Giải pháp hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty tnhh hưng phát

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.1 Đặc điểm của hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức kế toán trong doanh nghiệp xây lắp 1.1.1 Đặc điểm hoạt động xây lắp Trong quá trình đầu tư XDCB nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân thì các doanh nghiệp xây lắp giữ vai trò quan trọng. Doanh nghiệp xây lắp là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, được thành lập theo quy định của pháp luật, nhận thầu thi công xây lắp các công trình xây dựng với nhiều hình thức như: xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình xây dựng mới; cải tạo, trùng tu, bảo trì các công trình xây dựng. Các doanh nghiệp xây lắp tuy khác nhau về quy mô sản xuất, hình thức quản lý nhưng đều là những tổ chức hoạt động sản xuất xây lắp trong ngành XDCB. Hoạt động xây lắp là hoạt động sản xuất có tính chất công nghiệp, tuy nhiên đó là hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp đặc biệt. Đặc điểm của hoạt động sản xuất xây lắp có ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức công tác kế toán của các doanh nghiệp xây lắp, cụ thể: - Sản phẩm xây lắp mang tính riêng lẻ. Mỗi sản phẩm của sản xuất xây lắp đều có yêu cầu và mặt cấu trúc, mỹ thuật, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu về mặt tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể. - Sản phẩm của xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công dài. Do đặc điểm này mà mọi công trình phải được lập dự toán và quản lý chi phí xây lắp công trình theo dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công). Đối tượng hạch toán chi phí, đối tượng và kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp cũng được xác định phù hợp với đặc điểm này. - Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện sản xuất (xe cộ, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm sản xuất sản phẩm. Trang 1 - Sản xuất xây lắp thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, thiên nhiên, thời tiết và do đó việc thi công xây lắp ở một mức độ nào đó mang tính chất thời vụ. Do đặc điểm này, trong quá trình thi công xây lắp có thể phát sinh các khối lượng công trình xây lắp phải phá đi làm lại và các thiệt hại do ngừng sản xuất, doanh nghiệp cần có kế hoạch điều độ cho phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành. - Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu). Vì đã quy định giá cả của sản phẩm xây lắp trước khi tiến hành xây lắp công trình thông qua hợp đồng giao nhận thầu, nên việc tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp xây lắp được thực hiện thông qua việc bàn giao công trình xây lắp hoàn thành cho chủ đầu tư. Như vậy, với đặc điểm sản xuất xây lắp đã nêu trên có ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp. Công tác kế toán, vừa đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ của kế toán trong một doanh nghiệp sản xuất, vừa đáp ứng với đặc thù riêng của loại hình doanh nghiệp xây lắp. 1.1.2 Nhiệm vụ và vai trò của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.1.2.1 Nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Nhiệm vụ đặt ra cho công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp xây lắp là: - Thực hiện các tiêu chuẩn chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ sách kế toán phải phù hợp với quy định của Nhà nước. Các chuẩn mực cũng như chế độ kế toán. - Xác định được đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp dựa trên đặc điểm tổ chức SXKD và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp. - Tổ chức tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Trang 2 - Tính toán chính xác giá thành thực tế của đối tượng tính giá thành và thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện công tác tính giá thành của doanh nghiệp. - Định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp nhằm cung cấp thông tin cần thiết cho ban quản lý, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định kinh doanh kịp thời và phù hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh. 1.1.2.2 Vai trò của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng tính đủ giá thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn với công tác quản lý chi phí, giá thành xây dựng trong việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và ở các tổ đội xây dựng nói riêng. Với chức năng là ghi chép tính toán, phản ánh và giám sát thường xuyên liên tục sự biến động của vật tư, tài sản, tiền vốn, kế toán sử dụng thước đo hiện vật và thước đo giá trị để quản lý chi phí. Thông qua số liệu do kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình trong quá trình SXKD. Qua đó, nhà quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư, vốn là tiết kiệm hay lãng phí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đưa ra những quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường. Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động SXKD chỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác. Về phần giá thành thì giá thành lại chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp. Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp để xác định nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu rất cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng. Tính đúng tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, tránh tình trạng lãi giả, lỗ thật. Khi nền kinh tế đang trong Trang 3 thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, các doanh nghiệp đang hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là giá thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được chủ động hoạt động SXKD theo phương hướng riêng và phải tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp còn phải thực hiện đúng theo những quy luật khách quan. Như vậy, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là phần không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp xây lắp khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa là nó có ý nghĩa to lớn và chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp. 1.2 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.2.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp. Theo đó, chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của lao động sống còn chi phí về nguyên vật liệu,… là biểu hiện bằng tiền của lao động vật hoá. 1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau như phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí …. Mỗi cách phân loại này đều đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán, kiểm tra ở các góc độ khác nhau. Đối với nước ta hiện nay, việc phân loại chi phí được áp dụng theo đặc điểm SXKD, đặc điểm quản lý của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo các tiêu thức sau: a. Phân theo yếu tố chi phí: là việc phân chia chi phí thành những yếu tố chi phí khác nhau nhằm phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu đồng nhất mà không xét đến công dụng cụ thể hay địa điểm phát sinh của chi phí. Trang 4 Để cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể và tuỳ theo yêu cầu, trình độ quản lý mà mức độ chi tiết của các yếu tố có thể khác nhau. Theo quy định hiện hành ở Việt nam, toàn bộ chi phí được chia làm 5 yếu tố chi phí sau: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ,… sử dụng vào SXKD (loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi). + Chi phí nhân công: Phản ánh toàn bộ số tiền lương và các khoản trích như BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương của CNSX, công nhân sử dụng MTC và nhân viên quản lý sản xuất ở các bộ phận, đội sản xuất.. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích trong kỳ của tất cả các TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào SXKD. + Chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ. b.Phân theo khoản mục chi phí: Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng nhằm tạo thuận lợi cho việc tính giá thành sản phẩm. Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, chi phí sản xuất ở đơn vị xây lắp bao gồm: + Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là các chi phí của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc…cần thiết để tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp. + Chi phí nhân công trực tiếp: Là chi phí tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình. Không bao gồm các khoản trích theo tiền lương như KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN của công nhân trực tiếp xây lắp. + Chi phí sử dụng máy thi công: Là chi phí cho các MTC nhằm thực hiện khối lượng công tác xây, lắp bằng máy. Chi phí sử dụng MTC bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời. Trang 5 Chi phí thường xuyên sử dụng MTC gồm: Lương chính, lương phụ của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy…; chi phí vật liệu, chi phí CCDC, chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí khác bằng tiền. Chi phí tạm thời sử dụng MTC gồm: Chi phí sửa chữa lớn MTC; chi phí công trình tạm thời cho MTC (lều, lán,…). Chi phí tạm thời có thể phát sinh trước (được hạch toán vào TK 142) sau đó được phân bổ dần vào bên Nợ TK 623. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí xây, lắp trong kỳ, trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí, sử dụng TK 335 (ghi Nợ TK 623, Có TK 335). + Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng gồm: Lương của nhân viên quản lý đội xây dựng, các khoản trích theo tiền lương theo tỷ lệ quy định, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội, chi phí vật liệu, chi phí CCDC và các chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội… c. Phân theo mối quan hệ giữa chi phí và quá trình sản xuất Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp có thể phân thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. + Chi phí trực tiếp: là những khoản chi phí có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất và tạo ra sản phẩm. Những chi phí này có thể tập hợp cho từng công trình hạng mục, công trình độc lập như nguyên vật liệu, tiền lương trực tiếp, khấu hao máy móc thiết bị sử dụng… + Chi phí gián tiếp: là những chi phí cho hoạt động tổ chức phục vụ và quản lý, do đó không tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất và cũng không được tính trực tiếp cho từng đối tượng cụ thể. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tương tự chi phí trực tiếp nhưng những khoản này chi ra cho hoạt đông quản lý doanh nghiệp xây lắp. Do mỗi loại chi phí trên có tác dụng khác nhau đến khối lượng và chất lượng công trình nên việc tập hợp chi phí theo hướng phân tích, định rõ chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp có ý nghĩa thực tiễn cho việc đánh giá hợp lý chi phí và tìm biện pháp không ngừng giảm chi phí gián tiếp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phương pháp lập dự toán trong XDCB là dự toán được lập cho từng đối tượng xây dựng theo các khoản mục giá thành nên phương pháp phân loại chi phí theo khoản mục là phương pháp được sử Trang 6 dụng phổ biến trong doanh nghiệp xây lắp. Còn phương pháp phân loại theo yếu tố chi phí thường không đề cập đến. 1.2.2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.2.2.1 Khái niệm giá thành trong doanh nghiệp xây lắp Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo qui định. Sản phẩm xây lắp có thể là công trình, hạng công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý có thiết kế và tính dự toán riêng. 1.2.2.2 Phân loại giá thành trong doanh nghiệp xây lắp Để đáp ứng cho yêu cầu quản lý và công tác kế toán giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá nên giá thành cũng được xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Với doanh nghiệp xây lắp, phân biệt các loại giá thành xây lắp như sau: a. Xét theo thời điểm tính toán và nguồn số liệu: giá thành được chia thành giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và giá thành thực tế. Giá thành dự toán (Zdt): Là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, giá thành dự toán được xác định theo định mức và khung giá qui định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán = Giá trị dự toán – Thu nhập chịu thuế tính trước Trong đó, thu nhập chịu thuế tính trước được tính theo định mức qui định. Giá thành kế hoạch (Zkh): Là giá thành xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong đơn vị. Giá thành kế hoạch cho phép tính toán các chi phí phát sinh sao cho chi phí sản xuất thực tế không vượt quá tổng số chi phí sản xuất dự kiến trong kế hoạch, do đó giá thành kế hoạch phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành dự toán Giá thành thực tế(Ztt): Là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh. Hay nói cách khác, đó là toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao khối lượng xây lắp mà đơn vị đã nhận thầu, giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán. Trang 7 Mối quan hệ giữa 3 loại giá thành trên về mặt lượng: Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế b. Xét theo phạm vi phát sinh chi phí: giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ. Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc thi công công trình trong phạm vi đơn vị thi công bao gồm chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SDMTC, chi phí SXC. Giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ, giá thành tiêu thụ): Phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong thi công (chi phí sản xuất) và chi phí ngoài thi công (chi phí bán hàng và quản lý). Do đó, giá thành toàn bộ được tính theo công thức: Giá thành sản Giá thành toàn = bộ xuất sản phẩm tiêu thụ + Chi phí quản lý DN + Chi phí tiêu thụ sản phẩm c. Ngoài ra trong XDCB còn sử dụng hai chỉ tiêu giá thành như sau: giá đấu thầu xây lắp và giá thành hợp đồng công tác xây lắp. Giá đấu thầu xây lắp: là một loại giá thành dự toán do chủ đầu tư đưa ra để các doanh nghiệp căn cứ vào để tính giá thành (còn gọi là giá thành dự thầu công tác xây lắp). Giá đấu thầu xây lắp do chủ đầu tư đưa ra về nguyên tắc chỉ bằng hoặc nhỏ hơn giá thành dự toán. Có như vậy chủ đầu tư mới tiết kiệm được vốn đầu tư và hạ thấp chi phí về lao động. Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: là loại giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu. Về nguyên tắc, giá thành hợp đồng chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu công tác xây lắp. Việc áp dụng hai loại giá thành xây lắp là một yếu tố quan trọng của việc hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong ngành xây dựng. Tóm lại, sự phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp thực tế phục vụ cho kế toán quản trị. Kế toán quản trị quan tâm tới chi phí và giá thành, làm chức năng thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp và chi phí phát sinh cho từng đối tượng Trang 8 cần quan tâm một cách thường xuyên và giúp cho nhà quản lý so sánh với mức kế hoạch đề ra các quyết định kịp thời. 1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất (một kỳ nhất định) còn giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí kết tinh khối lượng sản phẩm, một công việc, lao vụ nhất định. Chi phí sản xuất biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành biểu hiện mặt kết quả. Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình, chúng giống nhau về chất là hao phí lao động sống và lao động vật hóa nhưng do chi phí bỏ ra giữa các kỳ không đều nhau nên giữa chi phí sản xuất và giá thành khác nhau về lượng. Sự khác nhau về lượng giữa chi phí sản xuất và giá thành được biểu hiện qua sơ đồ sau: Chi phí sản xuất dở dang đầu + của sản phẩm xây xuất phát sinh Tổng giá = = lắp hoàn thành Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ thành của sản + phẩm xây lắp trong kỳ kỳ Tổng giá thành Chi phí sản Chi phí sản xuất phát sinh xuất dở dang cuối kỳ hoàn thành + Chi phí sản - trong kỳ Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ Như vậy, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, việc quản lý tốt giá thành chỉ được thực hiện triệt để khi doanh nghiệp tiến hành quản lý tốt chi phí sản xuất vì sự tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm xây lắp. 1.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà các CPSX cần được tổ chức tập hợp theo đó. Xác định đối tượng tập hợp CPSX là cơ sở để xây dựng hệ thống chứng từ ban đầu về chi phí sản xuất, xây dựng hệ thống sổ kế toán chi tiết về Trang 9 chi phí sản xuất. Để xác định đối tượng tập hợp CPSX ở doanh nghiệp xây lắp người ta căn cứ vào các yếu tố sau: - Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của công trình thi công: Nếu công trình quy mô nhỏ, thời gian ngắn thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là toàn bộ công trình. Nếu công trình có quy mô lớn, tính chất thi công khác biệt thì nên tập hợp theo hạng mục công trình hay nhóm hạng mục công trình. - Căn cứ vào hình thức tổ chức thi công: nếu công trình có nhiều đơn vị tham gia thi công thì đối tượng tập hợp chi phí là từng đối tượng thi công. - Căn cứ vào đối tượng thanh toán với đơn vị chủ đầu tư: do đơn vị căn cứ vào đối tượng thanh toán trên hợp đồng với nhà đầu tư để xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm nên trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí chính là đối tượng tính giá thành. - Căn cứ vào yêu cầu và trình độ quản lý kinh tế, yêu cầu kế toán kinh tế nội bộ của doanh nghiệp mà đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là toàn bộ quy trình công nghệ hay từng giai đoạn, từng quy trình công nghệ riêng biệt. 1.3.1.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Đối với ngành XDCB do phát sinh nhiều chi phí mà quá trình sản xuất lại phức tạp và sản phẩm mang tính đơn chiếc có quy mô lớn, thời gian sử dụng lâu dài. Mỗi công trình lại bao gồm nhiều hạng mục công trình, nhiều công việc khác nhau nên có thể áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất như sau: + Phương pháp tập hợp theo công trình, hạng mục công trình Theo phương pháp này, hàng kỳ, các chi phí phát sinh có liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp theo hạng mục công trình, hạng mục công trình đó. Giá thành thực tế của đối tượng đó chính là tổng chi phí được tập hợp kể từ khi bắt đầu thi công đến khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ công trình, hạng mục công trình. + Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn đặt hàng Theo phương pháp này, hàng kỳ chi phí phát sinh được phân loại và tập hợp theo từng đơn đặt hàng riêng. Khi đơn đặt hàng được hoàn thành thì tổng chi phí phát sinh Trang 10 được tập hợp chính là giá thành thực tế. Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là các đơn đặt hàng riêng. + Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn vị thi công Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn vị thi công công trình. Trong từng đơn vị thi công đó, chi phí lại được tập hợp theo từng đối tượng chịu chi phí như công trình, hạng mục công trình. Cuối tháng tập hợp chi phí từng đơn vị thi công để so sánh với dự toán. Trên thực tế có nhiều yếu tố chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, khi đó chi phí cần được phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí một cách chính xác và hợp lý, có thể sử dụng các phương pháp tập hợp sau: Phương pháp tập hợp trực tiếp: Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí có liên quan đến một đối tượng kế toán tập hợp chi phí. Trong trường hợp này, kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Phương pháp tập hợp gián tiếp: Phương pháp này áp dụng khi một loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, không thể tập hợp cho từng đối tượng. Trường hợp này phải lựa chọn tiêu thức hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho từng đối tượng liên quan theo công thức. C Ci = x ti Ti Trong đó: + Ci : Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i. + C : tổng chi phí sản xuất cần phân bổ. + Ti : Tổng đại lượng tiêu chuẩn dung để phân bổ. + ti : Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i. 1.3.2 Kế toán tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp 1.3.2.1 Nội dung chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp Chi phí NLVL trực tiếp bao gồm chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể của sản phẩm xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp. Khi xuất dùng vật liệu, nếu xác định rõ đối tượng tập hợp chi phí thì căn cứ chứng từ gốc để ghi nhận Trang 11 trực tiếp vào đối tượng tập hợp chi phí có liên quan, nếu không xác định cụ thể cho từng đối tượng tập hợp chi phí thì tập hợp chung, cuối kỳ phân bổ theo tiêu thức hợp lý. 1.3.2.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp a. Tài khoản kế toán sử dụng - Tài khoản kế toán sử dụng: TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp - Công dụng: Tập hợp toàn bộ chi phí NLVL sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp phát sinh trong kỳ. Cuối kỳ kết chuyển hoặc phân bổ toàn bộ chí này sang TK 154. - Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621- Chi phí NLVL trực tiếp Bên Nợ: Trị giá thực tế của NLVL dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp phát sinh trong kỳ. Bên Có: + Trị giá NLVL dùng không hết nhập lại kho. + Kết chuyển trị giá NLVL thực tế sử dụng trong kỳ vào TK 154 và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành. + Kết chuyển chi phí NLVL trực tiếp vượt trên định mức vào TK 632 TK 621 không có số dư cuối kỳ. TK 621 được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí. b. Phương pháp kế toán (1) Khi mua hoặc xuất NLVL sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp trong kỳ. - Khi xuất NLVL sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp trong kỳ, ghi: Nợ TK 621- Chi phí NLVL trực tiếp (giá mua chưa thuế GTGT) Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu - Trường hợp mua NLVL sử dụng (không nhập kho) sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm xây lắp trong kỳ chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, ghi: Nợ TK 621- Chi phí NLVL trực tiếp (giá mua chưa thuế GTGT) Nợ TK 1331 - Thuế GTGT được khấu trừ Có TK 111, 112,141, 331.... Trang 12 - Trường hợp giá trị vật liệu còn lại kỳ trước không nhập kho mà để lại tại bộ phận sử dụng, ghi vào đầu kỳ sau bằng bút toán sau: Nợ TK 621- Chi phí NLVL trực tiếp. Có TK 152- Nguyên liệu vật liệu (Giá thực tế xuất dùng không hết kỳ trước). (2) Tạm ứng chi phí NLVL để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (Trường hợp đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng). Khi bản quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành đã bàn giao được duyệt, ghi: Nợ TK 621- Chi phí NLVL trực tiếp Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có) Có TK 141 (TK 1413) - Tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ (3) Trường hợp nguyên vật liệu, dụng cụ xuất ra dùng không hết vào hoạt động sản xuất xây lắp, cuối kỳ nhập lại kho, ghi: Nợ TK 152 - Nguyên liệu vật liệu Nợ TK 153 - Công cụ dụng cụ Có TK 621 - Chi phí NLVL trực tiếp (4) Cuối kỳ, xác định phần chi phí NLVL trực tiếp sử dụng vượt mức bình thường, ghi: Nợ TK 632- Giá vốn hàng bán Có TK 621 - Chi phí NLVL trực tiếp (5) Cuối kỳ, căn cứ vào bảng phân bổ vật liệu tính cho từng đối tượng sử dụng NLVL ( loại sản phẩm công trình, hạng mục công trình của hoạt động xây lắp,...) theo phương pháp trực tiếp hoặc phân bổ, ghi: Nợ TK 154 - Chi phí SXKD dở dang (TK 1541- Xây lắp) Có TK 621 - Chi phí NLVL trực tiếp 1.3.3 Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp 1.3.3.1 Nội dung chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp là các chi phí cho công nhân trực tiếp (công nhân được doanh nghiệp tuyển dụng và lao động thuê ngoài theo từng công việc) tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất xây lắp. Trang 13 Chi phí nhân công trực tiếp gồm: tiền lương, khoản phụ cấp của công nhân trực tiếp tham gia hoạt động thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị, cụ thể gồm: - Tiền lương chính (hoặc tiền công) của công nhân chính hoặc công nhân phụ trực tiếp thi công. Công nhân chính như công nhân uốn sắt, trộn bê tông…; công nhân phụ như công nhân khuân vác MTC, tháo dỡ ván khuôn dàn giáo… - Các khoản phụ cấp theo lương như làm thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm,... - Tiền lương phụ của công nhân trực tiếp thi công xây lắp Khi tập hợp chi phí nhân công trực tiếp cho từng đối tượng hạch toán chi phí, đối với các khoản tiền lương trả theo sản phẩm hoặc tiền lương trả theo thời gian nhưng có liên hệ trực tiếp với từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể thì dùng phương pháp tập hợp trực tiếp. Đối với chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng và không hạch toán trực tiếp được thì phải dùng phương pháp phân bổ gián tiếp. Tiêu chuẩn dùng để phân bổ hợp lý là phân bổ theo giờ công định mức, theo tiền lương (hoặc chi phí nhân công trực tiếp) định mức phân bổ theo giờ công thực tế. 1.3.3.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp a. Tài khoản kế toán sử dụng - Tài khoản kế toán sử dụng: TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp - Công dụng: tài khoản này được dùng để tập hợp toàn bộ chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp xây lắp. Cuối kỳ kết chuyển hoặc phân bổ toàn bộ chí này sang TK 154. - Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp Bên Nợ: Tập hợp toàn bộ chi phí nhân công trực tiếp phát sinh trong kỳ Bên Có: + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 154 + Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632. TK 622 không có số dư cuối kỳ. TK 622 được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí. b. Phương pháp kế toán (1) Căn cứ vào bảng tính lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp (kể cả lương phải trả cho công nhân thuê ngoài), ghi: Trang 14 Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp Có TK 334- Phải trả công nhân viên (2) Tạm ứng chi phí nhân công để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (Trường hợp đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng). Khi bản quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành đã bàn giao đã được duyệt, ghi: Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp Có TK 141 (TK 1413) - Tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ (3) Trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất, ghi: Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp Có TK 335- Chi phí phải trả Khi xác định tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả cho công nhân, ghi: Nợ TK 335 - Chi phí phải trả Có TK 334- Phải trả công nhân viên (4) Cuối kỳ, xác định phần chi phí nhân công trực tiếp vượt mức bình thường, ghi: Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán Có TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp (5) Cuối kỳ, tính phân bổ và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 theo đối tượng tập hợp chi phí, ghi: Nợ TK 154 - Chi phí SXKD dở dang (TK 1541- Xây lắp) Có TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp 1.3.4 Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công 1.3.4.1 Nội dung chi phí sử dụng máy thi công Kế toán chi phí sử dụng MTC bao gồm chi phí cho các MTC nhằm thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy. Chi phí này gồm: + Chi phí thường xuyên cho hoạt động của MTC là chi phí phát sinh hằng ngày khi sử dụng máy, bao gồm chi phí nhân công điều khiển máy, chi phí NLVL, CCDC, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (như tiền mua bảo hiểm, sữa chữa, điện nước, chi phí trả cho nhà thầu phụ về MTC); chi phí khác bằng tiền. + Chi phí tạm thời: là chi phí nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng máy, bao gồm chi phí sữa chữa lớn, chi phí công trình tạm để che và bảo dưỡng máy,... Trang 15 Chi phí thường xuyên phát sinh được tập hợp trực tiếp vào các đối tượng tập hợp chi phí (công trình, hạng mục công trình, giai đoạn công việc…). Đối với chi phí tạm thời, do liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, nên phải được phân bổ (hoặc trích trước cho các đối tượng tập hợp chi phí có liên quan theo thời gian sử dụng công trình hoặc thời gian thi công trên công trường). Chi phí tạm thời cũng có thể tiến hành theo phương pháp trích trước vào chi phí sử dụng MTC. Khi sử dụng xong công trình tạm, số chênh lệch giữa chi phí thực tế phát sinh với chi phí trích trước được xử lý theo quy định. MTC phục vụ cho công trình nào có thể tập hợp riêng được thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Nếu MTC phục vụ cho nhiều công trình, hạng mục công trình ngay từ đầu thì tập hợp chung sau đó phân bổ theo tiêu thức hợp lý ( số giờ máy hoạt động, tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất, nguyên vật liệu chính…). 1.3.4.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công a. Tài khoản kế toán sử dụng - Tài khoản sử dụng: TK 623 - Chi phí sử dụng MTC. - Công dụng: TK 623 dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng MTC phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp với máy. - Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 623 - Chi phí sử dụng MTC Bên Nợ: Tập hợp toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động của MTC. Bên Có:+ Kết chuyển chi phí sử dụng MTC vào TK 154-Chi phí SXKD dở dang. + Kết chuyển phân bổ chi phí sử dụng MTC vượt trên mức bình thường vào TK 632. TK 623 không có số dư cuối kỳ. TK 623 được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí. b. Phương pháp kế toán Kế toán chi phí sử dụng MTC phụ thuộc vào tổ chức quản lý đội MTC của doanh nghiệp: tổ chức đội MTC riêng chuyên thực hiện các khối lượng thi công bằng máy hoặc giao MTC cho các đội, xí nghiệp xây lắp. Xét cụ thể từng trường hợp: Trang 16 Trường hợp 1: Nếu doanh nghiệp không tổ chức đội xe, MTC riêng hoặc có tổ chức đội xe, MTC riêng nhưng đội xe, máy không tổ chức kế toán riêng: các chi phí liên quan tới hoạt động của đội MTC được hạch toán riêng vào khoản mục chi phí sử dụng MTC, sau đó tính phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình. (1) Căn cứ vào số tiền lương (lương chính, phụ, không bao gồm các khoản trích theo lương: BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN), tiền công phải trả cho công nhân điều khiển máy, phục vụ máy, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6231) Có TK 334- Phải trả công nhân viên (2) Khi xuất kho nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ sử dụng cho xe, MTC, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6232) Có TK 152- NLVL (3) Chi phí công cụ, dụng cụ dùng cho xe, MTC, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6233) Có TK 153 - Công cụ dụng cụ ( Loại phân bổ 1 lần) Có TK 142 - Chi phí trả trước ngắn hạn ( loại phân bổ dần) Có TK 242 - Chi phí trả trước dài hạn ( loại phân bổ dần) (4) Trường hợp mua vật liệu, công cụ sử dụng ngay ( không nhập kho) sử dụng cho xe, MTC, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6232, TK 6233) Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ ( nếu có) Có TK 111,112,331... (5) Trích khấu hao xe, MTC sử dụng ở đội MTC, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6234) Có TK 214- Hao mòn TSCĐ Đồng thời ghi Nợ TK 009 - Nguồn vốn khấu hao cơ bản (6) Chi phí dịch vụ mua ngoài phát sinh (sữa chữa MTC mua ngoài, điện nước, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ,...), ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6238) Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có) Trang 17 Có TK 111,112,331.... (7) Chi phí bằng tiền khác phát sinh, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (TK 6239) Nợ TK 1331 - Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có) Có TK 111,112 (8) Cuối kỳ, xác định chi phí sử dụng MTC vượt trên mức bình thường, ghi: Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán Có TK 623 - Chi phí sử dụng MTC (9) Trường hợp tạm ứng chi phí xe, MTC để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trường hợp đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán kế toán riêng). Khi bản quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành đã bàn giao được duyệt: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC Có TK 141(TK 1413) - Tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ (10) Cuối kỳ, căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sử dụng máy (chi phí thực tế ca máy) tính cho từng công trình, hạng mục công trình, ghi: Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất khinh doanh dở dang ( TK 1541- Xây lắp) Có TK 623 - Chi phí sử dụng MTC Trường hợp 2: Nếu doanh nghiệp có tổ chức đội xe, MTC riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội máy thì tất cả các chi phí liên quan tới hoạt động của đội MTC được hạch toán vào các khoản mục: chi phí NVL trực tiếp (TK 621), chi phí nhân công trực tiếp (TK 622), chi phí sản xuất chung (TK 627) của đội máy. Sau đó các khoản mục này được kết chuyển để tính giá thành cho một ca máy thực hiện và cung cấp cho các đối tượng xây lắp (công trình). (1) Hạch toán các chi phí liên quan tới hoạt động của đội MTC, ghi: Nợ TK 621, 622, 627 Có TK liên quan (2) Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sử dụng MTC cho từng công trình, hạng mục ghi: Nợ TK 154 - Chi phí SXKD dở dang Có TK 621, 622, 627 Trang 18 (3) Căn cứ vào giá thành ca máy tính toán được, tính phân bổ chi phí sử dụng MTC cho từng đối tượng. Tùy theo phương thức tổ chức công tác kế toán và mối quan hệ giữa đội MTC với đơn vị xây lắp công trình để ghi: + Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận, ghi: Nợ TK 623 - Chi phí sử dụng MTC Có TK 154 - Chi phí SXKD dở dang + Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận, ghi: Nợ TK 632 - Giá trị phục vụ lẫn nhau trong nội bộ Có TK 154- Chi phí SXKD dở dang Đồng thời, ghi: Nợ TK 623 - Giá bán nội bộ Nợ TK 133 - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ ( nếu có) Có TK 512- Doanh thu bán hàng nội bộ Có TK 3331- Thuế GTGT đầu ra 1.3.5 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung 1.3.5.1 Nội dung chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp xây lắp là chi phí phục vụ quản lý đội, công trường xây dựng, bao gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, tiền ăn ca của nhân viên quản lý đội, của công nhân xây, lắp; các khoản trích KPCĐ, BHXH, BHYT, BHTN theo tỷ lệ quy định hiện hành trích trên tiền lương phải trả của nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển MTC, công nhân trực tiếp sản xuất thuộc danh sách lao động không xác định thời hạn của doanh nghiệp; khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động của đội và các chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội như chi phí sửa chữa, chi phí thuê ngoài, chi phí điện, nước, điện thoại, chi mua tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ,… Trang 19 Chi phí sản xuất chung nếu phải phân bổ cho công trình, hạng mục công trình thì tiêu chuẩn phân bổ theo tỷ lệ với chi phí trực tiếp (như chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí MTC và chi phí trực tiếp khác). 1.3.5.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung a. Tài khoản sử dụng - Tài khoản kế toán sử dụng: TK 627- Chi phí sản xuất chung. - Công dụng: TK 627 dùng để tập hợp toàn bộ chi phí SXC phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp xây lắp, cuối kỳ phân bổ toàn bộ chi phí này sang TK 154. - Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 627- Chi phí sản xuất chung Bên Nợ: Tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ. Bên Có: + Các khoản giảm chi phí sản xuất chung + Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán (TK 632) + Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào TK 154- Chi phí SXKD dở dang TK 627 không có số dư cuối kỳ. TK 627 được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí. b. Phương pháp kế toán (1) Khi tính tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên của đội xây dựng; tiền ăn giữa ca của nhân viên quản lý đội xây dựng, của công nhân xây lắp, ghi: Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung ( TK 6271) Có TK 334 - Phải trả công nhân viên (2) Tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ (trường hợp đơn vị nhận khoán không tổ chức hạch toán riêng). Khi bản quyết toán tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp hoàn thành đã bàn giao được duyệt, ghi: Nợ TK 627 - Chi phí sản xuất chung Có TK 141 - Tạm ứng ( TK 1413) (3) Khi trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN được tính theo tỷ lệ (%) quy định hiện hành trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng MTC và nhân viên quản lý đội (biên chế doanh nghiệp), ghi: Trang 20
- Xem thêm -