Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Dragon Việt Nam.

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp Điều 3 của luật doanh nghiệp có định nghĩa rằng: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Theo định nghĩa pháp lý đó thì doanh nghiệp phải là những đơn vị tồn tại trước hết vì mục đích kinh doanh. Những thực thể pháp lý không lấy kinh doanh làm mục tiêu chính cho hoạt động kinh doanh của mình thì không được coi là doanh nghiệp. 1.1.1.2 Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào dấu hiệu sở hữu (Tính chất sở hữu của những vốn và tài sản được sử dụng để thành lập doanh nghiệp – Sở hữu vốn) có thể chia doanh nghiệp thành: - Doanh nghiệp nhà nước; - Doanh nghiệp tư nhân; - Doanh nghiệp tập thể; - Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội; - … Căn cứ vào dấu hiệu về phương thức đầu tư vốn có thể chia doanh nghiệp thành: - Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước; - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài); - Doanh nghiệp một thành viên: là doanh nghiệp do một thành viên đầu tư vốn để thành lập; - Doanh nghiệp cổ phần: là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các thành viên thể hiện qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp. Căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản, doanh nghiệp được chia thành: - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn; - Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn. 1 1.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Có thể thấy, tất cả doanh nghiệp trên thị trường đều kinh doanh có mục đích và lợi nhuận rõ ràng, được thực hiện thông qua các hoạt động thực tế. Hoạt động của doanh nghiệp thể hiện bằng sự tự sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hay cung cấp dịch vụ với bản chất là gia tăng vốn trong doanh nghiệp. Quản lý, vận hành doanh nghiệp để tạo ra giá trị từ những khoản đầu tư là bài toán lớn theo sát doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những yêu cầu luôn được đặt lên trước đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Với mỗi hình thái xã hội khác nhau, những quan hệ xã hội không tương đồng của mỗi một thời kỳ kinh tế dẫn đến có các quan điểm không giống nhau về khái niệm phạm trù hiệu quả kinh doanh. Quan điểm thứ nhất của Adam Smith – cha đẻ của lý luận nghiên cứu thị trường – cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là kết quả của hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” (Kinh tế thương mại dịch vụ - Nhà xuất bản Thống kê). Quan điểm của ông đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh. Tuy nhiên quan điểm này chỉ đúng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Nhận định của nhà nghiên cứu Adam Smith không giải thích được kết quả kinh doanh tăng do chi phí sản xuất tăng hay mở rộng nguồn lực sản xuất. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này được xây dựng nhằm so sánh giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Quan điểm đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua phần kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng. Nhược điểm của quan điểm này là không đánh giá hết được toàn bộ hiệu quả hoạt động kinh doanh do công thức chỉ xem xét tới hiệu quả trên cơ sở so sánh chênh lệch tăng thêm của chi phí và kết quả mà không xem xét tới chi phí hay kết quả ban đầu. Quan điểm thứ ba nhận định: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm này chỉ ra mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh khi gắn liền kết quả với toàn bộ chi phí và coi hiệu quả phản ánh thông qua trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh nên doanh nghiệp không thể cố định tuyệt đối một trong hai yếu tố chi phí đầu vào hay kết quả đầu ra. Do vậy, quan điểm này không giải thích được sự thay đổi thực tế của kết quả kinh doanh và chi phí đầu vào. 2 Thang Long University Library Từ những khái niệm nêu trên, có thể khái quát định nghĩa về hiệu quả kinh doanh là: Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả kinh doanh là chất lượng kết quả của quá trình xử lý và vận dụng khéo léo nguồn lợi thế và tiềm năng vật chất, phi vật chất của các nhà quản trị doanh nghiệp. Do đó, để đánh giá đúng hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp, bên cạnh những chỉ số không thể tính toán được từ những những yếu tố khách quan tác động, nhà quản trị doanh nghiệp thường chủ yếu sử dụng các chỉ tiểu tài chính để tối thiểu rủi ro kinh doanh, tăng tốc độ phát triển của doanh nghiệp. Thông qua quá trình tổng hợp, phân tích, đánh giá các chỉ tiêu tài chính phản ánh cụ thể nhất tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm giúp đỡ cho các quyết định đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp nắm bắt được những ưu nhược điểm của bản thân từ đó nâng cao được khả năng cạnh tranh và phát huy ưu thế trên thị trường. 1.1.3 Bản chất của hiệu quả kinh doanh Trong mô hình kinh tế T-H-T’, khi bỏ ra một đồng vốn ban đầu nhằm đầu tư cho những yếu tố đầu vào, trải qua quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn mong muốn từ đồng vốn T ban đầu sẽ trở thành đồng T’ với giá trị cao hơn. Bản chất của hiệu quả kinh doanh cũng vậy, đó là sự so sánh giữa các yếu tố đầu vào với lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh. Nó được phản ánh thông qua tình hình sử dụng các nguồn lực của DN nhằm khai thác tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Các kết quả được tổng hợp, phân tích từ hiệu quả kinh doanh là chứng cứ, cơ sở khoa học để đánh giá trình độ quản lý và kế hoạch, quyết định tương lai. Tùy thuộc vào môi trường phân tích mà độ chính xác của các chỉ tiêu đánh giá lệch chuẩn so với thực tế. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh được khái quát và thể hiện thông qua hai công thức hiệu quả đạt được (dạng thuận) và khả năng đạt được (dạng nghịch). Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện hiệu quả dạng thuận: Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra/ Yếu tố đầu vào Công thức chỉ ra một đồng yếu tố đầu vào (chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh như vốn, nhân công, nguyên vật liệu…) tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu…) trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu từ công thức này cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và chiến lược sản xuất của doanh nghiệp đúng đắn và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp. Tất cả doanh nghiệp khi hoạt động trên thị trường luôn yêu cầu kết quả đầu ra cao với yếu tố đầu vào thấp nhất nhằm thu được lợi ích từ chênh lệch tạo lợi nhuận trong quá trình vận hành doanh nghiệp. 3 Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện khả năng dạng nghịch: Hiệu quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào/ Kết quả đầu ra Công thức này cho biết một đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào. Kết quả của công thức này tỷ lệ nghịch với công thức ở trên. Chỉ tiêu công thức dạng nghịch càng thấp chính tỏ doanh nghiệp kiểm soát chi phí tốt, lợi nhuận cao, hiệu quả kinh doanh cao. Từ kết quả đánh giá trên, nhà quản trị đánh giá được chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ nhằm phản ánh đúng nguồn lực tiềm tàng để từ đó nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, khi nghiên cứu mối tương quan giữa kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào, nhà quản trị luôn gặp khó khắn và kết quả nghiên cứu chỉ mang tính tương đối vì hai chỉ tiêu kết quả và chi phí rất khó được đánh giá chính xác, do chúng có sự ảnh hưởng bởi các yếu tố khác tác động trong quá trình hoạt động. 1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh doanh Nếu như kết quả kinh doanh thể hiện quy mô các khoản thu về từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh phản ánh chất lượng của các khoản đó trong đỉều kiện nhất định với mục tiêu tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh phía trước thông qua mức độ biến động và thay đổi của vốn, tài sản như khả năng quay vòng vốn, hàng tồn kho, vòng quay tài sản ngắn hạn,… Nhóm chỉ tiêu này quan tâm đến những hoạt động kinh doanh trong quá trình hoạt động theo sát bằng những con số trên sổ sách kế toán. Hoạt động này diễn ra trong suốt quá trình kinh doanh và thể hiện đầy đủ trạng thái sản xuất của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh sau cùng đó là những chỉ tiêu sinh lời như tỷ suất sinh lời tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời doanh thu (ROS)… Nhóm chỉ tiêu này đánh giá những số liệu cuối cùng trên sổ sách kế toán tài chính mà không quan tâm đến quá trình kinh doanh diễn ra như thế nào trong suốt chu kỳ kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào kết quả kinh doanh do hoạt động kinh doanh mang lại. Bởi vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp thường xem xét qua các số liệu tĩnh thể hiện trên sổ sách kết hợp với các yếu tố bên ngoài để đánh giá đúng nhất về tình hình doanh nghiêp, từ đó xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Trên thực tế có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh. Phân loại hiệu quả kinh doanh giúp nhà quản trị dễ dàng quản lý và nâng cao hiệu quả. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau và sau đây là một số tiêu thức phân loại thường gặp: 4 Thang Long University Library - Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tƣơng đối Căn cứ theo khía cạnh kết quả, hiệu quả kinh doanh được chia thành: + Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho từng phương án kinh doanh, cho từng doanh nghiệp, từng thời kỳ kinh doanh. Nó được tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra. + Hiệu quả tương đối là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. + Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh doanh dài hạn. Căn cứ theo khía cạnh thời gian đem lại hiệu quả, hiệu quả kinh doanh được phân chia thành: + Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh thu được trong thời gian ngắn nhất với lợi ích thu về sớm nhất. + Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả thu được trong thời gian dài. Hiệu quả kinh doanh dài hạn luôn tiềm ẩn rủi ro song song với những khoản lợi ích với giá trị cao cho doanh nghiệp. Vì vậy, khi nghiên cứu hoạt động của doanh nghiệp, nhà quản trị cần xem xét cả về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài nhằm đưa ra chiến lược kinh doanh hợp lý. - Hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp Căn cứ theo khía cạnh phạm vi, hiệu quả kinh doanh được phân ra gồm: + Hiệu quả kinh doanh bộ phận là thước đo phản ánh trình độ và khả năng sử dụng các bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là các chi phí hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh của từng bộ phận cấu thành, được gọi chung là chi phí lao động và nó được thể hiện thông qua giá thành sản xuất và chi phí sản xuất… Các loại chi phí này được doanh nghiệp đánh giá nhằm xây dựng chiến lược quản lý và kiểm soát chi phí tỉ mỉ và có hiệu quả trong từng khâu, từng giai đoạn sản xuất. Từ đó, doanh nghiệp có thể tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. + Hiệu quả kinh doanh tổng hợp là phạm trù biểu hiện sự phát triển kinh tế có chiều sâu, phản ánh quá trình khai thác nguồn lực trong quá trình sản xuất. Đây là chỉ tiêu đánh giá khái quát chung tình hình của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển ổn định và lâu dài. - Hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội Căn cứ theo khía cạnh đối tượng, hiệu quả kinh doanh được chia gồm: + Hiệu quả kinh tế tài chính (hiệu quả cá biệt) là hiệu quả kinh doanh thu được từ các hoạt động thương mại của từng doanh nghiệp. Nó được thể hiện thông qua lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp thu được khi kinh doanh trên thị trường. 5 + Hiệu quả kinh tế xã hội (hiệu quả kinh tế quốc dân) là sự đóng góp của doanh nghiêp vào lợi ích cộng đồng thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm, nộp ngân sách nhà nước, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu… Cả hai hiệu quả kinh doanh trên đều có mối tương hỗ với nhau. Mỗi một doanh nghiệp đều là một tế bào trong nền kinh tế. Tập hợp của hàng ngàn, hàng triệu cá thể hiệu quả cá biệt hình thành nên hiệu quả kinh tế xã hội. Ngược lại, hiệu quả kinh tế xã hội là cơ sở cho các hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, khi nghiên cứu hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp cần kết hợp giữa hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội nhằm đảm bảo cả lợi ích chung hài hòa lợi ích riêng. 1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh Các thông tin từ việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh là bản khảo sát rõ ràng nhất nhằm phản ánh đúng tình hình sử dụng nguồn lực nhằm mục tiệu lợi ích kinh tế. Mọi hoạt động kinh doanh đều cần cân nhắc tới những phương án và giải pháp nhằm tối ưu hóa nguồn lực sẵn có và tìm kiếm khách hàng mới trên thị trường. Nếu không tận dụng và phát huy tối đa giá trị cốt lõi của doanh nghiệp thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra khó khăn, lợi ích kinh tế mang lại sẽ thấp, chi phí hoạt động cao, doanh nghiệp sản xuất cầm chừng và có thể dẫn đến phá sản. Nền kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển khiến cho doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh trong nước mà còn cạnh tranh với những doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy, để đạt hiệu quả và nâng cao hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp cần tìm lối đi ổn định và các biện pháp nhằm xây dựng hình ảnh trên thị trường. Bên cạnh đó, việc cải tiến và áp dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình hoạt động giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, tiết kiệm tạo điều kiện phát triển. Khi nghiên cứu sự cần thiết của hiệu quả kinh doanh, đối với đối tượng nghiên cứu là HQKD, ngoài những yếu tố mang tầm vĩ mô trên, nhà quản trị không thể bỏ qua các đối tượng vi mô quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp gồm: - Đối với công nhân, nhân viên, cán bộ của doanh nghiệp: Khi doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với chất lượng cuộc sống của người lao động được thay đổi theo chiều hướng tốt. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. Điều này giúp họ đảm bảo lợi ích cá nhân mà còn có điều kiện chăm lo cho gia đình. Do đó người lao động có thể làm việc ổn định với năng suất cao thì hoạt động của doanh nghiệp sẽ có hiệu quả cao, dẫn đến tình hình xã hội cũng được cải thiện, qua đó ảnh hưởng tích cực tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. 6 Thang Long University Library - Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp nhà quản trị có cái nhìn khách quan và cụ thể nhất tình hình hoạt động của công ty. Từ đó, nhà quản trị sẽ xây dựng và phát triển các phương án kinh doanh ngắn, trung và dài hạn hiệu quả phù hợp với ngành nghề, mô hình hoạt động của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp nhà quản trị quản trị tốt chi phí và hiệu quả sử dụng tài sản, vốn trong quá trình hoạt động tạo điều kiện doanh nghiệp ổn định và phát triển lâu dài trên thị trường. - Đối với nhà đầu tư, ngân hàng: Đối với nhà đầu tư hay ngân hàng thì mục đích cuối cùng của hoạt động đầu tư là thu hồi vốn và sinh lời. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở thông tin nhằm đánh giá tình hình đầu tư, cho vay mang tới lợi ích kinh tế cao nhằm mục tiêu nhanh chóng thu hồi vốn, lãi trong quá trình kinh doanh và quyết định đầu tư, cho vay thêm hay rút vốn nhằm bảo toàn nguồn vốn đầu tư. - Đối với xã hội: Lợi nhuận của doanh nghiệp sau hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng hết toàn bộ mà cần phân phối một phần cho ngân sách nhà nước. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh chuyển biến theo hướng tích cực giúp các cơ quan chức năng quản lí và kiểm tra nghĩa vụ của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước và việc thực hiện luật pháp, chế độ tài chính từ đó có những kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện thể chế chính sách trong kinh doanh tạo môi trường kinh doanh công bằng. 1.3 Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.3.1 Đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh Đánh giá hiệu quả kinh doanh giúp nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt mức độ kinh doanh của doanh nghiệp, xu hướng và các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới quá trình sản xuất kinh doanh trên thị trường. Việc đánh giá bất kỳ một vấn đề nào đều cần hệ thống chỉ tiêu riêng và phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Các đối tượng nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kinh doanh gồm hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác dụng của kết quả này còn hỗ trợ doanh nghiệp quản lý nguồn lực, cắt giảm chi phí không đem lại hiệu quả, nâng cao giá trị thu về trong trường hợp doanh thu và sản lượng vẫn tương đương hoặc bằng sản lượng cũ, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, phát triển doanh nghiệp ổn định và lâu dài. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh được phản ánh qua kết quả của khả năng sinh lời. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận của doanh nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí, yếu tố đầu vào hoặc cũng có thể là 7 kết quả sản xuất. Nó cho biết khả năng liên kết của việc quản trị thanh khoản, tài sản, nợ đối với hoạt động kinh doanh. Từ đó, kết quả của các chỉ tiêu sinh lời giúp DN xây dựng chiến lược kinh doanh có hiệu quả. Các chỉ tiêu DN thường sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh gồm: - Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) = x100 Vốn chủ sở hữu bình quân Đơn vị tính: % Khi phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhằm loại bỏ ảnh hưởng của thuế TNDN mà doanh nghiệp không kiểm soát được người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu với tử số là lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được hình thành từ tổng lợi nhuận kế toán trước thuế trừ đi chi phí thuế TNDN hiện hành và chi phí thuế TNDN hoãn lại. Chỉ tiêu ROE cho biết trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phân tích cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao, đồng thời vốn đầu tư của CSH được quản lý và sử dụng tốt, hiệu quả kinh doanh cao và ngược lại, khi trọng số của chỉ tiêu thấp chứng tỏ khả năng sinh lời từ vốn chủ sở hữu thấp và hiệu quả kinh doanh kém. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu là kết quả quan trọng để doanh nghiệp đưa ra các quyết định về hoạt động quản lý và sử dụng vốn trong doanh nghiệp. - Tỷ suất sinh lời của tài sản Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tài sản = (ROA) x100 Tổng tài sản bình quân Đơn vị tính: % Tỷ suất sinh lời của tài sản (còn gọi là sức sinh lời của tài sản – Return on total assets) cho biết: Trong 100 đồng tài sản được chủ đầu tư đưa vào HĐKD nhằm sinh lời thì đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này cao chứng tỏ sức sinh lời của khoản mục đầu tư vào tài sản cao, nguồn lực từ tài sản được doanh nghiệp khai thác tốt, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngược lại. Chỉ số của chỉ tiêu càng thấp mức sinh lời từ tài sản thấp, hiệu quả kinh tế thấp. Từ kết quả tính toán, doanh nghiệp có thể tính toán khả năng mở rộng đầu tư thiết bị máy móc, phân xưởng… tăng quy mô thị trường hay cắt bỏ nhằm thu hồi vốn. 8 Thang Long University Library - Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) = x100 Tổng doanh thu Đơn vị tính:% Chỉ số tỷ suất sinh lời của doanh thu – Return on sales, đánh giá số lợi nhuận thực tế để lại chiếm bao nhiêu phần trong doanh thu thuần. Hay nói cách khác, cứ 100 đồng doanh thu thuần đem về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với doanh nghiệp thì trong bất cứ quyết định dài hạn nào của doanh nghiệp mục tiêu tạo lợi nhuận và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là mục đích hàng đầu. Do đó, khi tổng doanh thu tăng đồng nghĩa chi phí tăng và yêu cầu mức tăng của chi phí không thể cao hơn mức tăng của doanh thu để tạo chênh lệch thu lợi ích cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao và kiểm soát tốt chi phí, khả năng cạnh tranh trên thị trường mạnh và ngược lại. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của doanh thu thấp chứng tỏ chi phí của doanh nghiệp chưa được quản lý tốt và công tác kiểm soát chi phí của doanh nghiệp còn chưa được tốt. 1.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp được xem xét thông qua mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn được doanh nghiệp sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Sử dụng nguồn vốn sau khi huy động vào hoạt động đầu tư cho cơ cấu tài sản như thế nào nhằm thu được lợi ích sinh lời cao nhất luôn là câu hỏi được đặt ra với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường. Trong suốt chu kỳ kinh doanh, quá trình mở rộng quy mô, tăng thị trường tiêu thụ nhằm tăng khả năng cạnh tranh là mục tiêu ngắn, trung và dài hạn của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu tài chính phù hợp với quy mô, đặc điểm và tính chất của từng nhóm tài sản khác nhau nhằm vận dụng các phương pháp phân tích phù hợp để đưa ra kết quả chuẩn phục vụ cho quá trình khai thác thông tin trong doanh nghiệp của các đối tượng quan tâm khác nhau. 1.3.2.1 Hiệu quả sử dụng tài sản chung Tài sản là một bộ phận quan trọng hình thành nên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người lao động tác động vào tư liệu lao động, thông qua quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm trao đổi trên thị trường. Do vậy, nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh cần nghiên cứu mảng tổng quan hiệu quả sử dụng tài sản chung. Phương pháp nghiên cứu của doanh nghiệp nói chung hay nhà quản trị nói riêng khi nghiên cứu bất cứ đối tượng nào tác động tới doanh nghiệp ở đây là tài sản, cần đặt tài sản 9 trong mối quan hệ với các chủ thể khác nhằm so sánh, phân tích đánh giá những tác động qua lại của đối tượng nghiên cứu. Đối với tài sản những chỉ tiêu thường được doanh nghiệp quan tâm khi xem xét hiệu quả sử dụng tài sản: Số vòng quay của tài sản, Tỷ suất sinh lời của tài sản và suất hao phí của tài sản với doanh thu thuần, tỷ suất hao phí của tài sản với lợi nhuận sau thuế. - Số vòng quay của tài sản (Total assets turnover) Tổng doanh thu thuần Vòng quay của tài sản = Tài sản bình quân Đơn vị tính: Vòng Số vòng quay của tài sản cho biết mỗi đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Trong mối quan hệ này, khi hệ số của vòng quay tài sản càng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tài sản vận động nhanh, tăng doanh thu, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu chỉ số này thấp, số vòng quay tài sản nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp quản lý tài sản chưa hợp lý, chưa khai thác hết hiệu quả của tài sản, gây thất thoát, lãng phí và tăng chi phí cho doanh nghiệp, giảm doanh thu, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Tỷ suất sinh lời của tài sản ( ROA) Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tài sản = (ROA) x100 Tổng tài sản Đơn vị tính:% Chỉ số của công thức tỷ suất sinh lời của tài sản trong kì phân tích cho biết khả năng tạo lợi nhuận sau thuế trên một đơn vị tài sản. Nó cho biết khi doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng tài sản thì thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này tương tự như phân tích khái quát chung trong hiệu quả kinh doanh đã đề cập ở phần trên. Tuy nhiên, ngoài cách triển khai theo công thức chuẩn, chỉ tiêu ROA khi phân tích theo mô hình Du Pont (Du Pont Equation) sẽ giúp nhà quản trị biết rõ được cụ thể bộ phận tài sản, chi phí, doanh thu nào ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh lời của một đồng tài sản mà DN sử dụng. Lợi nhuận Tổng doanh thu Lợi nhuận sau Tỷ suất sinh lời sau thuế thuần thuế của tài sản = = x (ROA) Tổng tài sản Tổng tài sản Tổng DT thuần 10 Thang Long University Library Tỷ suất sinh lời của tài sản = Số vòng quay của TS x Tỷ suất sinh lời của DT thuần Chỉ tiêu sinh lời từ tài sản bị ảnh hưởng bởi vòng quay tài sản và khả năng sinh lời của DT. Chỉ cần một trong hai chỉ tiêu này thay đổi sẽ tác động trực tiếp tới tỷ suất ROA của DN. Số vòng quay tài sản càng nhiều cho thấy sức sinh lời của các tài sản càng nhanh, tổng doanh thu cao. Bên cạnh đó, DT luôn có quan hệ cùng chiều, mật thiết với tài sản nên khi DT tăng chứng tỏ tài sản của DN cũng tăng. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời ROA còn phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời DT (ROS). Tỷ suất sinh lời của DT cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trong tổng DT mà DN thu được trong quá trình HĐKD. Chỉ số của tỷ suất sinh lời từ DT càng cao chứng tỏ lợi nhuận của DN thu về cao, DN kinh doanh có lãi. Tỷ suất sinh lời từ DT được đánh giá là tốt khi lợi nhuận và doanh thu cùng tăng hoặc doanh thu giảm do DN không còn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh không hiệu quả khiến lợi nhuận giảm nhưng giảm ít hơn DT. Ngoài ra, tỷ suất sinh lời DT còn được đánh giá có hiệu quả khi lợi nhuận DN tăng do DN quản lý và kiểm soát tốt chi phí. - Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần Tổng tài sản Suất hao phí của tài sản = so với doanh thu thuần Doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ Đơn vị tính: lần Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải chi ra bao nhiêu đồng tài sản bình quân. Chỉ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang phải mất rất nhiều chi phí từ đầu tư tài sản cho hoạt động kinh doanh trên thị trường, doanh nghiệp đang gặp vấn đề trong công tác kiểm soát chi phí phát sinh, doanh thu thuần không đủ để đảm bảo cho tài sản bình quân, lợi nhuận thu được không cao, HQKD của DN thấp. - Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế Tài sản Suất hao phí của tài sản = so với LN sau thuế Lợi nhuận sau thuế TNDN Đơn vị tính: lần Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế cho biết khả năng tạo lợi nhuận từ tài sản mà doanh nghiệp đang đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp mất bao nhiêu đồng tài sản. Phân tích gần giống với chỉ tiêu suất khấu hao tài sản so với doanh thu thuần, khi chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp đang khai thác tài sản có hiệu quả, 11 hoạt động đầu tư cho kinh doanh hấp dẫn, khả năng sinh lời cao góp phần tăng trưởng cho doanh nghiệp. 1.3.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh thường là 1 năm. Tài sản lưu động là bộ phận quan trọng cấu thành nên tài sản của doanh nghiệp và là nguồn kinh tế có thể tính bằng tiền mà doanh nghiệp có hoặc doanh nghiệp khống chế. Tài sản ngắn hạn hay được gọi là tài sản lưu động có thời gian vận động liên tục và thường xuyên luôn chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình vận động của tài sản lưu động bắt nguồn từ việc dùng tiền mua sắm vật tư cho quá trình sản xuất, tiến hành sản xuất, bán sản phẩm với giá trị tăng thêm. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp tài sản lưu động được biểu hiện ở các trạng thái: Tiền và các chứng khoán khả thị (Cash and maketable sercurities), Các khoản phải thu (Account receviable), Hàng tồn kho (Inventory), Tài sản lưu động khác. Nghiên cứu và quản lý việc sử dụng tài sản lưu động góp phần hoàn thiện kế hoạch kinh doanh có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, khai thác hết nguồn lực, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản lưu động gồm: - Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tài sản = ngắn hạn x100 Tài sản ngắn hạn bình quân Đơn vị tính:% Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu giúp doanh nghiệp đánh giá khả năng tạo lợi nhuận từ tài sản ngắn hạn. Từ đó, doanh nghiệp có kế hoạch quản lý và khai thác nguồn tài sản có hiệu quả. Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp đầu tư 100 đồng tài sản ngắn hạn có thể thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang quản lý tốt hoạt động sản xuất, dễ dàng nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Số vòng quay của tài sản ngắn hạn ( Sức sản xuất của TSNH) Tổng doanh thu thuần Vòng quay của tài sản ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn bình quân Đơn vị tính: Vòng 12 Thang Long University Library Số vòng quay của tài sản ngắn hạn cho biết thời gian luân chuyển giá trị tài sản ngắn hạn vào doanh thu thuần. Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần sau một chu kì kinh doanh. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ tài sản của DN đang được sử dụng có hiệu quả, tài sản vận động nhanh, sức sinh lời cho doanh nghiệp cao. Số vòng quay tài sản đánh giá năng lực sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp. Chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng giúp nhà quản trị so sánh, phân tích và đưa ra quyết định nên đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm khai thác tối đa sản lượng có thể sản xuất hoặc cung cấp. - Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với doanh thu thuần Tài sản ngắn hạn Suất hao phí của tài sản NH = so với DT thuần Doanh thu thuần Đơn vị tính: lần Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân trong kì tạo thành. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang tốn quá nhiều tài sản ngắn hạn để tạo ra một đồng doanh thu thuần. Điều này đồng nghĩa với việc quản lý, kiểm soát hiệu quả sử dụng tài sản của DN chưa tốt khiến cho chi phí khấu hao của tài sản ngắn hạn vào doanh thu cao, mức độ cạnh tranh bị ảnh hưởng, lợi nhuận thu về của DN không đạt mục tiêu. - Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế Tài sản ngắn hạn Suất hao phí của tài sản NH = so với LN sau thuế Lợi nhuận sau thuế TNDN Đơn vị tính: lần Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế là chỉ số chỉ khả năng tạo lợi nhuận của một đồng tài sản ngắn hạn bình quân. Nói cách khác, một đồng lợi nhuận sau thuế cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân. Suất hao phí của tài sản ngắn hạn càng cao cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản không hiệu quả, doanh thu đạt được thấp hơn mức tối ưu mà tài sản có thể được sử dụng. Chỉ tiêu này giúp DN quản lí và xây dựng chiến lược sử dụng tài sản có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, sử dụng tối đa nguồn lực từ TSNH nhằm đạt mức lợi nhuận sau thuế cao nhất trong nguồn lực sẵn có DN đang khai thác trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. 13 1.3.2.3 Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là những tài sản có giá trị lớn (từ 30 triệu đồng trở lên); được sử dụng, luân chuyển và thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kì kinh doanh). Nguồn vốn tài trợ cho tài sản dài hạn trong doanh nghiệp thường là nguồn vốn dài hạn. Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm: TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống nhiều bộ phận tài sản liên kết theo nhiệm vụ và chức năng nhất định), thỏa mãn tiêu chuẩn tài sản cố định, tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh, dễ dàng đánh giá giá trị bằng tiền tệ do ở trạng thái vật chất. TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn tiêu chuẩn tài sản cố định, tham gia nhiều chu kì kinh doanh như: bằng sáng chế, quyền tác giả… Khó đánh giá giá trị do ở trạng thái phi vật chất. TSCĐ thuê tài chính: là những tài sản mà doanh nghiệp thuê tài chính cho doanh nghiệp thuê với hợp đồng của 2 bên. Tài sản thuê được chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn liền của chủ sở hữu tài sản cho bên đi thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao cuối thời hạn cho thuê. Tổng số tiền thuê luôn lớn hơn hoặc bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm kí kết. Đầu tư tài chính dài hạn: các khoản đầu tư này không phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh do đầu tư ngoài doanh nghiệp mà chủ yếu những khoản đầu tư dài hạn với mục đích sinh lời từ lãi vay cao trong quá trình đầu tư tương đương với rủi ro cao. Các khoản đầu tư tài chính: Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp liên doanh, liên kết… TSCĐ dở dang: Là những tài sản cố định vô hình hoặc hữu hình đang được hình thành, chưa được sử dụng… Ngoài ra những khoản kí quỹ dài hạn cũng được coi là tài sản dài hạn. Trong doanh nghiệp tài sản dài hạn thường chiếm tỉ trọng khá cao trong tổng tài sản. Đặc điểm của tài sản dài hạn: Thời gian sử dụng lớn hơn 1 năm và tài sản sẽ tham gia trong nhiều niên độ kinh doanh. Giá trị của tài sản được vận động luân chuyển dần vào giá trị sản phẩm đầu ra – chi phí khấu hao trong bảng cân đối kế toán. Do đó, giá trị của tài sản sẽ giảm dần và thường được doanh nghiệp định giá lại sau một thời gian nhất định. Để phân tích, quản lý, đánh giá việc biến động tài sản, doanh nghiệp sắp xếp hệ thống thông tin kế toán quản trị giúp doanh nghiệp khai thác giá trị tài sản tối đa trong nguồn lực khan hiếm nhằm tăng tính cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh doanh gồm: 14 Thang Long University Library - Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tài sản = dài hạn x100 Tài sản dài hạn Đơn vị tính:% Tỷ suất sinh lời của tài sản dài hạn được sử dụng để phản ánh khả năng tạo lợi nhuận từ tài sản dài hạn. Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng giá trị tài sản dài hạn bình quân có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế được sinh ra. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ sức sinh lời của tài sản dài hạn càng cao, lợi ích thu về tương xứng với chi phí đầu tư bỏ ra. Chỉ tiêu này là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp mở rộng quy mô, thay thế hay hiện đại hóa TSCĐ trong giới hạn nguồn lực cho phép, đầu tư vào tài sản dài hạn với mục đích tăng tốc độ phát triển kinh doanh. - Sức sản xuất của tài sản dài hạn Doanh thu thuần Sức sản xuất của tài sản dài hạn = Tài sản dài hạn Đơn vị tính: lần Chỉ tiêu sức sản xuất của tài sản dài hạn cho biết khi DN đầu tư một đồng TSDH vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì có khả năng tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiểu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cao, tài sản dài hạn được vận dụng có hiệu quả, khai thác được năng suất theo yêu cầu, doanh thu tăng, lợi nhuận của DN thay đổi tích cực. Chỉ tiêu này là yếu tố quan trọng thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đánh giá các quyết định đầu tư của DN. - Sức hao phí của tài sản dài hạn so với doanh thu Tài sản dài hạn Suất hao phí của tài sản dài hạn = so với doanh thu thuần Doanh thu thuần Đơn vị tính: lần Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần cho biết trong một đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng tài sản dài hạn cần để sử dụng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh thu thuần không đảm bảo khả năng hoàn vốn cho tài sản dài hạn, chi phí trong DN chưa được kiểm soát và quản lý có hiệu quả gây lãng phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, sức hao phí của TSDH so với doanh thu cũng đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN. Đây là căn cứ để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, 15 đồng thời giúp doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn dài hạn phụ thuộc vào cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp. - Suất hao phí của tài sản dài hạn so với lợi nhuận Tài sản dài hạn Suất hao phí của tài sản dài hạn = so với LN sau thuế Lợi nhuận sau thuế TNDN Đơn vị tính: lần Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo lợi nhuận của tài sản dài hạn. Hay nói cách khác, trong một đồng lời nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản dài hạn trong một chu kì kinh doanh. Suất hao phí của tài sản dài hạn càng cao cho thấy doanh nghiệp đang đầu tư nhiều vào tài sản dài hạn nhưng lợi nhuận sau thuế thu lại chưa tương xứng với khoản đầu tư đó. Ngoài ra, có thể do DN đang gặp khó khăn trong sử dụng tài sản dài hạn nhằm đạt được mức lợi nhuận tối ưu. Đây cũng là chỉ tiêu doanh nghiệp phân tích làm căn cứ xác định nhu cầu vốn nhằm đầu tư phù hợp. Tài sản dài hạn do nhiều đối tượng hình thành. Tuy nhiên, trong tài sản dài hạn, tài sản cố định thường chiếm tỉ trọng cao. Do vậy, ảnh hưởng của TSDH thường bị chi phối bởi ảnh hưởng của TSCĐ và do TSCĐ quyết định. Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, DN thường sử dụng các chỉ tiêu sau: - Tỷ suất sinh lời của TSCĐ Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tài sản = cố định x100 Tài sản cố định Đơn vị tính:% Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng sản xuất của tài sản cố định. Sức sản xuất của TSCĐ cho biết trong một đồng đầu tư cho TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng sản xuất của tài sản cố định tốt, tài sản cố định hoạt động có hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Xác định được sức sản xuất của TSCĐ giúp DN nắm bắt rõ khả năng sản xuất của tài sản từ đó vận hành và sử dụng tài sản có hiệu quả, giảm chi phí, tạo thêm lợi nhuận. Ngoài ra, sức sản xuất của tài sản cố định phục vụ cho các quyết định đầu tư mở rộng sản xuất của DN. - Suất hao phí của TSCĐ Tài sản cố định Suất hao phí của tài sản cố định = Doanh thu thuần Đơn vị tính: lần 16 Thang Long University Library Suất hao phí của tài sản cố định cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thuần DN mất bao nhiêu đồng tài sản cố định. Công thức của chỉ tiêu này tỉ lệ nghịch với công thức của sức sản xuất của tài sản cố định. Nếu như chỉ tiêu sức sản xuất của TSCĐ càng cao thì DN càng hoạt động có hiệu quả thì chỉ tiêu suất hao phí của TSCĐ ngược lại. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đang tốn một khoản chi phí lớn đầu tư vào TSCĐ cho hoạt động kinh doanh nhưng kết quả thu được không tương xứng, DN chưa khai thác được hiệu quả tối ưu của TSCĐ. Chỉ tiêu suất hao phí của TSCĐ đánh giá mức độ sử dụng TSCĐ để từ đó hỗ trợ DN xác định các biện pháp quản lý tài sản có hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. 1.3.3 Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn trong DN là biểu hiện bằng tiền hoặc tài sản hay là nguồn hình thành tài sản. Nguồn vốn quyết định hoạt động kinh doanh của DN và là nguồn tài trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung ứng sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Xác định rõ tầm quan trọng của nguồn vốn giúp DN phân loại và quản lý nguồn lực quan trọng này một cách có hiệu quả. Một trong những phương pháp phân loại nguồn vốn được DN sử dụng đó là phân loại theo nguồn hình thành gồm: Nguồn vốn phân loại theo nguồn hình thành gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay. Nguồn gốc của nguồn vốn doanh nghiệp được hình thành từ vốn chủ sở hữu và vốn đi vay. Vốn vay là khoản nợ và nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thanh toán bằng tiền, tài sản hoặc dịch vụ trong thời hạn nhất định. Các hình thức vay vốn gồm: Vay ngân hàng, tín dụng thương mại, phát hành các công cụ nợ. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp và được bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh. Vốn chủ sở hữu gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia – lợi nhuận ròng còn lại sau khi đã phân bổ hết các khoản cần thiết nhằm mục đích tái đầu tư, phát hành cổ phiếu mới. Vốn chủ sở hữu hay vốn vay đều là sản phẩm của thị trường tiền tệ, nó yêu cầu người mua trả giá với một khoản thù lao nhất định. Từ quy mô, cách thức sử dụng, mục đích sử dụng khác nhau, doanh nghiệp có các cách quản lí vốn khác nhau như chiến lược mạo hiểm, chiến lược thận trọng hay chiến lược trung hòa. Để từ đó, DN có các phương pháp sử dụng và kết hợp các chính sách quản lý vốn và tài sản phù hợp. Quản lý và khai thác vốn có hiệu quả không chỉ giúp DN tạo lợi nhuận, tăng nguồn vốn, mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn giúp DN tạo lợi thế cạnh trạnh với đối thủ, khai thác và phát triển thị trường. 17 1.3.3.1 Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của chủ sở hữu - Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của VCSH = (ROE) x100 Vốn chủ sở hữu Đơn vị tính:% Lợi nhuận sinh lời của vốn chủ sở hữu cho biết trong 1 đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế TNDN. Chỉ tiêu này đã được phân tích tương tự như phần khái quát chung đã trình bày ở phần trên. Tuy nhiên, khi khai triển công thức này theo mô hình Du Pont, doanh nghiệp dễ dàng nhận diện được các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu sinh lời ROE. Tỷ suất sinh lời LNST LNST DTT Tổng tài sản ROE = = x x VCSH DTT Tổng tài sản VCSH Tỷ suất sinh lời Tỷ suất sinh lời Số vòng quay Hệ số sử của VCSH = của doanh thu x TTS x dụng VCSH (ROE) (ROS) Từ công thức trên có thể thấy lợi nhuận sinh lời ROE bị tác động bởi sức sinh lời của doanh thu, hiệu quả sử dụng tài sản và hệ số vốn CSH. Các nhân tố thay đổi trên tác động trực tiếp tới kết quả của chỉ tiêu ROE . Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời từ VCSH cao có thể do các nhân tố sau: Lợi nhuận sau thuế cao khiến tỷ suất sinh lời từ doanh thu cao, chi phí giảm; số vòng quay tổng tài sản vận động nhanh hay có thể do vốn chủ sở hữu có xu hướng giảm do DN tìm kiếm được nguồn vốn khác tài trợ giúp tỷ số tài sản trên VCSH tăng. Việc tìm kiếm được những nguồn tài trợ khác ngoài VCSH giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu, tăng mức độ độc lập khi sử dụng vốn. Tuy nhiên rủi ro tỉ lệ nghịch với lợi nhuận thu về của doanh nghiệp. Sử dụng nguồn vốn như thế nào, quản lý và sử dụng vốn làm sao cho hợp lý nằm trong quyết định của nhà quản trị giúp nâng cao và phát triển bền vững DN. 1.3.3.2 Hiệu quả sử dụng vốn vay Vốn vay là nguồn vốn phổ biến nhất đối với tất cả các loại hình DN. Không một công ty nào có thể hoạt động mà không sử dụng vốn vay ngân hàng hay tín dụng thương mại nhằm phát triển bền vững. Nguồn vốn này được phân chia theo thời gian sử dụng ngắn hạn (<1 năm), trung hạn (1 – 3 năm) và dài hạn (>3 năm) với lãi suất cho vay – chi phí đi vay của doanh nghiệp tăng dần. Nguồn vốn đi vay là nguồn vốn nợ và 18 Thang Long University Library doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi khi tới một khoản thời gian nhất định với giá trị luôn cao hơn hoặc bằng giá trị ban đầu của khoản vay. Do đó, để đảm bảo và phát triển vốn cho DN, nhà quản trị cần phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay nhằm xây dựng phương pháp sử dụng vốn hiệu quả. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay gồm: - Tỷ suất sinh lời của tiền vay Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lời của tiền vay = x100 Tiền vay bình quân Đơn vị tính:% Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng tiền vay tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất sinh lời của tiền vay đánh giá năng lực tạo lợi nhuận từ những khoản doanh nghiệp vay trên thị trường tài chính phục vụ mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức sinh lời từ vốn vay cao, hiệu quả sử dụng vốn tốt, tiền vay luôn được đảm bảo đủ bởi lợi nhuận và ngược lại. Đây cũng là chỉ tiêu giúp doanh nghiệp quyết định chính sách quản lý và sử dụng vốn lâu dài cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của mình. - Hiệu quả sử dụng lãi vay Lợi nhuận trước thuế và chi phí lãi vay Hiệu quả sử dụng lãi vay = Chi phí lãi vay Đơn vị tính: lần Chỉ tiêu này cho biết lợi nhuận trước thuế và lãi vay có đủ tài trợ cho chi phí lãi vay trong một kì kinh doanh mà DN phân tích. Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dụng vốn vay vào quá trình tăng doanh thu, tạo lợi nhuận cho DN. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lãi vay càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đủ hoặc thừa khả năng đảm bảo khả năng trả nợ, tăng mức độ hấp dẫn các nhà tín dụng thương mại. 1.3.4 Hiệu quả sử dụng chi phí Doanh nghiệp kể cả khi hoạt động hoặc tạm ngừng hoạt động đều phát sinh chi phí. Chi phí được thể hiện dưới hình thái vật chất dễ đánh giá hoặc phi vật chất. Chi phí mà doanh nghiệp thường tập trung tại chi phí đầu vào, chi phí sản xuất bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Các chi phí trong doanh nghiệp dù là chi phí ẩn hay chi phí hiện đều là những khoản mất đi trong quá trình hoạt động kinh doanh và cần được theo dõi, phân tích và quản lý có hiệu quả. 19 Bản chất của chi phí là dòng tiền mất đi của doanh nghiệp nhằm tạo ra thành phẩm trong quá trình sản xuất, chi phí phát sinh ở nhiều khâu khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh, tuy nhiên DN hoạt động trên mục tiêu lợi nhuận vì vậy DN luôn yêu cầu các khoản chi phí tối thiểu song song với lợi nhuận tối đa. Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quản lý tài sản, nguồn vốn thì đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí là bước quan trọng giúp doanh nghiệp đưa ra các biện pháp kiểm soát chi phí trong hạn mức thấp nhất và có thể, khai thác và vận dụng nguồn lực cho phép vào hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí, DN thường đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: - Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí Lợi nhuận kế toán trước thuế Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí = x100 Tổng chi phí Đơn vị tính:% Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tổng chi phí cho biết 100 đồng chi phí được sử dụng trong HĐKD tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này cho thấy sức sinh lời từ khoản đầu tư chi phí mà doanh nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ lợi nhuận thu được của doanh nghiệp cao, chi phí kiểm soát tốt hoặc mức tăng của doanh thu lớn hơn mức tăng của chi phí khiến tốc độ tăng trưởng của DN ổn định. Kết quả cuả chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tổng chi phí giúp doanh nghiệp phân tích, quản lý hoạt động sử dụng vốn có hiệu quả. Đồng thời chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp xem xét các nguyên nhân ảnh hưởng tới chi phí và lợi nhuận, nắm rõ được ưu điểm và nhược điểm của DN nhằm khai thác và quản lý có hiệu quả. - Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán Lợi nhuận gộp về BH và cung cấp DV Tỷ suất sinh lời của GVHB = x100 Giá vốn hàng bán Đơn vị tính:% Chỉ tiêu này cho biết trong quá trình phân tích chu kì kinh doanh của doanh nghiệp, khi doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng giá vốn thì lợi nhuận thu về là bao nhiêu đồng. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ lợi nhuận chiếm tỉ trọng cao hơn tỉ trọng giá vốn, doanh nghiệp đang sinh lời trên khoản hàng hóa đầu tư, doanh thu tăng cho dù lượng bán trên thị trường ổn định. Tỷ suất sinh lời từ giá vốn giúp doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm thu lại lợi nhuận cao nhất, từ đó tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp ổn định và khả quan. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -