urê vào để tăng độ đạm ( tương tự cho melamin vào nước mắm) Bài tập 4: Trong kỹ nghệ, sodium benzoate là một hóa chất dùng để bảo quản thực phẩm để khỏi bị hư và có tính chống mốc. Hóa chất này sẽ giúp thực phẩm không bị đổi màu, giữ mùi nguyên thủy, và sau cùng bảo quản các thành phần cấu tạo sản phẩm cũng như không làm biến dạng. Tuy nhiên thực tế chất bảo quản này thường gây ngộ độc thực phẩm. Hãy xác định công thức hóa học của sodium benzoate và giải thích vì sao chất này lại gây độc cho thực phẩm? Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 15 Hướng dẫn: + Công thức hoá học của sodium benzoate là Na O-C6H5. + Vì sodium benzoate được điều chế từ phênol nên thường có lẫn phênnol do đó gây ngộ độc. Bài tập 5: Như diêm tiêu, thường được dùng trong việc chế biến các sản phẩm thịt như lạp xưởng, xúc xích, jambon nhằm duy trì màu đỏ. Chỉ cần vượt quá giới hạn cho phép, nó đã trở thành một nguyên nhân tiềm tàng gây bệnh ung thư. Cho biết công thức hoá học của diêm tiêu: A. KNO3 B. KClO3 C. KNO 2 D. HNO3 Hướng dẫn: Đáp án A. Bài tập 6: Chất nào được dùng làm bột nở khi làm bánh (với hàm lượng cho phép): A. (NH4)2CO3 B. Na2CO3 C. NH4HCO 3 D. NaHCO3 Hướng dẫn: Đáp án D. II.3.2.4. Bài tập về cách xử lí chất gây ngộ độc thực phẩm Bài tập 1: Để loại bỏ ion amoni trong nước thải, trước tiên người ta phải kiềm hóa dung dịch nước thải bằng natri hidroxit đến pH = 11, sau đó cho chảy từ trên xuống trong một tháp được nạp đầy các vòng đệm bằng sứ, còn không khí được thổi ngược từ dưới lên. Phương pháp này loại bỏ khoảng 95% lượng amoni trong nước thải. a) Giải thích cách loại bỏ amoni nói trên, viết các PTHH? b) Kết quả phân tích 2 mẫu nước thải ban đầu được xác định như sau Mẫu nước thải Tiêu chuẩn hàm lượng amoni cho phép (mg/l) Hàm lượng amoni trong nước thải (mg/l) Nhà máy phân đạm 1, 0 18 Bãi chôn lấp rác 1, 0 160 Sau khi được xử lý theo phương pháp trên thì 2 mẫu nước đó đã đạt tiêu chuẩn để thải ra môi trường chưa? Hướng dẫn: Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 16 a) Kiềm hóa amoni để chuyển thành amoniac, sau đó oxi hóa bằng oxi không khí. Phương pháp ngược dòng và các đệm sứ nhằm mục đích tăng diện tích tiếp xúc giữa amoniac với oxi không khí. NH4+ + OH-  NH3 + H 2O (1) 4NH 3 + 3O2  2N2 + 6H2O (2) b) Phương pháp xử lý trên loại bỏ 95% amoni. Lượng amoni còn lại là: Loại nước thải ở nhà máy phân đạm: 18.5% = 0, 9 (mg/l) < 1,0 (mg/l): đạt tiêu chuẩn cho phép. Loại nước thải ở bãi chôn lấp rác: 160.5% = 8 (mg/l) > 1,0 (mg/l): chưa đạt tiêu chuẩn cho phép Bài tập 2: Nêu phương pháp để loại bỏ một lượng lớn khí SO2, NO2, HF trong khí thải công nghiệp? Hướng dẫn: Dùng nước vôi trong dẫn khí thải qua bể nước vôi trong, khí độc sẽ bị giữ lại. Do: SO2 + Ca (OH)2  CaSO3 + H 2O. 4NO 2 + 2Ca (OH)2  Ca (NO2)2 + Ca (NO3)2 + 2H 2O 2HF + Ca (OH)2  CaF2 + 2H2O Bài tập 3: Trong các nhà máy sản xuất rượu bia, nước ngọt, nươc là nguyên liệu quan trọng, chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nước khử trùng bằng Clo thường có mùi khó chịu. Do vậy các nhà máy đã sử dụng phương pháp khử trùng nước bằng ozôn để không có mùi lạ. Ozôn được bơm vào nước với hàm lượng 0, 5 - 5g/m3. a. Vì sao ozôn có tính sát trùng? b. Tính khối lượng ozôn cần dùng để khử trung lượng nước đủ sản xuất 400 l rượu (để sản xuất một lít rượu cần 5 l nước). Hướng dẫn: a. Vì ozôn có tính oxi hoá mạnh nên có khả năng sát trùng. b. VH2O = 5.400 = 2000 l = 2 m3 Khối lượng ozôn cần dùng: (2.0, 5)g Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 17 Bài tập 4: Hơi Brôm rất độc, Brôm rơi vào da sẽ gây bỏng nặng rơi vào thực phẩm có thể gây ngộ độc thực phẩm. Vì vậy, nếu hít phải hơi Brôm có thể cho người đó hít một trong các dung dịch nào sau đây: A. NaOH đậm đặc B. NH3 loãng C. HCl D. NaOH loãng Bài tập 5: Hơi thủy ngân rất độc và có thể gây ngộ độc thực phẩm, do đó phải thu hồi thủy ngân rơi vãi bằng cách: A. Nhỏ nước brom lên giọt thủy ngân. B. Nhỏ nước ozon lên giọt thủy ngân. C. Rắc bột lưu huỳnh lên giọt thủy ngân. D. Rắc bột photpho lên giọt thủy ngân. Hướng dẫn: : Đáp án C vì thuỷ ngân có thể tác dụng với lưu huỳnh ngay ở nhiệt độ thường: Hg + S - HgS. Bài tập 6: Photpho trắng là chất độc có thể gây ngộ độc thực phẩm, phốt pho trắng được bảo quản bằng cách ngâm trong: A. dầu hoả B. nước C. benzen D. ete Hướng dẫn : Đáp án A. Bài tập 7: Những người đau dạ dày do dư axit người ta thường uống trước bữa một loại thuốc chứa chất nào trong các chất sau: A. (NH4)2CO 3 B.Na2CO3 C. NH4HCO 3 D.NaHCO 3 Hướng dẫn : Đáp án D. Bài tập 8: Cách tốt nhất để làm sạch không khí trong phòng thí nghiệm có lẫn lượng lớn khí clo là: A. Phun nước B. Phun dung dịch Ca(OH)2 C. Phun khí NH3 D. Phun khí H2 (vào không khí trong phòng thí nghiệm đó). Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 18 Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, để đưa chất lượng giáo dục nước nhà lên một tầm cao mới , tiến đến ngang tầm với nền giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới . Để làm được điều đó thì ngoài đổi mới chương trình sách giáo khoa , đổi mới kiểm tra đánh giá , đổi mới phương pháp dạy học và phải có sự nỗ lực cố gắng của toàn ngành giáo dục... Đối với mỗi giáo viên muốn nâng cao được chất lượng giảng dạy và tạo được sự say mê hứng thú cho học sinh thì ngoài việc cần phải kiên trì, tâm huyết, say mê, sáng tạo, nghiên cứu tài liệu, tiếp cận công nghệ thông tin để tìm hiểu , vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học để có những bài giảng thu hút thì cần phải thường xuyên liên hệ các bài học với thực tiễn cuộc sống , để làm cho bài học thêm sinh động hơn ,giúp học sinh có những hiểu biết và có kiến thức toàn diện hơn ,đặc biệt là những môn học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn cuộc sống như môn hoá học, nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy. III.1. Những việc đã hoàn thành của đề tài Dựa vào mục đích, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu, trong quá trình hoàn thành đề tài “ giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua bài tập hoá học trong chương trình hoá học bậc THPT ”, đã thực hiện được những nhiệm vụ sau: - Xây dựng và sưu tầm hệ thống bài tập trong chương trình hoá học THPT có nội dung liên quan đến giáo duc vệ sinh an toàn thực phẩm, định hướng cách giải theo hướng phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng phân tích các hiện tượng hoá học và nắm vững kiến thức cơ bản trong chương trình hoá học trung học phổ thông. - Đã tiến hành dạy cho học sinh ở các khối lớp 11,12 trong một số tiết tự chọn và ngoại khoá và rút ra các kết luận sau: III.2. Các kết luận Hệ thống bài tập đưa ra đã đáp ứng được mục đích nghiên cứu sau : - Đã giúp học sinh nắm chắc kiến thức lý thuyết , phát triển tư duy sáng tạo. Sáng kiến kinh nghiệm năm 2014 19
- Xem thêm -