Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở tây nguyên hiện nay

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

V LUẬN VĂN: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong sự nghiệp đổi mới, nhất là trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, từng bước vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, khai thác và sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng về thể chất và trí tuệ, mọi khả năng sáng tạo của từng người và của toàn thể cộng đồng dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đặc biệt là việc bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực trẻ lại càng có ý nghĩa quan trọng, vì nó sẽ quyết định mức độ thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta, quyết định chúng ta có đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hay không. Đồng thời, đây cũng là sự chuẩn bị về mọi mặt cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ XXI một cách vững chắc, tự tin, sánh vai cùng với tuổi trẻ trên thế giới. Đại hội X của Đảng xác định rõ: “Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đội ngũ sinh viên là một trong những bộ phận quan trọng của thế hệ trẻ đất nước ta hiện nay. Sinh viên chính là những người lao động có trình độ cao trong tương lai, là nguồn lực chủ yếu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Hiện nay, số lượng sinh viên ở Tây Nguyên là khá lớn. Bồi dưỡng, giáo dục cho họ khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, những kiến thức về mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan phù hợp với yêu cầu chung của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Trong bối cảnh kinh tế, chính trị trên thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, trên địa bàn Tây Nguyên các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Đảng và Nhà nước ta với nhiều thủ đoạn, âm mưu nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lôi kéo và tha hoá thế hệ trẻ, nhằm làm cho thế hệ trẻ bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời nền kinh tế thị trường cũng có nhiều tác động tiêu cực đối với sinh viên. Điển hình là các biểu hiện của lối sống thực dụng, tâm lý trông chờ vào may rủi, một bộ phận đang chịu ảnh hưởng thế giới quan tôn giáo, duy tâm… Thực tế ở Tây Nguyên đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ sinh viên có lối sống mơ hồ về chính trị, phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thậm chí suy thoái về đạo đức… và, họ đang bị các thế lực phản động kích động, lôi kéo. Điều tai hại là, với “hành trang” tư duy ấy, đang tiềm tàng trong họ những triển vọng không đáng mong đợi của những người mang vị thế chủ nhân tương lai của đất nước. Xây dựng một thế giới quan khoa học cho sinh viên là nhiệm vụ chiến lược trong quá trình giáo dục đội ngũ lao động dự bị và cũng là những chủ nhân tương lai của dân tộc, theo đó, lại là công việc vô cùng cần thiết. Chính vì vậy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho của đội ngũ sinh viên ở Tây Nguyên là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài Vấn đề thế giới quan duy vật biện chứng ở nước ta từ trước đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu. Chẳng hạn, Bùi Ngọc có bài viết “Thế giới quan khoa học một tất yếu lịch sử”, đăng ở Tạp chí thông tin khoa học xã hội, 1981, số 8. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích sự hình thành và phát triển của thế giới quan khoa học là một tất yếu lịch sử. Ở một góc độ khác, Lê Xuân Vũ khẳng định “Thế giới quan Mác - Lênin trong đời sống tinh thần của nhân dân ta”, Tạp chí Cộng sản, 186, số 6. Trong đó tác giả đã có sự lý giải khá thuyết phục tầm quan trọng của thế giới quan Mác - Lênin trong đời sống xã hội Việt Nam. Hay như tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn đã tiếp cận vấn đề thế giới từ khía cạnh sinh học, trong bài “Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiện đại đối với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học”, đăng ở Tạp chí Triết học 1988, số 3. Ngoài một số bài viết trên, còn có một số luận án và luận văn cũng nghiên cứu vấn đề thế giới quan. Bùi Ỉnh đã nghiên cứu “Vấn đề xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng đối với cán bộ đảng viên là người dân tộc thiểu số trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1988. Còn Trần Thước tập trung nghiên cứu thế giới quan của riêng đội ngũ trí thức: “Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức ở Việt Nam”, Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993. Trần Thanh Hà, Trần Viết Quân, Nguyễn Thị Luyến... tập trung nghiên cứu thế giới quan của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một khu vực nhất định. Nếu Trần Thanh Hà nghiên cứu “Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ đảng viên người dân tộc Kh’mer ở Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993, thì Trần Viết Quân lại đi sâu tìm hiểu vấn đề “Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002. Còn Nguyễn Thị Luyến và Bùi Kiến Thưởng lại tìm đến đối tượng là sinh viên hay học viên, như “Vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Đại học, Cao Đẳng ở Hà Nội hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 của Nguyễn Thị Luyến. Hay“Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học viên trường chính trị tỉnh Hà Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học của Bùi Kiến Thưởng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004. Tất cả những tác giả trên đã đề cập đến: - Khái niệm thế giới quan nói chung, thế giới quan khoa học nói riêng, cấu trúc và chức năng của thế giới quan. - Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho các đối tượng như: sinh viên, học viên, cán bộ nói chung trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. - Nêu ra những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác động phát triển thế giới quan duy vật biện chứng. - Đưa ra một số giải pháp cụ thể và những quan điểm nhằm bồi dưỡng và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho một số đối tượng cụ thể. Riêng vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện chưa có tác giả nào bàn tới. Xuất phát từ tình hình thực tế biểu hiện thế giới quan của sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng ở Tây Nguyên, từ tầm quan trọng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng đối với thế hệ trẻ và đối với đội ngũ sinh viên, với mong muốn đóng góp một phần vào sự nghiệp bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước, tôi chọn đề tài: “Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay”. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích của luận văn Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc giáo dục thế giới duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay, tác giả luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho tầng lớp này. 3.2. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn tập trung làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu sau: - Phân tích vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng; xác định những nhân tố tác động đến thế giới quan và quá trình giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên. - Làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra trong quá trình giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình này cho sinh viên Tây Nguyên. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực trạng và bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên các trường Đại học, Cao Đẳng ở Tây Nguyên trong giai đoạn 10 năm gần đây (2000 - 2009) từ góc độ triết học. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục thế giới quan, nhận thức luận…cho thế hệ trẻ và sinh viên, tác giả kế thừa những thành tựu lý luận của các tác giả về những vấn đề có liên quan đến đề tài. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học… 6. Những đóng góp về khoa học của luận văn - Luận văn góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên. - Đánh giá đúng thực trạng và bước đầu đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho họ. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Luận văn góp phần làm sáng tỏ những cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên. - Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giáo dục - đào tạo ở các trường Đại học, Cao Đẳng. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. Chương 1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY 1.1. THẾ GIỚI QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG 1.1.1. Thế giới quan Do yêu cầu tự nhiên và tất yếu của cuộc sống, con người không chỉ thích nghi với hoàn cảnh bên ngoài một cách thụ động mà luôn luôn phải tìm cách biến đổi nó nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình. Để đạt được mục đích đó, con người nảy sinh nhu cầu tìm hiểu giới tự nhiên cũng như chính bản thân mình. Từ đó một loạt vấn đề xuất hiện: Thế giới quanh ta là gì? Bản chất của nó ra sao? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó? Con người là gì? Con người có vị trí như thế nào trong thế giới đó? Cuộc sống con người có ý nghĩa gì?... Trả lời những câu hỏi này sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niệm nhất định về thế giới, về vị trí con người trong thế giới ấy. Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan của con người. Thế giới quan xuất hiện từ thời nguyên thuỷ, song với tư cách là một khái niệm khoa học thì được nghiên cứu và xuất hiện vào thế kỷ XVIII, do Kant - nhà triết học cổ điển Đức nêu ra. Các nhà triết học người Đức nửa đầu thế kỷ XIX và các nhà triết học sau này đã tiếp tục sử dụng khái niệm trên trong các học thuyết của mình. Tiếp nối truyền thống đó, C.Mác và Ph.Ăngghen, đã kế thừa và phát triển thành một thế giới quan khoa học trên lập trường duy vật biện chứng. Khái niệm thế giới quan hiện nay đã được nhiều nhà khoa học đương đại nghiên cứu và tiếp cận ở nhiều cấp độ và đưa ra các định nghĩa khác nhau. Trong Từ điển Triết học, các nhà khoa học Liên Xô đưa ra định nghĩa thế giới quan là: “toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại”[56, tr.539]. Theo một tác giả khác, thế giới quan là “một hệ thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề cội nguồn của thế giới và nguồn gốc của tri thức, về vị trí của con người trong thế giới, về ý nghĩa của cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội”[25, tr.42]. Hay một quan niệm khác: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể về thế giới, về những hiện tượng về tự nhiên và xã hội và các quy luật phát triển của chúng, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới. Nói một cách khác, thế giới quan là phản ánh tồn tại vật chất và xã hội của con người [53, tr.10]. Từ những quan điểm về thế giới quan ở trên chúng tôi quan niệm rằng: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống con người và loài người trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Trên cơ sở đó, thế giới quan định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo thế giới của họ, điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống hàng ngày. Hiểu thế giới quan với nghĩa như vậy là bao hàm cả nhân sinh quan, tức là toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người và loài người. Thế giới quan hình thành trên cơ sở những hiểu biết của con người về tự nhiên, về xã hội và về chính bản thân con người. Như vậy, có thể khẳng định rằng thế giới quan là lập trường sống của chủ thể. Bởi vì, nếu được trang bị thế giới quan đúng đắn và khoa học sẽ giúp chủ thể có lập trường vững vàng trước những biến động của cuộc sống, trước những tác động của những tư tưởng khác biệt hoặc đối lập. Cũng theo cách hiểu thế giới quan như trên, thì thế giới quan gồm có thế giới quan cá nhân, thế giới quan giai cấp và thế giới quan xã hội. Thế giới quan cá nhân là những kinh nghiệm sống, những tri thức của cá nhân nhất định về tự nhiên, xã hội và con người xung quanh. Tri thức tích luỹ được giúp cá nhân có lập trường để bảo vệ những quan điểm của riêng mình. Tri thức và niềm tin của mỗi người được phát triển đến một mức độ nào đó sẽ tạo nên lý tưởng sống của người đó. Như vậy, sự hình thành thế giới quan cá nhân là một quá trình lâu dài và phụ thuộc nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khác nhau. Chẳng hạn như: trình độ hiểu biết của từng người, chế độ xã hội, địa bàn sinh sống, điều kiện vật chất và tinh thần của cá nhân, và nhất là yếu tố giáo dục. Chính vì vậy, phẩm chất của thế giới quan cá nhân có thể thể thay đổi theo những yếu tố và điều kiện đó. Do đó, việc giáo dục thế giới quan đúng đắn, khoa học cho cá nhân là rất cần thiết cho một xã hội tiến bộ. Thế giới quan giai cấp là hệ thống những quan điểm của một giai cấp về thế giới, về con người và về vị trí, vai trò, lợi ích của giai cấp ấy, nó phản ánh vị thế (tiến bộ hay lạc hậu) của giai cấp đó trong tiến trình của lịch sử. Thế giới quan xã hội là hệ thống những quan điểm về thế giới, về vị trí con người trong thế giới được xây dựng trên những phạm trù, nguyên lý; được trình bày trong học thuyết của giai cấp thống trị trong đó lợi ích của giai cấp thống trị “được trình bày như đại diện cho lợi ích của toàn xã hội”. Thế giới quan xã hội do các nhà tư tưởng, các nhà lý luận xây dựng nên, nó có thể khoa học, có thể không khoa học. Điều này phải được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh là khoa học hay không. Về kết cấu (cấu trúc) của thế giới quan thường bao gồm những yếu tố sau: - Tri thức: cũng giống như mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người nhưng không phải mọi tri thức đều là tri thức về thế giới quan. Mà chỉ là những tri thức nào biểu thị quan điểm chung về tồn tại và về nhận thức mới là những tri thức về thế giới quan. Trong nội dung tri thức về thế giới quan thì những tri thức triết học đóng vai trò nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó. - Niềm tin: niềm tin là một động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người, nó được phát triển trên cơ sở tri thức. Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt, nó có vai trò to lớn trong hoạt động của con người. Nếu con người làm một việc gì đó, mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức, của tư tưởng thì con người sẽ bị tước mất những rung động ý chí, khát vọng, nghị lực, lòng nhiệt tình, sự cổ vũ cần thiết đối với công việc, đặc biệt là đối với những công việc xã hội rộng lớn. Niềm tin giúp con người có nghị lực để có thể vượt qua được những giây phút hiểm nghèo và dám hy sinh vì những mục đích cao cả. Như vậy, niềm tin được xác lập trên cơ sở của tri thức khoa học sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. - Lý tưởng: đó là sự kết hợp niềm tin và tri thức vào một tiêu chí, hình mẫu, sự hoàn thiện, mục tiêu tối cao của ý nguyện và hoạt động thực tiễn, mô hình tuyệt vời trong thực tế đối với một cá nhân, một nhóm người hay một xã hội. Lý tưởng giúp con người định hình được cuộc sống, sống có mục đích, có khát vọng. Như vậy, trong ba yếu tố cấu thành thế giới quan, tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trở thành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của họ và sự hình thành lý tưởng là sự phát triển ở trình độ cao của thế giới quan. Trong lịch sử phát triển của xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau, nhưng tập trung ở ba hình thức chủ yếu: thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học. Thế giới quan thần thoại: là những quan niệm sơ khai về thế giới của người nguyên thuỷ. Nó là kết quả của những cảm xúc ban đầu của người nguyên thuỷ về thế giới và con người mà trong đó có sự hoà quyện giữa cái có thật và cái hoang tưởng, cái hiện thực và cái hư ảo, cái lý trí và cái tín ngưỡng, tư duy và cảm xúc… Thế giới quan tôn giáo: là sự phản ánh một cách hư ảo hiện thực. Nó xuất phát trong bối cảnh trình độ nhận thức và thực tiễn của con người còn thấp kém, khi con người bất lực hoàn toàn trước sức mạnh “thần thánh” của tự nhiên (sấm sét, bão lụt, động đất, thú dữ, hạn hán…) và sức mạnh “thần bí” của xã hội (bệnh tật, nỗi khổ cực, áp bức, thống trị…). Trong điều kiện đó, con người đã thần thánh hoá các lực lượng tự nhiên và các thế lực xã hội, gán cho chúng một sức mạnh siêu nhiên. Có thể nói rằng, đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là ở “niềm tin sợ hãi” của con người vào sự tồn tại và sức mạnh siêu nhiên của thần thánh. Đồng thời, là sự bày tỏ nguyện vọng được giải thoát khỏi những khổ đau để vươn tới hạnh phúc vĩnh hằng. Yếu tố nền tảng trong thế giới quan tôn giáo là niềm tin tôn giáo, bao gồm cả niềm tin vào khả năng đạt tới cuộc sống tốt đẹp. Thế giới quan triết học: là trình độ cao của thế giới quan. Nó ra đời trên cơ sở trình độ nhận thức của con người đã đạt đến sự khái quát hoá, trừu tượng hoá. Hơn nữa, thế giới quan triết học thường được các lực lượng xã hội sử dụng để truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp mình. Thế giới quan triết học diễn tả những vấn đề của thế giới bằng hệ thống lý luận các khái niệm, phạm trù, quy luật. Nó không chỉ trình bày các quan điểm của mình, mà còn luận chứng cho các quan điểm ấy bằng lý tính và những cơ sở khoa học nhất định. Khi phân biệt thế giới quan triết học với các thế giới quan khác C.Mác viết: Các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí; các vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo, các vị hứa hẹn thiên đường và toàn bộ thế giới, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tín ngưỡng của các vị, triết học không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệm những hoài nghi; các vị doạ dẫm, triết học an ủi. Và, thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để hiểu rằng những kết luận của nó không bao dung sự khao khát hưởng lạc và lòng vị kỷ - của cả thiên giới lẫn thế giới trần tục [32, tr.416]. Có thể chia thế giới quan triết học thành thế quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy tâm thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần, vai trò quyết định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới nói chung, bao gồm tự nhiên, xã hội và con người. Thế giới quan duy tâm bao gồm thế giới quan duy tâm khách quan và thế giới quan duy tâm chủ quan. Thế giới quan duy tâm khách quan coi cơ sở của thế giới vật chất là thế giới tinh thần đã có trước và sinh ra thế giới các sự vật, hiện tượng. Còn thế giới quan duy tâm chủ quan thì tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, coi nó là cơ sở để tạo nên mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí của con người trong cuộc sống hiện thực. Thế giới quan duy vật gồm thế giới quan duy vật thời cổ đại, thế giới quan siêu hình và đỉnh cao là thế giới quan duy vật biện chứng. Như vậy, thế giới quan triết học là thế giới quan có trình độ cao nhất trong các nấc thang của thế giới quan. Bởi tri thức triết học mang tính khái quát cao và triết học là hệ thống những quan điểm chung nhất của con người về thế giới và về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó. 1.1.2. Thế giới quan duy vật biện chứng Thế giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của thế giới quan triết học và cũng là đỉnh cao của thế giới quan đã có trong lịch sử. Có thể khẳng định rằng: Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống những quan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã hội và con người cùng những định hướng giá trị của con người mang giá trị hiện thực trong mối quan hệ, vận động, biến đổi và phát triển. Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan của giai cấp công nhân, đó là thế giới quan có sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học. Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó không chỉ cắt nghĩa sự tồn tại, vận động của thế giới từ các yếu tố vật chất, mà còn thấy sự đa dạng, phong phú của thế giới vật chất và mối quan hệ của bản thân thế giới đó cũng như sự vận động, biến đổi không ngừng của nó. Do đó, thế giới quan duy vật biện chứng nhìn nhận thế giới khách quan một cách thực sự khoa học nhất. Nó là sự kế thừa nền tảng tri thức của nhân loại tiến bộ. Tri thức của thế giới quan duy vật biện chứng là sự khái quát hoá cao của tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học tư duy trong quá trình vận động và phát triển của tri thức nhân loại. Tính cách mạng thể hiện ở chỗ, thế giới quan duy vật biện chứng không thừa nhận bất cứ một cái gì là tuyệt đích, cuối cùng. Nó thừa nhận sự phát triển như một nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan; chống lại mọi sự bảo thủ, trì trệ, ngưng đọng từ tư duy cho đến hành động. Vì vậy nó tạo ra tinh thần cách mạng trong con người, tạo ra ý thức cải biến thế giới khách quan để phục vụ cuộc sống của con người. Thế giới quan duy vật biện chứng không thoả hiệp với bất kỳ một tư tưởng phản khoa học nào. Nó có tính phê phán, tính chiến đấu cao để cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới. Do đó, thế giới quan duy vật biện chứng không chỉ giúp con người khám phá và giải thích thế giới mà con giúp con người tìm ra cách cải tạo thế giới. Thế giới quan duy vật biện chứng gồm ba yếu tố cơ bản quan hệ hữu cơ với nhau: đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng cách mạng. Những tri thức của thế giới quan duy vật biện chứng là những tri thức khác nhau và khái quát các hoạt động thực tiễn của con người. Tri thức trong thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những tri thức đó góp phần định hướng cho con người trong hoạt động cải tạo hiện thực. Trong đó, những tri thức của Triết học Mác - Lênin đóng vai trò nền tảng, là hạt nhân lý luận của thế giới quan duy vật biện chứng. Bởi vì: - Triết học Mác - Lênin giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên cơ sở thực tiễn. Theo chủ nghĩa duy vật mác-xít, một mặt, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất suy cho cùng quyết định ý thức; mặt khác, ý thức cũng tác động trở lại đối với vật chất. Ý thức phản ánh hiện thực không chỉ trong quá trình hiện thực tác động một cách giản đơn lên nó mà điều quan trọng là phản ánh trong quá trình con người cải tạo, biến đổi hiện thực. Đây là quan hệ tác động hai chiều trên cơ sở thực tiễn. Cái vật chất muốn được “di chuyển và cải biến trong bộ óc” phải thông qua hoạt động thực tiễn. Trái lại, ý thức muốn tác động vào thế giới vật chất để làm biến đổi nó thì cũng phải thông qua hoạt động thực tiễn. Nhờ có hoạt động thực tiễn mới biến những chương trình, kế hoạch của con người thành hiện thực vật chất. Bằng hoạt động thực tiễn con người cải biến sự vật trong hiện thực, từ đó cải biến sự vật trong tư tưởng. Như vậy, thực tiễn trở thành khâu trung gian giữa cái vật chất và cái tinh thần. - Triết học Mác - Lênin là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng. Bởi triết học trước Mác, chủ nghĩa duy vật thường tách rời phép biện chứng. Điều này thể hiện rõ nhất ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII. Mặt khác, phép biện chứng lại được chủ nghĩa duy tâm phát triển, nhất là trong triết học Hêghen. Vì vậy để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ và phép biện chứng duy tâm, từ đó tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan và phương pháp luận, giữa lý luận và phương pháp, giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng. Như vậy, chủ nghĩa duy vật mác-xít là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biện chứng mác-xít là phép biện chứng duy vật. - Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật triệt để. Bởi thiếu sót lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác là tính chất duy vật không triệt để, tức duy vật trong tự nhiên nhưng lại duy tâm trong xã hội. Khi nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa duy vật, Mác đã mở rộng học thuyết nhận thức tự nhiên đến nhận thức xã hội loài người, và ông đã khắc phục được thiếu sót trên, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Với quan niệm duy vật về lịch sử của Mác, loài người tiến bộ đã có một công cụ vĩ đại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới. - Triết học Mác - Lênin là thế giới quan của giai cấp công nhân, nhưng lợi ích của giai cấp công nhân lại phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động. Cho nên sự ra đời của triết học Mác, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có được một thế giới quan thực sự của mình. Đó là thế giới quan cách mạng và khoa học, là vũ khí tư tưởng trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi áp bức bóc lột. Về tri thức khoa học, cho đến nay toàn bộ tri thức khoa học mà nhân loại đạt được vẫn chỉ chứng minh một điều: trong vũ trụ không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang vận động. Vật chất thể hiện dưới nhiều hình thức, muôn hình, muôn vẻ, nhưng suy cho cùng là thực tại khách quan, tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người. Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Ý thức suy cho cùng cũng chỉ là một thuộc tính đặc biệt của một dạng vật chất có tổ chức cao, đó là bộ óc con người và chỉ là sản phẩm duy nhất của bộ óc người. Như vậy, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất, đó là thế giới vật chất. Nó tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận, không được sinh ra và không bị mất đi. Điều này đã minh chứng rằng những tri thức của triết học mác-xít vẫn là hạt nhân của thế giới quan khoa học hiện đại - thế giới quan duy vật biện chứng. Yếu tố cơ bản thứ hai của thế giới quan duy vật biện chứng là niềm tin khoa học, đó là niềm tin có cơ sở từ những tri thức khoa học và gắn kết giữa tri thức khoa học với hoạt động thực tiễn. Niềm tin khoa học giúp con người tin tưởng vào những hành động hướng tới chân lý, xác định những mục tiêu cao cả để vươn tới. Yếu tố thứ ba trong cấu trúc thế giới quan duy vật biện chứng là lý tưởng cách mạng. Lý tưởng cách mạng trong thế giới quan duy vật biện chứng là sự kết hợp giữa tri thức khoa học và niềm tin khoa học. Đó là lý tưởng cao đẹp. Nó vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa là động lực thôi thúc con người hành động, thiếu lý tưởng con người cảm thấy mất phương hướng, mất niềm tin và cảm thấy cuộc đời thật tẻ nhạt. Chính lý tưởng khơi dậy sự nỗ lực nhận thức, sự nồng nhiệt của tình cảm, sự mãnh liệt của ý chí và quyết tâm trong hành động giúp con người vươn tới mục tiêu cao cả không quản gian khổ, hy sinh. Lý tưởng cách mạng là sự thống nhất giữa tri thức, tình cảm, ý chí sẵn sàng hoạt động, trong đó yếu tố tri thức khoa học đóng vai trò quan trọng nhất bởi lý tưởng chỉ thật sự có tính hiện thực khi nó được xây dựng trên cơ sở niềm tin vững chắc vào chân lý mà tri thức khoa học đem lại. Vì vậy, lý tưởng có tác dụng như ngọn đèn định hướng thúc đẩy con người hoạt động một cách tự giác, thông minh, sáng tạo và quả cảm để đạt tới đối tượng của niềm tin, cuộc sống chỉ cao quí khi con người sống có lý tưởng. Sống có lý tưởng, có hoài bão ước mơ, con người sẽ nhân đôi ý nghĩa cuộc sống của chính mình, giúp con người vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân. 1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY 1.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên Sinh viên hay còn gọi là “thanh niên sinh viên”, là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập tại các trường Đại học, Cao Đẳng. Độ tuổi trung bình từ 18 đến 25. Việc xác định độ tuổi của sinh viên được các nhà khoa học thống nhất lấy mốc bắt đầu từ sau tuổi phổ thông trung học và kết thúc vào khoảng 25 tuổi, vì ở độ tuổi này con người đã hoàn thành sự phát triển về thể chất. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt quan tâm đến thế hệ này và đánh giá rất cao vai trò, vị trí của họ trong sự nghiệp cách mạng. C.Mác cho rằng: thanh niên là cội nguồn sức sống của dân tộc, còn Ph.Ăngghen đề xuất tư tưởng: thanh niên không thể đứng ngoài chính trị, chính hiện thực của đời sống đã, đang và sẽ cuốn hút lớp trẻ vào đời sống chính trị. Ông nhấn mạnh rằng, thanh niên không bao giờ thoả mãn với lý tưởng trước đây, họ muốn được tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập chiến công và vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả máu và cuộc đời mình. Thanh niên sẽ có đủ sức lực và tài năng để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong đời sống của đất nước. Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng: “Thanh niên là nguồn sinh lực chiến đấu của cách mạng”. Khi khẳng định vị trí, vai trò của thanh niên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin đã chú ý rất nhiều đến nhiệm vụ giáo dục thanh niên, coi đó là biện pháp hàng đầu để đào tạo con người mới với tư cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Những quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin về vị trí, vai trò của thanh niên là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc hình thành những quan điểm của Hồ Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, là một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó [43, tr.185]. Trong Di chúc, Người căn dặn: bồi dưỡng thế hệ cho cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với vai trò tiên phong trong sự nghiệp này, thanh niên, đặc biệt là thanh niên trí thức - mà hôm nay họ là sinh viên - là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp đó. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá X) khẳng định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển, thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước. Do đó, để hoàn thành sứ mệnh của mình, đòi hỏi thanh niên phải có bản lĩnh, trình độ, hoài bão và có lý tưởng cách mạng, tuyệt đối trung thành với đường lối lãnh đạo của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới mà Đảng và nhân dân ta đang thực hiện. Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác, chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách. Nói cách khác giáo dục là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học. Trong quá trình giáo dục, bao giờ cũng có một hệ thống cần phải giải quyết đó là: mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung, chương trình, giảng viên, động cơ dạy và học cùng các phương tiện giáo dục khác, nhằm đào tạo con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Trong xã hội có giai cấp, giáo dục cũng mang tính giai cấp nhằm đào tạo ra lớp người phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội và của chế độ xã hội mà họ xây dựng. Tính giai cấp được bộc lộ rất đa dạng trong nền giáo dục của mỗi quốc gia khác nhau, mỗi chế độ khác nhau. Giáo dục theo quan điểm phong kiến nhằm đào tạo ra những con người trung hiếu. Còn giáo dục theo quan điểm tư bản chủ nghĩa nhằm tạo ra con người thạo việc và tích cực, những nhà buôn, những nhà công nghiệp để phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản… Giáo dục theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm tạo ra những con người phát triển toàn diện: “Biết thấm nhuần tổng số những kiến thức của nhân loại mà chủ nghĩa cộng sản là kết quả bởi vì tương lai của loài người hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên”[33, tr.262]. Ở nước ta, giáo dục trước hết là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, trách nhiệm của các ngành và mọi người trong xã hội. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người được phát triển toàn diện, có phẩm chất chính trị, đạo đức, tri thức khoa học, có năng lực tư duy lý luận, có một nền học vấn hiện đại. V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Họ phải hiểu rằng, điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và họ không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là một nguyện vọng mà thôi”[29, tr.175]. Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm làm cho sinh viên nắm được những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng và hướng cho sinh viên vận dụng lý luận đó vào thực tiễn một cách sáng tạo. Từ đó, sinh viên sẽ phát triển nhân cách một cách hài hoà: biết lĩnh hội tri thức đã học, biết biến tri thức đó thành niềm tin và lý tưởng cao cả của mình, tức là vận dụng tri thức đó vào cải tạo hiện thực. Bản chất của giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là quá trình tác động đồng bộ, tích cực, có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của sinh viên, nâng cao khả năng nhận thức, năng lực tư duy và hướng dẫn sinh viên hoạt động thực tiễn theo một chương trình, mục tiêu cụ thể xác định nào đó. Như vậy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là một bộ phận của giáo dục xã hội nhằm phát triển con người toàn diện. Con đường trực tiếp, năng động và sáng tạo nhất để hình thành thế giới quan khoa học và cách mạng cho sinh viên là con đường giáo dục. Mục tiêu của giáo dục không chỉ là cung cấp những tri thức về nội dung, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của thế giới quan duy vật biện chứng mà còn làm cho chúng thâm nhập vào cấu trúc nội tại đời sống tinh thần của chủ thể - sinh viên và biến kiến thức trong khoa học mà sinh viên đã được tiếp nhận thành giá trị, niềm tin, lý tưởng, lập trường thế giới quan tương ứng. Nhờ đó mà sinh viên sẽ hình thành thế giới quan khoa học và cách mạng của chính mình, hình thành phương pháp tu dưỡng, rèn luyện, hình thành những phẩm chất chính trị, đạo đức của chính sinh viên. 1.2.2. Nội dung và những nguyên tắc cơ bản trong giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay 1.2.2.1. Nội dung giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay phải giáo dục ba thành tố cơ bản cấu thành thế giới quan duy vật biện chứng. Thứ nhất, giáo dục hệ thống tri thức khoa học cơ bản, toàn diện, hiện đại và phương pháp tư duy biện chứng. Hệ thống tri thức khoa học bao gồm tri thức khoa học tự nhiên, tri thức khoa học xã hội và đặc biệt là tri thức triết học - hạt nhân của thế giới quan. Tri thức khoa học tự nhiên: đây là nhân tố rất cơ bản để hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, vì khoa học tự nhiên nghiên cứu những vấn đề cội nguồn của thế giới, về những quy luật vận động của tự nhiên. Đó là những chất liệu để khái quát thành thế giới quan duy vật biện chứng. Hầu như tất cả các môn khoa học tự nhiên đều là cơ sở để hình thành thế giới quan duy vật. Đặc biệt là hoá học nghiên cứu sự chuyển hoá từ vô cơ đến hữu cơ, từ hữu cơ đến sự sống. Sinh học nghiên cứu những quá trình biến hoá, quá trình phát triển của hệ thần kinh, quá trình tiến hoá của các loài, việc xác định nguồn gốc của loài người từ động vật đã đánh tan tất cả các quan niệm duy tâm tôn giáo về sự hình thành con người. Chính vì thế mà từ thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã gắn liền với khoa học tự nhiên. Các nhà triết học phần lớn đều là các nhà khoa học tự nhiên. Khoa học xã hội: khoa học xã hội nói chung đều luận giải mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, nghiên cứu sự vận động, biến đổi của xã hội từ những vận động, biến đổi của những điều kiện kinh tế. Vì vậy, những kiến thức về lịch sử, xã hội học, chính trị học… cũng đều là cơ sở để hình thành thế giới quan duy vật. Tri thức triết học: trong việc xây dựng thế giới quan cho con người, triết học luôn giữ vai trò chủ đạo, với tư cách là kinh nghiệm hàng thế kỷ trong việc suy tư một cách có phê phán - phản tư về những vấn đề định hướng cuộc sống của từng người cũng như của toàn thể loài người. Các nhà triết học dù ở thời đại nào cũng đều cố gắng làm rõ những vấn đề tồn tại của con người, đặt ra và giải quyết những câu hỏi như: con người là gì? Nó có hy vọng và định hướng vào cái gì?... Có thể nói, tri thức triết học là hạt nhân của thế giới quan. Triết học Mác - Lênin là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là toàn bộ những quan điểm của con người về thế giới, nghiên cứu vị trí của con người trong vũ trụ nói chung và trong xã hội nói riêng. Đó chính là cơ sở để con người nhìn nhận thế giới một cách toàn diện, cung cấp cho con người những tri thức tổng hợp, khái quát về thế giới. Thứ hai, giáo dục hệ thống niềm tin vào chân lý những giá trị xã hội nhân đạo. Đó là giáo dục cho sinh viên niềm tin vào tính chất của thời đại, vào tính tất yếu của chế độ xã hội chủ nghĩa, vào sự giải phóng con người và xã hội loài người trong tương lai. Tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cuối cùng là tin vào chính bản thân mình. Bởi vì, giáo dục niềm tin khoa học, nhất là quan điểm và niềm tin triết học Mác - Lênin tạo nên nền tảng- hạt nhân của toàn bộ thế giới quan duy vật biện chứng. Nó giúp cho sinh viên nhận thức được quy luật chung nhất của thế giới, hiểu được bản chất của con người, sự năng động sáng tạo của ý thức của con người trong việc cải tạo thế giới, khả năng của con người tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện như hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy…Từ đó giúp sinh viên từng bước có niềm tin vào chính bản thân mình trong học tập, rèn luyện, hình thành những phẩm chất nhân ái, vượt khó, tin vào những giá trị tốt đẹp của con người. Thứ ba, giáo dục lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và tích cực, sẵn sàng hành động vì lý tưởng đó. Lý tưởng sống cao đẹp của sinh viên ngày nay là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là học tập, rèn luyện vì ngày mai lập thân, lập nghiệp, vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước. Mỗi sinh viên phải biết phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Sinh viên là những người có tuổi đời còn trẻ, họ có nhiều hoài bão ước mơ, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách, cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho mục tiêu cao cả của dân tộc. Nhưng ở họ lại có những hạn chế, tuổi đời còn ít, kinh nghiệm sống chưa nhiều, lại thiếu từng trải, vì vậy trong cuộc sống nhiều lúc tỏ ra bồng bột, chưa thực sự chín chắn trong suy nghĩ và hành động. Do đó, cần phải giáo dục hướng dẫn sinh viên hình thành lý tưởng cao đẹp, biết biến lý tưởng thành hiện thực, biết cụ thể hoá lý tưởng của mình trong cuộc sống lao động, học tập và sinh hoạt. Lý tưởng cao đẹp là những giá trị chỉ đạo, điều khiển hoạt động, hành vi hàng ngày của mỗi sinh viên. Nó không hình thành một cách tự phát trong mỗi sinh viên mà phải thông qua giáo dục mới có được. Lý tưởng cao đẹp chỉ được xây dựng trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng, ở đó có sự thống nhất giữa khoa học và niềm tin, giữa lý trí và tình cảm.
- Xem thêm -