Giải pháp phát triển dịch vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại vn

  • Số trang: 90 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 54 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 9677 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---- K --- LÊ QUANG NINH GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số:60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. HỒ PHÚC NGUYÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan danh dự về đề tài nghiên cứu: “Giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam’’ là đề tài của tôi nghiên cứu khi thực hiện Luận văn Thạc sĩ kinh tế, không sao chép, cóp nhặt của bất kỳ ai. Các tài liệu và các số liệu của đề tài là trung thực, đảm bảo tính chính xác. Ngày……. tháng……….năm 2010 Người thực hiện Lê Quang Ninh MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................... 1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI........................................................................................................................ 4 1.1 Tổng quan về bao thanh toán: ................................................................................... 4 1.1.1. Sự cần thiết của dịch vụ bao thanh toán: .................................................................. 4 1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán: ................................... 4 1.1.3. Khái niệm về bao thanh toán: ................................................................................... 6 1.1.4. Đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán................................................................... 8 1.1.4.1. Các công ty bao thanh toán: ...................................................................................... 9 1.1.4.2. Các ngân hàng thương mại: ....................................................................................... 9 1.1.5. Phân loại bao thanh toán: .......................................................................................... 9 1.1.6. Lợi ích của bao thanh toán trong hoạt động thanh toán thương mại: ................... 11 1.1.7. Hạn chế của bao thanh toán: ................................................................................... 13 1.1.8. Quy trình thực hiện bao thanh toán: ........................................................................ 14 1.2. So sánh bao thanh toán với các hình thức tài trợ thương mại khác:...................... 17 1.2.1. So sánh bao thanh toán với các sản phẩm cho vay truyền thống: ........................ 17 1.2.2. So sánh bao thanh toán với phương thức tín dụng chứng từ: ............................... 19 1.2.3. So sánh bao thanh toán với chiết khấu hối phiếu truyền thống và thương lượng thanh toán theo L/C. ............................................................................................................. 19 1.3. Rủi ro trong hoạt động bao thanh toán: .................................................................. 20 1.3.1. Rủi ro tín dụng:......................................................................................................... 21 1.3.2. Rủi ro gian lận: ......................................................................................................... 22 1.3.3. Rủi ro thu nợ: ............................................................................................................ 22 1.3.4. Rủi ro thanh khoản: .................................................................................................. 23 1.3.5. Rủi ro ngoại hối: ....................................................................................................... 23 1.3.6. Chia sẻ rủi ro trong bao thanh toán hệ hai đại lý: .................................................. 23 1.4. Hoạt động bao thanh toán trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 23 1.4.1. Hiệp hội các tổ chức bao thanh toán quốc tế: ........................................................ 23 1.4.2. Tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới: ................................................. 23 1.4.3. Các bài học kinh nghiệm để phát triển nghiệp vụ bao thanh toán: ....................... 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG I ...................................................................................................... 30 CHƯƠNG II THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ................................................................................................ 31 2.1 Quy định về thực hiện bao thanh toán tại Việt Nam: ............................................. 31 2.1.1 Các văn bản pháp lý hiện hành:............................................................................... 31 2.1.2 Điều kiện để ngân hàng được hoạt động nghiệp vụ bao thanh toán:..................... 32 2.1.3 Đối tượng áp dụng:................................................................................................... 32 2.2 Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam:..... 33 2.2.1 Tình hình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam:................................ 33 2.2.2 Một số quy định cụ thể trong nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay: ........................................................................................................ 35 2.2.3 Thực trạng hoạt động bao thanh toán tại một số ngân hàng tiêu biểu: ................. 38 2.2.3.1 Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB):.................................................... 39 2.2.3.2 Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB): ........................ 52 2.2.3.3 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).............. 56 2.2.4 Những mặt khó hạn, hạn chế và vướng mắc khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam:.................................................................................................................. 57 2.2.4.1 Nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại: ................................................. 59 2.2.4.2 Nguyên nhân từ bên ngoài ngân hàng thương mại: ............................................... 62 KẾT LUẬN CHƯƠNG II..................................................................................................... 65 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ................................................................................... 66 3.1. Tiềm năng nghiệp vụ bao thanh toán tại Việt Nam:............................................... 66 3.2. Các giải pháp đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam: ............................... 67 3.2.1. Nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải phát triển nghiệp vụ bao thanh toán:.... 68 3.2.2. Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp và hiệu quả để phát triển nghiệp vụ bao thanh toán: ................................................................................................................................... 69 3.2.3. Tăng cường hoạt động Marketing về bao thanh toán tại Việt Nam ...................... 70 3.2.4. Đẩy mạnh công tác tư vấn cho khách hàng: .......................................................... 73 3.2.5. Xây dựng quy trình hoạt động bao thanh toán tại các ngân hàng: ........................ 74 3.2.6. Mở rộng quan hệ đại lý với các NHTM khác trong và ngoài nước: ..................... 74 3.2.7. Nâng cao chất lượng khâu thẩm định:..................................................................... 75 3.2.8. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng theo mặt bằng trình độ quốc tế...................... 76 3.2.9. Đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng có đủ năng lực và có tính chuyên nghiệp cao: 77 3.3. Một số kiến nghị:...................................................................................................... 77 3.3.1. Với ngân hàng nhà nước: ......................................................................................... 77 3.3.1.1. Cần ban hành quy chế mới quy định hoạt động bao thanh toán thay thế quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ..................................................................................................... 77 3.3.1.2. Nâng tầm hiệu quả hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) .............. 78 3.3.2. Kiến nghị khác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền: .......................................... 79 KẾT LUẬN CHƯƠNG III ................................................................................................... 81 KẾT LUẬN............................................................................................................................ 82 DANH MỤC BẢNG BIỀU, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ Bảng Bảng 1.1 Bảng 1.2 Bảng 1.3 Bảng 1.4 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4 Bảng 2.5 Bảng 2.6 Bảng 2.7 Sơ đồ Sơ đồ 1.1 Sơ đồ 1.2 Biểu đồ Biểu đồ 1.1 Biểu đồ 1.2 Biểu đồ 2.1 Biểu đồ 2.2 Tên bảng So sánh điểm khác nhau giữa bao thanh toán và cho vay truyền thống Doanh số hoạt động BTT trên thế giới, cơ cấu giữa BTT nội địa và quốc tế Số tổ chức BTT và doanh số BTT toàn thế giới năm 2008 Một số quốc gia có doanh số BTT cao trong các năm qua Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam Tiêu chí lựa chọn người mua trong hoạt động BTT tại ACB Phí dịch vụ bao thanh toán nội địa tại ACB Doanh số BTT trong thời gian qua của ACB Thu nhập lãi và phí từ hoạt động BTT Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động BTT so với tổng thu nhập từ lãi và phí của ACB Biểu phí hoạt động BTT tại VCB Tên sơ đồ Quy trình bao thanh toán nội địa Quy trình bao thanh toán quốc tế Tên biểu đồ Biểu đồ tăng trưởng doanh số BTT trên thế giới Biểu đồ phản ánh tỷ lệ doanh số BTT trên toàn thế giới Doanh thu bao thanh toán nội địa và doanh thu quốc tế tại Việt Nam Tăng trưởng doanh số BTT của ACB qua các năm Trang 17 24 25 26 35 41 47 49 51 51 54 14 16 24 25 35 50 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BTT: Bao thanh toán ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu VCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) Agribank: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Techcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam FCI: Factor Chain International (Hiệp hội bao thanh toán quốc tế) NHTM: ngân hàng thương mại NHTMQD: ngân hàng thương mại quốc doanh NHNN: ngân hàng nhà nước L/C: thư tín dụng chứng từ (Letter of Credit) KPT: khoản phải thu ROE: Return On Equity (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) WTO: World Trade Organization (tổ chức thương mại thế giới) CIC: Credit Information Centre (Trung tâm thông tin tín dụng). Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức gia nhập WTO ngày 07/01/2007. Vị thế của Việt Nam ngày càng được khẳng định như một điểm sáng tăng trưởng kinh tế tại Châu Á. Chúng ta đang đứng trước cơ hội có thể tạo ra những đột phá mới để tăng tốc nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề đặt ra cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng trong giai đoạn này. Năm 2008, thế giới bước vào cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ thế chiến thứ II, sức mua toàn cầu sụt giảm nghiêm trọng, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, tình trạng thất nghiệp xảy ra phổ biến ở hầu hết các quốc gia. Hàng loạt ngân hàng và doanh nghiệp phá sản, chính phủ các quốc gia tung các gói kích thích kinh tế nhằm vực dậy nền sản xuất nội địa đồng thời tìm mọi biện pháp bảo vệ các nhà sản xuất trong nước, chủ nghĩa bảo hộ có cơ hội trở lại. Đứng trước tình hình đó, hoạt động của ngành ngân hàng trong năm 2008 gặp rất nhiều khó khăn. Tình trạng lãi suất liên tục thay đổi gây khó khăn rất lớn cho công tác quản trị ngân hàng, nguồn vốn huy động không ổn định do lãi suất biến động bất thường gây nên những cuộc chạy đua lãi suất không đáng có giữa các ngân hàng. Hoạt động tín dụng luôn là lĩnh vực kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn nhất trong cơ cấu nguồn thu nhập của ngân hàng cho đến nay và có lẽ trong nhiều năm tới, tuy nhiên đây là lĩnh vực kinh doanh có rất nhiều rủi ro, và trong điều kiện kinh tế khó khăn như trong năm 2008, nguy cơ đối với hoạt động tín dụng đối với ngành ngân hàng ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Trong hoạt động kinh doanh đối ngoại, sự mất ổn định vào tỷ giá hối đoái, nguồn cung ứng ngoại tệ trở nên khan hiếm gây tâm lý lo ngại cho doanh nghiệp cũng như giới ngân hàng dẫn đến hiện tượng đầu cơ, tích trữ ngoại tệ. Mặt khác, do khủng khoảng kinh tế, sức mua của thị trường cũng suy giảm, các nước nhập khẩu có xu hướng bảo vệ nhà sản xuất trong nước nên đã dựng các hàng rào bảo hộ ngăn cản hàng hoá nhập khẩu. Hoạt động xuất nhập khẩu đã khó lại càng khó hơn. Tuy nhiên, xét dưới khía cạnh khác khủng hoảng kinh tế là cơ hội để ngành ngân hàng trong nước nhìn lại mình. Đây là thời cơ không thể tốt hơn để tái cơ cấu tổ chức, đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên Hiện nay, lĩnh vực tín dụng truyền thống đang dần đến chỗ bão hoà, hoạt động cho vay ngày càng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chính vì thế, ngành ngân hàng đang dần chuyển hướng sang hoạt động cung ứng dịch vụ một cách trọn gói hơn là chỉ cung ứng sản phẩm tín dụng đơn thuần. Có ba xu hướng hoạt động chính đang được ngành ngân hàng lựa chọn: một là, phát triển các dịch vụ trên thị trường tài chính. Hai là, phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ và hiện đại. Ba là, mở rộng các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Với xu thế này, sản phẩm BTT đã được đưa vào thực hiện tại một số ngân hàng, đã có những thành công cũng như khó khăn nhất định. Nhưng thị trường tài chính Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển cao, tiềm năng lợi nhuận cho sản phẩm BTT vẫn còn rất lớn. Do sản phẩm này vẫn còn mới mẻ với thị trường tài chính Việt Nam nên chắc chắn vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu để tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hơn nữa nghiệp vụ BTT tuy còn khá mới mẻ tại nước ta nhưng nó đã được thực hiện rộng rãi và hiệu quả trên toàn thế giới. Chính vì lý do đó, người viết đã chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ: “Giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”. 2. Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua việc tìm hiểu tổng quan cơ sở lý luận về nghiệp vụ BTT và kinh nghiệm của các nước trên thế giới đã áp dụng thành công dịch vụ BTT, từ đó nghiên cứu thực trạng BTT tại các NHTM Việt Nam, bao gồm những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng đó. Là người đang công tác tại Ngân hàng No&PTNT Việt Nam (Agribank), đây là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam, nhưng cũng như nhiều NHTM khác, hiện nay Agribank vẫn chưa mạnh dạn thực hiện nghiệp vụ này, nếu có chỉ mang tính chất thăm dò là chủ yếu. Chính vì vậy, người viết nhận thấy đây là điểm nổi bật của đề tài, nó mang ý nghĩa thực tiễn cao cần được nghiên cứu. Đó chính là lý do người viết chọn đề tài: “Giải pháp phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: dịch vụ bao thanh toán tại các NHTM Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: khảo sát số liệu tại các NHTM Việt Nam bao gồm các NHTMNN, NHTMCP của Việt Nam. Trong đó, người viết tập trung nghiên cứu quy 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên trình, số liệu của NHTMCP Á Châu, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam là những đại diện tiêu biểu. 4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng kèm với phương pháp đối chiếu so sánh, thống kê kết hợp với khảo sát số liệu tại một số ngân hàng thương mại tiêu biểu. 5. Kết cấu luận văn: Để giải quyết nội dung cơ bản của vấn đề trên, ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cục luận văn bao gồm các chương:  Chương I: bao gồm lý luận chung về BTT và một số bài học kinh nghiệm. Trong chương này đề cập đến những lý luận cơ bản về nghiệp vụ BTT từ lịch sử hình thành, khái niệm sản phẩm dịch vụ cho đến quy trình nghiệp vụ BTT từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.  Chương II: trong phần này, người viết tập trung phân tích thực trạng về hoạt động BTT của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam phân tích thực trạng hoạt động để thấy được những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dịch vụ BTT.  Chương III: trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn đã được phân tích ở chương II, trong chương III, người viết đã đề ra các giải pháp đối với các NHTM Việt Nam, một số kiến nghị với NHNN, Bộ Công thương và công tác đào tạo nhân lực cho ngành ngân hàng. Với thời gian và kiến thức có hạn, BTT lại là một nghiệp vụ rất mới mẻ tại thị trường tài chính Việt Nam nên việc tìm kiếm tài liệu nghiên cứu gặp nhiều khó khăn. Do đó, đề tài này chắc sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong sự đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này để tác giả hiểu biết hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hồ Phúc Nguyên đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Ngân hàng đã tận tình giảng dạy để tôi có đủ kiến thức hoàn thành đề tài này. ********** 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TRONG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về BTT: 1.1.1 Sự cần thiết của dịch vụ bao thanh toán: Trong giao dịch thương mại, các bên luôn có những xung đột về lợi ích kinh tế do khác biệt về nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu. Nhu cầu của người mua là được mua chịu ghi sổ và thanh toán chậm. Nhu cầu của người bán là bán được hàng và nhận được tiền thanh toán ngay sau khi bán hàng để có thể tiếp tục quay vòng vốn sản xuất kinh doanh. Do nhu cầu của hai bên xung đột như vậy nên thông thường hoặc người bán hoặc người mua phải chịu thiệt để phía bên kia được hưởng lợi, tức là hoặc người bán để người mua trả chậm hoặc người mua phải thanh toán tiền ngay cho người bán. Với dịch vụ BTT (Factoring), đôi bên mua và bán đều được hưởng lợi. Nói một cách khác, đơn vị BTT là cầu nối giữa hai nhu cầu nói trên của người mua và người bán. Cụ thể: đơn vị BTT cho người bán được nhận ứng trước ngay sau khi giao hàng (80-90% giá trị hoá đơn), trong khi người mua có thể trả chậm với thời gian thoả thuận với đơn vị BTT. Đặc biệt, BTT cung cấp cả dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng của người mua. Tức là, người bán được đảm bảo nhận được 100% giá trị hoá đơn ngay cả khi người mua phá sản hoặc không thanh toán khi hoá đơn đến hạn với điều kiện hoá đơn đó không bị tranh chấp giữa các bên (giữa người bán và người mua và/hoặc bên thứ ba bất kỳ). 1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán: BTT là một khái niệm còn lạ lẫm đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhưng lại là một dịch vụ không thể thiếu đối với doanh nghiệp nước ngoài. BTT không phải là một khái niệm mới, nó có nguồn gốc từ thời đế chế La Mã, xuất phát từ đại lý hưởng hoa hồng, những người thực hiện việc mua bán và luân chuyển hàng hoá khoảng 2000 năm trước. Khi đó, các nhà sản xuất và các nhà buôn giàu có sử dụng các đại lý thương mại hoặc người đại diện theo dõi doanh số bán hàng của họ, chức năng chính của các đại diện 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên thương mại chỉ là Marketing cho các nhà sản xuất. Là đại lý, họ nắm quyền sở hữu bên hàng hoá của bên uỷ nhiệm – nhà sản xuất nước ngoài – rồi giao hàng hoá đó cho người mua trong nước, ghi sổ doanh thu/ thu nợ và thu nợ khi đến hạn, chuyển dư nợ cho bên uỷ nhiệm thu sau khi đã trừ phần phần hoa hồng của mình. Với sự phát triển toàn cầu của ngành công nghiệp Anh vào thế kỷ 14 và thế kỷ 15 đã tác động đến sự lớn mạnh của tầm quan trọng của các đại lý thương mại. Khi họ dần dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước mà họ giao dịch cùng, họ bắt đầu đảm bảo khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả cho người uỷ nhiệm trong tương lai nếu người mua không thể trả nợ đúng hạn do khả năng tài chính không cho phép, đây là một hình thức bảo lãnh tín dụng để lấy hoa hồng cao hơn. Và khi đại lý thanh toán có đủ vốn, họ bắt đầu trả trước một phần (tạm ứng) cho người uỷ nhiệm của mình dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai. Do có khoản tạm ứng này mà đại lý thương mại tính thêm khoản phí hoa hồng hay lãi suất. Thông thường, để tránh tình trạng người mua khiếu nại người bán về số lượng, chất lượng hàng hoá hay các điều khoản khác về thời gian địa điểm giao hàng, đại lý thương mại không ứng trước toàn bộ số tiền doanh thu bán hàng. Thay vào đó, họ giữ lại một phần các khoản phải trả cho bên bán cho đến khi bên mua và bên bán chấm dứt các quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Người mua được người bán thông báo đại lý thương mại đã mua quyền được thanh toán của họ. Và từ khi chấp nhận ứng trước tiền cho người bán, ngoài chức năng Marketing, đại lý thương mại đã thực hiện thêm chức năng tài chính và trở thành đại lý BTT. Thế kỷ 16 bắt đầu với sự khám phá Châu Mỹ của người Châu Âu, chế độ thực dân được áp đặt tại đây. Khoảng cách địa lý giữa Châu Âu và thị trường mới rất lớn và càng trở nên lớn hơn khi lãnh thổ Mỹ mở rộng dần ra phía tây là điều kiện rất thuận lợi cho BTT phát triển. Khoảng cách địa lý mênh mông khiến cho cách nhà sản xuất Châu Âu rất khó nắm bắt thị hiếu cũng như sự tin tưởng để cấp tín dụng thương mại cho thị trường mới đầy tiềm năng nhưng rất rủi ro này. Điều này đã làm cho vòng quay vốn lưu động của nhà sản xuất Châu Âu càng kéo dài hơn. Kết hợp những yếu tố trên tạo nên những căng thẳng đáng kể với những nhà sản xuất này. Vì vậy, những đại lý BTT người Mỹ 5 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên quen thuộc với thị trường và người mua nước họ đã được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ Marketing và tài chính như những người đồng nghiệp nước khác đã từng làm. Đến thế kỷ 19, Mỹ đã phát triển thành một cường quốc về công nghiệp và trở nên ít phụ thuộc vào hàng hoá nước ngoài. Khi đó, các mối quan hệ chính trị lệ thuộc giữa Mỹ và Châu Âu không còn tồn tại nữa, nhu cầu sử dụng các đại lý BTT để tiến hành nhập khẩu hàng đã giảm xuống, các nhà BTT nội địa ra đời đảm nhận việc bán hàng trong phạm vi biên giới một quốc gia. Khi hệ thống thông tin liên lạc và các phương tiện vận chuyển đã phát triển, người ta nhận thấy các nhà sản xuất không nhất thiết phải ký gửi hàng hoá nữa. Hàng có thể bán bằng phương thức gửi mẫu qua các đại lý và chuyển trực tiếp cho các khách hàng. Mặc dù vậy, các nhà sản xuất vẫn duy trì việc sử dụng các đại lý BTT để tiến hành thanh toán cho các lô hàng, trong đó quyền của đại lý BTT là thu tiền thanh toán từ người mua cuối cùng. Đây là cơ sở cho BTT hiện đại, khái niệm BTT phát triển liên tục và ngày nay trở nên quen thuộc trong kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng hay xuất nhập khẩu. 1.1.3 Khái niệm về bao thanh toán: Các giao dịch BTT cần tuân thủ theo một khung pháp lý chuẩn. Hiện nay các công ty Factoring trên thế giới thường sử dụng Công ước UNIDROIT được thông qua ngày 28/5/1988 tại Ottawa – Canada hay Quy tắc chung về Factoring quốc tế của Hiệp hội Factoring quốc tế - General Rules For International Factoring – FCI làm chuẩn mực cho các giao dịch của mình. Tại Việt Nam, Thống đốc NHNN cũng ban hành Quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 1096/2004QĐ – NHNN ngày 06/09/2004. Có rất nhiều định nghĩa về BTT (factoring). Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu: Định nghĩa 1: Theo quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của NHNN V/v ban hành quy chế hoạt động BTT của các tổ chức tín dụng và quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của NHNN V/v sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN: BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát 6 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên sinh từ việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng, sử dụng dịch vụ thoả thuận trong hợp đồng mua bán hàng, cung ứng dịch vụ. Định nghĩa 2: Hợp đồng Factoring là hợp đồng theo đó người bán có thể hoặc sẽ chuyển nhượng các khoản phải thu cho một đơn vị BTT (factor), có thể với mục đích nhận tài trợ thương mại hoặc không để nhận ít nhất một trong các chức năng sau: - Theo dõi sổ sách các khoản phải thu. - Tài trợ dưới dạng ứng trước cho người bán hàng dựa trên giá trị các khoản phải thu. - Thu hộ các khoản phải thu. - Bảo hiểm rủi ro nợ xấu. (Theo quy tắc chung về Factoring quốc tế của Hiệp hội Factoring quốc tế General Rules for International Factoring). Định nghĩa 3: Theo cuốn Marketing International Factoring, 2000, Neitherland của Hiệp hội Factoring quốc tế - FCI, dựa trên quan điểm của luật và kế toán thì BTT là một dịch vụ dựa vào những khoản phải thu được chuyển nhượng. Các khoản phải thu của người bán hàng được chuyển nhượng factor, do đó tạo ra sự chuyển đổi chủ nợ. Một factor sẽ trở thành một chủ nợ mới và độc quyền đối với các khoản phải thu, bao gồm cả các phần phụ thuộc vào các khoản phải thu đó. Một số định nghĩa khác: Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economic – Christopher Pass & Bryan Lones): BTT là 1 sự dàn xếp tài chính, qua đó 1 công ty tài chính chuyên nghiệp, qua đó, một công ty tài chính (công ty mua nợ - factor firm) mua lại các khoản nợ của công ty với số tiền ít hơn giá trị của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa số tiền thu được của số nợ đã mua và giá mua thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty mua bán nợ là nhận được tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh được những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm trả. 7 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên Còn theo từ điển thuật ngữ ngân hàng – Hans Klaus thì “BTT là một loại hình tài trợ dưới dạng tín dụng chuyển nhượng nợ. Một công ty chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên nghiệp (công ty mua nợ, thông thường là một công ty trực thuộc ngân hàng). Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản phải thu để hưởng thủ tục phí và có lúc ứng trước các khoản nợ. Thông thường công ty mua nợ phải chịu rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ”. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng nói chung, có thể hiểu nghiệp vụ BTT chính là một hình thức tín dụng ngắn hạn tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hoá và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ. Đơn vị BTT đảm bảo việc thu nợ, tránh các rủi ro không trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ của người mua. Nhờ có sự chuyên môn hoá việc thu hồi nợ nên sau khi mua lại các khoản nợ, đơn vị BTT có thể nâng cao được hiệu suất thu hồi nợ và giảm chi phí thu hồi nợ nhờ lợi thế về quy mô. Đơn vị BTT có thể trả trước toàn bộ hay một phần các khoản nợ của người mua cùng với một khoản hoa hồng tài trợ và phí thu nợ. Mọi rủi ro không thu được tiền hàng đều do người tài trợ gánh chịu (đơn vị BTT dự tính rủi ro tổn thất có thể xảy ra đối với BTT miễn truy đòi). Từ đó hình thành mối quan hệ tài chính liên quan đến ít nhất ba bên gồm đơn vị BTT (factor) hay còn gọi là công ty mua nợ (có thể là ngân hàng hoặc công ty tài chính), người bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ và người mua hàng hoá hay sử dụng dịch vụ. Đối với các loại BTT xuất nhập khẩu thì sẽ có hai đơn vị BTT, một đơn vị ở nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị ở nước của nhà nhập khẩu. Ngoài ra, khi một khách hàng ký kết hợp đồng thực hiện nghiệp vụ BTT đối với đơn vị BTT, họ sẽ bán không phải là một mà một số các khoản phải thu từ nhiều khách hàng khác nhau, cho nên trong một hạn mức BTT của người bán có thể có rất nhiều con nợ của đơn vị BTT. 1.1.4 Đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán: Qua nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ BTT, những đơn vị cung cấp dịch vụ BTT đầu tiên là những công ty thương mại chuyên thực hiện mua lại các khoản phải thu. Đến những năm 60 – 70 của thế kỷ 20, các NHTM mới bắt đầu cung 8 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên cấp các sản phẩm BTT cho khách hàng của mình. Hiện nay, trên thế giới, dịch vụ BTT được cung cấp bởi các công ty BTT và NHTM, cả hai loại hình này đều có những ưu thế riêng nên cùng tồn tại, phát triển và cung cấp các sản phẩm dịch vụ của mình cho nhiều đối tượng khách hàng tại các phân khúc thị trường khác nhau. 1.1.4.1 Các công ty bao thanh toán: Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa hai loại hình đơn vị BTT đó là nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn hoạt động chính của các công ty BTT chủ yếu do các cổ đông góp vốn. Chính vì vậy, các công ty này có thể rất linh hoạt trong tổ chức hoạt động của mình. Cụ thể, các công ty BTT sẽ chấp nhận một mức rủi cao hơn với kỳ vọng đem về một khoản lợi nhuận lớn hơn. Vì thế, các khoản phí và lãi suất của dịch vụ BTT của các công ty này thường rất cao. Tuy nhiên, do nguồn vốn hạn chế nên các công ty này chỉ có thể cung cấp những khoản ứng trước với số tiền nhỏ. Do vậy, dịch vụ BTT do các công ty BTT cung cấp phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. 1.1.4.2 Các ngân hàng thương mại: Khác với nhiều định chế tài chính khác, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nguồn huy động từ các tổ chức và cá nhân với nhiều hình thức khác nhau. Vốn tự có của các NHTM được đầu tư mua sắm tài sản cố định và trang bị các phần mềm quản lý. Do đó, nguyên tắc của NHTM là đặt tiêu chí an toàn lên hàng đầu, hoạt động của NHTM có những nguyên tắc mang tính quy ước hoặc được luật hoá nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế tài chính. Do đó, các quy định của nghiệp vụ BTT do NHTM cung cấp thường khắt khe hơn so với các công ty BTT. Tuy nhiên, với nguồn vốn tương đối dồi dào, các NHTM có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng với số tiền ứng trước lớn. Do vậy, dịch vụ BTT do các NHTM cung cấp có thể đáp ứng được yêu cầu của các công ty lớn. 1.1.5 Phân loại bao thanh toán: Dựa vào các tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân loại BTT như sau:  Theo phạm vi hoạt động địa lý: BTT nội địa (domestic factoring): là BTT chỉ giới hạn trong biên giới một quốc gia, dựa trên hợp đồng mua bán hàng, trong đó, bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. 9 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên BTT quốc tế (international factoring): là BTT liên quan đến ít nhất hai quốc gia khác nhau dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu. Điểm khác biệt của BTT quốc tế so với BTT nội địa là khả năng có sự tham gia của hai đơn vị BTT ở hai nước đứng ra làm đại lý cho nhau để cung cấp dịch vụ cho người xuất khẩu hoặc người nhập khẩu.  Theo phạm vi trách nhiệm đối với rủi ro: BTT có truy đòi (with recourse factoring): là loại BTT mà đơn vị BTT có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán hàng nếu các khoản phải thu (đã được chuyển nhượng) đến hạn mà đơn vị BTT không được thanh toán từ người mua hàng. BTT miễn truy đòi (without recourse factoring): ở loại hình BTT này, đơn vị BTT phải chấp nhận hoàn toàn tổn thất đối với rủi ro không thu được tiền thanh toán. Đơn vị BTT không có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho người bán hàng và còn phải thanh toán tiếp phần còn lại của hoá đơn.  Theo phạm vi áp dụng nghiệp vụ BTT đối với số lượng các hoá đơn của một người bán hàng cụ thể: BTT toàn bộ (whole factoring): áp dụng nghiệp vụ BTT toàn bộ đối với các hoá đơn thương mại phát hành ra của một người bán hàng. BTT từng phần (partial factoring): áp dụng nghiệp vụ BTT đối với một số các hoá đơn phát hành đòi tiền một số người mua hàng cụ thể.  Theo phạm vi giao dịch của đơn vị BTT với người mua: BTT công khai (disclosed factoring): người bán giao hàng cho người mua và nhận tiền ứng trước từ factor, sau đó, người mua trả tiền cho factor này khi đến hạn. BTT kín (confidential/ undisclosed factoring): người bán giao hàng cho người mua, nhận tiền ứng trước từ factor, người mua không hay biết gì về dịch vụ BTT được thực hiện, trả tiền cho người bán như thông lệ. Sau đó người bán chuyển số tiền này lại cho factor. Đây là hình thức kết hợp chức năng tài trợ và chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng, hình thức này chỉ áp dụng cho một tỷ lệ thấp giá trị hoá đơn, thường thì chỉ tài trợ và bảo hiểm tối đa 80% giá trị hoá đơn để người bán có động lực đốc thúc việc thanh toán của người mua. 10 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên 1.1.6 Lợi ích của BTT trong hoạt động thanh toán thương mại:  Đối với các đơn vị BTT: Dịch vụ BTT cho phép thu lợi nhuận qua lãi suất và phí dịch vụ. BTT cho phép đa dạng hoá các loại hình dịch vụ đối với các định chế tài chính. BTT cho phép sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn vốn huy động được, vì so với nghiệp vụ tín dụng thông thường, đơn vị BTT không gặp nhiều khó khăn trong việc giám sát việc sử dụng vốn như nghiệp vụ tín dụng truyền thống. Vấn đề của các đơn vị BTT là thẩm định được năng lực cung ứng hàng hoá của người bán, khả năng thanh toán nợ của người mua và uy tín của các bên.  Đối với người bán hàng: Lợi ích lớn nhất của người bán hàng là về nguồn vốn hoạt động, thông thường các đơn vị BTT sẽ thanh toán ngay 70%-90% số tiền trên hoá đơn. Không chỉ thu được tiền nhanh trong thời gian ngắn để phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của mình, các nhà cung cấp hàng hoá còn có lợi ích khi có các luồng tiền được dự đoán chính xác, giúp cho việc xác định kế hoạch tài chính và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp dễ dàng và hiệu quả hơn. Giảm thiểu rủi ro trong thanh toán: đối với dịch vụ BTT miễn truy đòi, rủi ro người mua hàng mất khả năng thanh toán sẽ được chuyển giao cho đơn vị BTT. Dịch vụ này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà xuất khẩu do khoảng cách về địa lý giữa các quốc gia và sự thiếu thông tin về các nhà nhập khẩu. Hơn nữa, các đơn vị BTT không hoạt động đơn lẻ mà họ luôn hoạt động trong một hiệp hội gồm nhiều công ty từ nhiều quốc gia khác nhau. Thông qua mạng lưới này, các đơn vị BTT sẽ có thông tin để đánh giá những người nhập khẩu ở các quốc gia khác nhau trước khi chấp nhận họ. Với sự chuyên nghiệp, mạng lưới thông tin rộng lớn và đáng tin cậy trên toàn cầu, họ sẽ góp phần làm giảm rủi ro về thanh toán trong hoạt động thương mại toàn cầu, từ đó sẽ không còn tình trạng doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn hoặc rơi vào tình trạng nợ xấu. Ngoài ra, việc nhận được các khoản tiền ứng trước cũng giảm rủi ro về tỷ giá cho các nhà xuất khẩu. Giảm chi phí quản lý, thời gian và sức lực trong việc thu hồi nợ: đối với các doanh nghiệp bán hàng trả chậm, họ sẽ phải theo dõi, quản lý để thu hồi các khoản nợ từ đối tác 11 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên mua hàng của mình. Khi sử dụng dịch vụ BTT, sau khi chuyển nhượng lại các hoá đơn và nhận được khoản tiền ứng trước từ đơn vị BTT, công việc gây mất nhiều thời gian và công sức đó sẽ được chuyển cho các đơn vị BTT. Hàng tháng, đơn vị BTT sẽ gửi các báo cáo kế toán, giấy nhắc nợ và các biên lai cho bên mua hàng. Bên bán hàng sẽ trả tiền trực tiếp cho các đơn vị BTT vào ngày đến hạn của các hoá đơn. Sau đó, đơn vị BTT sẽ gửi các báo cáo danh sách các giao dịch trong tháng và các báo cáo kế toán hàng tháng cho bên bán. Như vậy, người bán hàng sẽ giảm được rất nhiều thời gian, công sức và tiền của cho việc thu hồi nợ, quản lý sổ sách bán hàng để tập trung cho việc kinh doanh của mình. Nâng cao sức cạnh tranh của một doanh nghiệp: khi sử dụng BTT, đặc biệt là BTT quốc tế, doanh nghiệp có thể đưa ra các điều kiện tài khoản ghi nợ bằng cách phát hành hoá đơn cho khách hàng và thanh toán chậm, thường là 60 – 90 ngày. Một khi đã được bổ sung những điều kiện tín dụng tốt hơn dưới hình thức bán hàng ghi sổ (open account), việc chào bán các sản phẩm có chất lượng theo điều kiện giao hàng ngay sẽ tạo ra sức hấp dẫn hơn đối với các nhà nhập khẩu, nhờ đó đẩy mạnh được hoạt động bán hàng và xuất khẩu ra nước ngoài. Phá bỏ những rào cản trong quan hệ thương mại quốc tế: hoạt động trong một hiệp hội bao gồm những công ty có mối quan hệ hợp tác toàn cầu, các đơn vị BTT có khả năng hỗ trợ tốt nhất cho các công ty xuất khẩu, đặc biệt là các công ty mới thực hiện việc xuất khẩu hàng hoá hay một công ty đang muốn phát triển thị trường của mình sang các nước có sự khác biệt về luật pháp, các thông lệ giao dịch,….  Đối với người mua hàng: Người mua hàng không phải mở thư tín dụng, đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng tài chính khi không phải đặt một khoản tiền để đảm bảo khả năng thanh toán, không phải trả phí mở L/C, không bị trì hoãn việc mua hàng do những vấn đề phát sinh từ việc mở L/C, hơn nữa phí BTT lại do bên bán chịu. Nhà nhập khẩu có thể mua hàng với phương thức ghi sổ (Open Account) hoặc chuyển tiền sau khi đã nhận hàng, nghĩa là họ có thể mua hàng trả chậm. Hình thức này hỗ trợ rất lớn cho bên mua hàng về khả năng thanh khoản cũng như hoạt động ngân quỹ. Bên mua hàng cũng giảm được công sức và chi phí trong việc quản lý sổ sách, quản lý công nợ. 12 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS Hồ Phúc Nguyên  Đối với nền kinh tế: BTT tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định hơn cho nền kinh tế, tạo tâm lý an tâm, tự tin cho các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. BTT đẩy mạnh thương mại, sản xuất và đặc biệt là xuất nhập khẩu của quốc gia, tăng thu nhập cho nền tài chính, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc đa dạng hoá các phương thức tài trợ và thanh toán đã nâng cao vị thế của hệ thống tài chính ngân hàng của nước ta trên thế giới. 1.1.7 Hạn chế của BTT:  Đối với các đơn vị BTT: Như các phương thức tín dụng khác, BTT cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là các rủi ro đối với các đơn vị BTT: - Rủi ro lớn nhất đối với các đơn vị BTT là người mua hàng trì hoãn việc thanh toán hoặc mất khả năng thanh toán (đặc biệt là trong trường hợp BTT miễn truy đòi). - Việc trả tiền căn cứ trên hoá đơn dễ dẫn tới việc hoá đơn bị làm giả. - Người mua và người bán có thể thông đồng nhau để lừa đơn vị BTT.  Đối với các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ BTT: BTT được xem là hình thức tài trợ có chi phí cao. Ngoài ra, chi phí hành chính với tỷ lệ quy định sẵn cho mỗi hoá đơn được áp dụng dịch vụ BTT cũng có thể khá cao. Đối với một doanh nghiệp có doanh thu bán hàng quá nhỏ thì BTT không phải là một lựa chọn tối ưu. Thông thường phí BTT quốc tế cao hơn phí BTT nội địa, phí BTT miễn truy đòi cao hơn phí BTT có truy đòi. Những nhân tố ảnh hưởng đến giá BTT là: Khối lượng công việc: khối lượng công việc nhiều hơn (số lượng hoá đơn, phiếu ghi có,…) thì chi phí cao hơn và do đó giá phí sẽ cao hơn. Ngoài ra, trong BTT quốc tế, nếu thông tin cung cấp cho đơn vị BTT nhập khẩu không đầy đủ thì đơn vị BTT nhập khẩu có thể báo giá cao hơn. Chi phí hệ thống: những chi phí gửi thông tin đi nước ngoài, xử lý giao dịch bằng một số đồng tiền khác nhau, xử lý thông tin dữ liệu bằng tiếng nước ngoài… trong hoạt động BTT quốc tế chắc chắn sẽ làm cho chi phí hoạt động này cao hơn so với BTT nội địa. 13
- Xem thêm -