Giá trị tiểu thuyết nhắm mắt thấy paris của dương thụy

  • Số trang: 78 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 162 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

z TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN TRẦN THỊ NGỌC HUYỀN MSSV: 6106396 GIÁ TRỊ TIỂU THUYẾT NHẮM MẮT THẤY PARIS CỦA DƯƠNG THỤY Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: ThS. LÊ THỊ NHIÊN Cần Thơ, năm 2013 1 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích – yêu cầu nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Vài nét về tiểu thuyết 1.1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của tiểu thuyết 1.1.2. Khái niệm tiểu thuyết 1.1.3. Đặc điểm của tiểu thuyết 1.2. Sơ lược đôi nét về tình hình sáng tác ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XXI 1.3. Vài nét về tác giả và tác phẩm 1.3.1. Tác giả 1.3.2. Tác phẩm Nhắm mắt thấy Paris CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TIỂU THUYẾT NHẮM MẮT THẤY PARIS CỦA DƯƠNG THỤY 2.1. Nhắm mắt thấy Paris – những người trẻ tuổi trên con đường lập nghiệp 2.1.1. Những khó khăn của những người trẻ tuổi trên con đường lập nghiệp 2.1.2. Nghị lực, bản lĩnh và những kết quả đạt được của người trẻ tuổi trên con đường lập nghiệp 2.1.3. Những công dân có tinh thần dân tộc, ý thức trách nghiệm cao với Tổ quốc trên con đường lập nghiệp 2 2.2. Nhắm mắt thấy Paris – quan niệm về tình yêu và cuộc sống 2.3. Nhắm mắt thấy Paris – đặc trưng văn hóa phương Đông và phương Tây 2.4. Mối quan hệ gia đình ở phương Đông và phương Tây 2.5. Nhắm mắt thấy Paris – những bức tranh phong cảnh sống động Á –Âu CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT NHẮM MẮT THẤY PARIS CỦA DƯƠNG THỤY 3.1. Kết cấu trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris 3.2. Người trần thuật và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris 3.2.1. Người trần thuật 3.2.2. Ngôn ngữ trần thuật 3.3. Thời gian, không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris 3.3.1. Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris 3.3.2. Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris KẾT LUẬN TƯ LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN 3 PHẦN MỞ ĐẦU 6. Lí do chọn đề tài Đất nước Việt Nam đang dần hòa nhập vào một kỉ nguyên mới với nhiều sự thay đổi tích cực trong mọi mặt, từ chính trị, kinh tế, cho đến văn hóa nghệ thuật. Và văn học cũng trên đà phát triển với những bước ngoặt lớn của thời đại. Cùng với những xu hướng đã “điểm mặt đặt tên” và có những thành tựu đáng kể, nhà văn say mê tìm cho mình những xu hướng mới mẻ hơn, lạ hơn để khẳng định phong cách riêng của mình. Văn học nữ tính đã được công nhận trên văn đàn. Những đề tài tưởng chừng nhàm chán trong những khoảng thời gian không gian vô cùng chật chội và tù túng như vấn đề hôn nhân gia đình, yêu đương, con cái, rồi những cuộc tình tay ba, tay tư,… tất cả đã được nhà văn khai thác theo một suy nghĩ khác, một cái nhìn khác, đằng sau những thứ tầm thường là biết bao những ám ảnh, những góc khuất, bao nhiêu là chiêm nghiệm từ chính những người phụ nữ. Bên cạnh đó, vấn đề giới tính cũng có những chuyển biến khá cởi mở, yếu tố tính dục được tác giả xem trọng và đưa vào các tác phẩm của mình. Những vấn đề thầm kín, chuyện yêu đương cũng được các tác giả mổ xẻ và hấp dẫn được vô số độc giả bởi yếu tố nhạy cảm này. Các tác phẩm như Dị bản của Keng (Đỗ Thị Thùy Linh), Tuyết đen của Giao Chi, Chuyện tình New York của Hà Kin,… đã để lại những dấu ấn sâu sắc cho độc giả với con số phát hành khiến nhiều người phải ghen tị. Bước sang thế kỷ XXI, con người ngày càng hội nhập một cách toàn vẹn và đầy đủ với thế giới, những con người trẻ, khao khát khẳng định cá tính, năng lực của mình, hòa nhập vào thời đại mới và chủ động trong cách giải quyết cuộc sống là những đề tài hấp dẫn mà nhiều tác giả hiện đại muốn phản ánh trong các tác phẩm của mình. Gắn liền với hơi thở của thời đại, gần gũi với cách sống, cách nghĩ của rất nhiều giới trẻ hiện nay, xu hướng khẳng định cái tôi đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Điển hình là qua các tác phẩm của nhà văn mới Dương Thụy. 4 Hòa chung vào xu thế tìm kiếm những thứ mới mẻ, lạ lẫm vào trong trang viết, vận dụng những vốn sống có được từ bản thân, chị đã cho ra đời hàng loạt những tác phẩm, cả truyện ngắn và tiểu thuyết, gây “sốt” cho người đọc. Tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris đã thể hiện rõ phong cách của Dương Thụy. Những con người hiện đại, những lối sống tích cực cũng như tiêu cực, những chuyện tình,… tất cả đã được tác giả phản ánh một cách chân thực nhất trong tác phẩm của mình. Nam Cao viết trong Đời thừa: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có…” [15; tr.80]. Và tác giả Dương Thụy – một nhà văn rất mới trong văn học đương đại Việt Nam - đã biết “khơi những nguồn chưa ai khơi” đó bằng một loạt tiểu thuyết nói về đời sống du học sinh, về những người trẻ, về những phong cảnh, những phong tục tập quán, những yếu tố “ngoại” nơi trời Tây xa xôi mà không phải mấy ai cũng được biết đến. Viết về phương Tây đã hiếm, mà viết về người phụ nữ, những người trẻ tuổi, những con người Việt Nam trên các nước châu Âu lại còn hiếm gặp hơn, thế nhưng ta lại bắt gặp những gương mặt trẻ, những cô gái đầy nhiệt huyết, đầy niềm đam mê và tài năng nơi đất khách quê người trong các tác phẩm của Dương Thụy. Không phải tình cờ mà các tác phẩm của Dương Thụy, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết hàng trăm trang lại trở thành một cơn “sốt” cho độc giả hiện nay, hàng loạt tác phẩm của Dương Thụy xuất bản ra bán “đắt như tôm tươi” và được tái bản liên tục trong một thời gian ngắn và một số tác phẩm được nâng lên thành “best – seller” [23]. Vậy lí do gì làm cho những tác phẩm của Dương Thụy được sự quan tâm sâu sắc của độc giả? Phải chăng tác giả là nhà văn thị trường như một loạt các tác phẩm của Trung Quốc trong đó có sáng tác của Tân Di Ổ đang lan tràn khắp trong các tiệm sách ở Việt Nam, viết theo kiểu mau đến mau đi, lên xuống có thời theo xu hướng hiện nay? Tác phẩm của Dương Thụy có chỗ đứng của nó hay không? Những lí do tạo nên sự hấp dẫn của nó đến với người đọc? M. Gorki từng nói: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú và đến tới gần con người, tới gần quan niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống.” Và quả thật, đọc được một quyển sách mà ta bị cuốn hút ngay từ đầu đến cuối tác phẩm là một điều thật sự tuyệt vời. Quyển sách ấy có thể không hay với người này, nhưng đối với 5 một người khác, họ lại thấy hay vì họ tìm được chính mình trong ấy. Đó có phải một trong những lí do giải thích cho những thành công bước đầu trong sáng tác tiểu thuyết của Dương Thụy? Và nhiều những lí do khác làm người viết quan tâm và quyết định chọn quyển tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình. 7. Lịch sử vấn đề Đề tài: “Giá trị tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy” là một đề tài nghiên cứu về tác phẩm rất mới trong văn học hiện đại Việt Nam, tác phẩm được ra đời vào năm 2010 nên việc nghiên cứu vẫn còn rất ít được đề cập đến trong các tư liệu văn học, và các ý kiến trên các văn đàn cũng hầu như là rất ít, đa số chỉ là những cảm nhận của độc giả nên người viết không đề cập đến trong một đề tài mang tính khoa học. Tuy nhiên, ít nhưng không phải là không có, vẫn có một số bài phỏng vấn của các nhà báo từ tác giả và một vài ý kiến của một số nhà văn cùng thời với tác giả đã cho những nhận xét khá hay, bổ ích và khá quan trọng, giúp cho người viết phần nào tiếp cận được các tác phẩm một cách dễ dàng hơn, và cũng đã giúp người viết khá nhiều trong việc nghiên cứu đề tài của mình. Nhà văn Phan Hồn Nhiên đã có những nhận xét khá sâu sắc về Dương Thụy cũng như về tác phẩm của chị: “Dương Thụy giữ một thái độ sáng suốt, soi chiếu nhân vật một cách công bằng và chẳng ngại ngần mà không nói thẳng tận cùng bản chất. Từ một anh sếp Tây biết làm việc, biết hưởng thụ, biết cách tranh thủ tình cảm các nhân viên Việt một cách láu lỉnh, cho đến cô gái trẻ lãng mạn, xao lòng nhưng luôn cố gắng “bóp thắng” đúng lúc đều hiện ra rất chân thật. Ngay cả vấn đề chừng như khá nhạy cảm là sex, Dương Thụy cũng có cách đề cập độc đáo: hài hước, không che đậy úp mở và không tránh né. Đọc những truyện như thế, không những chẳng thấy rợn bởi sự dung tục, người đọc còn được chia sẻ với Dương Thụy đôi mắt nhìn tươi tắn và trong trẻo” [23] Cách nhận xét khá chân thật và khái quát về tác phẩm Dương Thụy mà điển hình là tác phẩm Oxford thương yêu đã làm nền chung cho hầu hết các sáng tác của Dương Thụy. Để khi đến với Nhắm mắt thấy Paris, các nhận xét trên lại một lần nữa được khẳng định rõ ràng hơn nữa. 6 Trong bài phỏng vấn với báo Phụ nữ online tháng 3 năm 2012 do Thanh Trúc thực hiện, với nhan đề: Nhà văn Dương Thụy – văn chương không phải để đánh đố độc giả, Dương Thụy đã đưa ra những ý kiến rất chân thật về tác phẩm Cung đường vàng nắng của mình. Nhà văn chia sẻ: “Thế mạnh của tôi là những năm tháng du học nước ngoài, tôi nghĩ bạn đọc rất muốn biết về những khó khăn, trở ngại của một du học sinh cũng như những nổ lực của họ ra sao để đạt được kết quả tốt.” [22]. Bài phỏng vấn của nhà báo Phong Điệp với tác giả có nhan đề: Cây bút trẻ Dương Thụy: “Tôi viết hồn nhiên như tôi sống.” Nhà văn đã khẳng định trong tác phẩm của mình: “Nhiều độc giả trách tôi hay viết truyện kết thúc có hậu, nhưng tôi thích những kết thúc như thế vì tôi cho rằng cuộc sống vốn tốt đẹp nếu chúng ta làm chủ được cuộc đời mình. Tôi không thay đổi nếu viết lại vì mạch truyện đã tự nó tạo nên một kết thúc như thế.” [22] Những lời tâm sự chân thành của chính tác giả khi nói về những tác phẩm của mình là những điều chính xác nhất về các tác phẩm ấy. Dương Thụy đã cho người đọc biết những lợi thế, những cách suy nghĩ của mình trong quá trình sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Những điều mà Dương Thụy chia sẻ là vô cùng bổ ích, để khi bước vào nghiên cứu tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris, ta có cái nhìn đúng hơn về ý đồ của tác giả và có một công trình nghiên cứu có giá trị hơn. Nhà phê bình Bùi Công Thuấn đã có một bài phê bình tác phẩm Nhắm mắt thấy Paris trên trang Phongdiep.net. Trong đó ông đã có những nhận xét khá nặng lời cho tác phẩm. Ông nêu rõ “Trước hết, cách kể truyện không mới nếu không nói là cấu trúc truyện khá đơn giản. Mạch thời gian và những bước thăng tiến của Mai là mạch chính. Không có các mạch phụ, không có nhiều tuyến đan xen nhau. Việc khai thác scandal tình dục như là cốt lõi của truyện cũng không có gì mới. Louis vì tình dục mà bị đuổi việc. Lafatoine vì tình dục mà thân bại danh liệt. Mai cũng vì tình dục mà mất đời con gái và bị tổn thương trầm trọng. Điều đáng nói là tác giả đã cổ vũ thái quá cho tự do tình dục và lối sống thực dụng phương Tây (đậm đặc ở chương 14, 15) và nhất là ở nhân vật Pink Lady (chương 16). Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ với người đọc trẻ Việt Nam”. [18]. Hàng loạt các lí lẽ đưa ra với cái nhìn của một nhà phê bình như vậy có chính xác hay không? Tác phẩm Nhắm mắt thấy Paris có thật sự là một tác phẩm thất bại hay không? Bài phê bình quả rất bổ ích cho ta có cách đánh giá chính xác nhất sau khi nghiên cứu về 7 tác phẩm này để tìm ra được cái hay cái dở trong quyển tiểu thuyết của nhà văn Dương Thụy. Trong một bài viết khác của tác giả Nguyễn Thị Nam Hoàng với nhan đề Tiểu thuyết và những ngả đường của khát vọng trẻ (qua trường hợp Dương Thụy) được đăng trên báo Văn nghệ trẻ với chủ điểm Tiểu thuyết 10 năm đầu thế kỉ XXI cũng đã có những nhận định khái quát về tác phẩm Dương Thụy, trong đó có Nhắm mắt thấy Paris “Nếu như ở Oxford thương yêu có những đoạn người kể chuyện nói thay nhân vật quá nhiều khiến người đọc không khỏi có cảm giác về sự lộ liễu của ý tưởng và sự giản đơn trong trần thuật, thì đến Nhắm mắt thấy Paris, tác giả đã dụng công hơn rất nhiều trong kỹ thuật tiểu thuyết. Tư thế “biết tuốt” của người kể chuyện từ ngôi thứ ba đã bị phủ định, câu chuyện được tái hiện từ nhiều điểm nhìn, nhiều giọng kể khác nhau. Đặc biệt, những dòng email của các nhân vật được đặt cuối mỗi chương đã tạo ra hàng loạt các tấm gương phản chiếu tâm lý để qua đó nhân vật hiện lên sinh động hơn, đa dạng hơn và cũng hấp dẫn hơn. Diện mạo của cuốn tiểu thuyết vì thế cũng mang một dáng vẻ hiện đại và để lại nhiều dư vị”. [9] Hai bài viết của hai tác giả khác nhau về tác phẩm Nhắm mắt thấy Paris với những cách cảm nhận, đánh giá khác nhau, người khen, kẻ chê,…Những xu hướng khác nhau trong cùng một tác phẩm sẽ là những nguồn tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu quyển tiểu thuyết này một cách khách quan và trung thực hơn. Một tác phẩm thật sự có giá trị khi đã được tôi luyện dưới ngọn lửa của thời gian. Qua thời gian, những lời nhận xét khen chê sẽ được trả lời rõ rệt. Tác phẩm của Dương Thụy có phải chỉ là một phút nhất thời huy hoàng hay không vẫn còn quá sớm để khẳng định được. Văn chương dưới cảm nhận của từng người sẽ có những nhận xét khác nhau. Các tác phẩm của Dương Thụy được khen thì lắm mà bị chê cũng nhiều. Nhưng tác giả vẫn không nản chí, vẫn không ngừng viết cho dù “chỉ còn một người đón đọc” [22]. Đó mới chính là tinh thần của những nhà văn yêu văn chương và xem văn chương như một thú vui chia sẻ với mọi người. Bên cạnh những bài nghiên cứu, những lời nhận xét và các bài phỏng vấn về tác phẩm cũng như về tác giả Dương Thụy, thì cũng có khá nhiều bài viết xuất hiện trên web, blog, đặc biệt là các bài viết trên Website Dương Thụy. Tuy nhiên, những bài viết này có 8 nhiều xuất xứ khác nhau, mang tính tự phát cá nhân nên người viết không xem nó là lịch sử nghiên cứu. Qua những nghiên cứu về các nhận định của các nhà văn cùng thời hay qua những bài báo với lời nói hết sức chân thật từ chính tác giả, người viết thiết nghĩ, là rất quý báu và quan trọng, cũng đã góp một phần rất lớn vào việc nghiên cứu đề tài một cách sâu sắc và trọn vẹn hơn. Nhưng những nhận định, đánh giá này vẫn còn khá sơ lược, chưa khai thác được có hệ thống như một công trình nghiên cứu thật thụ. Những nhận định trên còn khá chung chung, khái quát về một thời đại sáng tác hay một khía cạnh của tác giả mà chưa làm bật nổi lên được yếu tố trọng tâm của đề tài là giá trị nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy. Vì thế, người viết sẽ cố gắng làm sáng tỏ hơn những vấn đề trong đề tài của công trình nghiên cứu này. 8. Mục đích – yêu cầu nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài Giá trị tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy giúp ta tìm hiểu rõ hơn một trong những tác phẩm độc đáo của Dương Thụy. Dương Thụy đã khai thác những đề tài mới mẻ, áp dụng và tiếp thu những cái mới, những cái đã hội nhập vào các tác phẩm của mình như thế nào? Trên cơ sở đó, ta rút ra được những thành công mà Dương Thụy đã làm được trong quá trình sáng tác của mình vào tiến trình hiện đại hóa văn học. Và muốn làm được những điều nói trên, ta phải thực hiện được những yêu cầu cơ bản sau. Đầu tiên, phải làm rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của quyển tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy trong đề tài nghiên cứu. Tiếp theo, ta phải phân tích, và có cái nhìn khách quan về ưu điểm cũng như những hạn chế trong quyển tiểu thuyết này nhằm giúp độc giả có một hướng tiếp cận tốt hơn về tác phẩm. Đồng thời cũng nêu lên được vai trò của tác phẩm và những đóng góp của Dương Thụy vào tiến trình văn học hiện đại Việt Nam. 9. Phạm vi nghiên cứu Đối với công trình nghiên cứu này, người viết tập trung nghiên cứu vào quyển tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris để làm bật lên những giá trị nội dung và giá trị nghệ thuât. Bên cạnh đó, người viết cũng nghiên cứu về những vấn đề khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu trong phạm vi tư liệu tìm kiếm được và được ghi trong mục tư liệu tham khảo 9 như các vấn đề về tiểu thuyết, đặc điểm của văn học, phong tục văn hóa của Việt Nam so với các nước phương Tây nhằm liên hệ, so sánh, đối chiếu để làm nổi bật hơn đề tài mà mình đã chọn. 10.Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài về tiểu thuyết Nhắm mắt thấy Paris của Dương Thụy, người viết đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài được rõ ràng và đầy đủ hơn. Phương pháp thống kê: tập hợp các nguồn tư liệu, những bài viết có liên quan đến đề tài mà mình đã chọn. Phương pháp phân tích: chia nhỏ tác phẩm ra thành nhiều loại riêng, làm rõ những vấn đề về nội dung cũng như nghệ thuật của từng tác phẩm trên từng luận điểm cụ thể. Phương pháp tổng hợp: tổng hợp lại những gì tìm hiểu được trong quá trình phân tích, đưa ra những kết luận chung, mang tính khái quát cho những vấn đề cần nghiên cứu trong đề tài. Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh giữa các tác phẩm, nhận ra những điểm chung và những điểm riêng, những cái hay và nét hạn chế trong tác phẩm, và quá trình so sánh các nền văn học khác nhau giữa Việt Nam và các nước, so sánh về các phong tục tạp quán giữa Tây và Ta cũng góp phần làm cho đề tài nghiên cứu được cụ thể và sinh động hơn. Cuối cùng, người viết vận dụng kết hợp hai phương pháp diễn dịch và quy nạp để trình bày kết quả nghiên cứu của mình. 10 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.4. Vài nét về tiểu thuyết 1.4.1. Nguồn gốc và sự phát triển của tiểu thuyết Để tìm hiểu về khái niệm của tiểu thuyết, trước hết ta phải tìm hiểu sơ lược đôi nét về nguồn gốc ra đời cũng như lịch sử của tiểu thuyết. Tiểu thuyết xuất phát từ một thể loại của văn học châu Âu, nảy sinh từ văn học cổ đại Hy La. Xét về góc độ thời đại, tiểu thuyết bộc lộ rõ nhất trong các sáng tác thuộc đề tài tiểu thuyết hiệp sĩ như Chuyện Tristan và Iseult. Thời Phục Hưng, tiểu thuyết tiếp tục có cơ hội phát triển qua nhiều thể khác nhau: thể truyện như các tác phẩm của G. Boccaccio; thể trường ca của M. Boiardo, L. Ariosto,…; và thể kịch mà đầu tiên là W. Shakespeare và tiểu thuyết đã thật sự trở thành đích thực vào cuối thời Phục Hưng với tác phẩm Don Quijote, nhà quý tộc tài ba xứ Mancha của Miguel de Cervantes. Theo xu hướng phát triển, một loại tiểu thuyết nữa ra đời đó là tiểu thuyết du đãng, khai thác các đặc điểm trào phúng trong các tác phẩm của F. Rabelais, Era smus,… Thời văn học chủ nghĩa cổ điển, tiểu thuyết bị coi nhẹ đến cuối thời điểm này mới có sự phát triển về tâm lý văn xuôi hình thành tiểu thuyết tâm lý trong đó có tác phẩm La Princesse de Clèves của bà de La Fayette. Thời đại Khai Sáng, dạng tiểu thuyết và các kiểu kết cấu tiểu thuyết xuất hiện ngày càng nhiều và có sự kết hợp với nhau, điển hình như Truyện hiệp sĩ Des Grieus và nàng Manon Lescautcaut của linh mục Prévost, hay S. Richardson với Pamela hay là đức hạnh được đền bù. Các nhà tiểu thuyết Anh như H. Fielding, T. Smollett cũng có những đóng góp đáng kể cho nền tiểu thuyết trong việc hình thành kiểu tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa và việc miêu tả số phận con người trong môi trường xã hội. Thế kỉ XIX, các tiểu thuyết gia lớn như Balzac, Stendhal, Flaubert,… đã xây dựng nên một nền tiểu thuyết với quy mô lớn và những thành tựu nổi bật trong tiểu thuyết hướng tâm và tiểu thuyết toàn cảnh. Song song với sự phát triển của Pháp, nền tiểu thuyết Nga – sau khi đã hội nhập với các nước châu Âu – cũng đã đạt được trình độ vượt bật. L. Tolstoi được xem là một bậc thầy về tiểu thuyết trong việc tái hiện đời sống nội tâm của 11 nhân vật và có nghệ thuật trần thuật đạt tới đỉnh cao sánh ngang với tầm vóc của sử thi. Dostoievski với những kiểu tiểu thuyết đường phố cho đến tiểu thuyết đối thoại, đưa con người cá nhân, trải nghiệm riêng tư chung với những vấn đề lớn lao của xã hội, những suy tư về số phận của cả thế giới. Bước vào thế kỉ XX, tiểu thuyết phát triển mạnh mẽ với chiều hướng đa dạng và đối nghịch với nhau về mọi mặt. Nhiều kiểu tiểu thuyết ra đời đánh đấu những tên tuổi lỗi lạc, những kiệt tác của nền văn chương thế giới. Một số nhà văn như M. Proust, J. Joyce,…đã phá vỡ những quy phạm truyền thống của tiểu thuyết, phát huy những cái mới, cái sáng tạo, trật tự thời gian không gian bị xáo trộn, cái khách quan lẫn lộn với cái chủ quan,…tạo nên nét độc đáo mới cho tiểu thuyết. Ở Trung Quốc, khởi thủy, tiểu thuyết có nghĩa là lời bàn góp vụn vặt (Trang Tử ngoại vật), hay là lời trần thuật (Chính danh). Xuất phát từ việc nhà vua muốn tìm hiểu dân chúng của mình đã cho ghi chép những giai thoại, những câu chuyện vặt vãnh nơi thôn xóm. Theo quan niệm thời bấy giờ, do có nguồn gốc bình dân nên tiểu thuyết không được coi là chính thư, không thể sánh ngang được với thơ ca. Vì thế, tuy xuất hiện từ rất sớm, manh nha từ thời Ngụy Tấn (thế kỉ III - IV) nhưng phải trải qua một thời gian dài hàng chục thế kỉ, tiểu thuyết mới được hình thành và phát triển, bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể. Đời Đường thịnh hành loại tiểu thuyết truyền kỳ. Đời Tống phát triển loại tiểu thuyết “thoại bản”. Từ đời Minh, tiểu thuyết bắt đầu phát triển rực rỡ với những kiệt tác được sáng tác dưới dạng chương hồi. Tứ đại kỳ thư Trung Hoa lần lượt ra đời với Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Thủy hử của Thi Nại Am và Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần. Trên nền phát triển của văn học thế giới, văn học Việt Nam cũng bắt đầu có những biến chuyển. Từ khoảng thế kỷ XIII – XIV trở đi, văn xuôi thành văn đã dần dần ra đời thay thế cho các loại truyện kể dân gian bằng phương thức truyền miệng như truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện dã sử,…Nhiều tác phẩm đáng chú ý như Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án,... với cốt truyện được xây dựng phong phú, nhân vật được phác họa ngày càng rõ nét hơn là những mầm mống ban đầu của tiểu thuyết. Đến đầu thế kỷ XIX, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia Văn phái xuất hiện với quy mô lớn theo kết cấu chương hồi. Tuy vẫn còn mang đậm chất sử thi, 12 còn vương vấn hình thức thể hiện của loại thể truyện kể, nhưng Hoàng Lê nhất thống chí đã vượt qua lối sao chép giản đơn vốn là đặc trưng của văn học dân gian trước đó. Đến đầu thế kỷ XX, hàng loạt tác phẩm được viết bằng chữ quốc ngữ ra đời đã nâng tiểu thuyết lên thành một thể loại chính thống của văn học Việt Nam và dần đưa tiểu thuyết Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển. Hồ Biểu Chánh đã cho ra đời rất nhiều tiểu thuyết, đặc sắc như Ngọn cỏ gió đùa, Cha con nghĩa nặng, Con nhà nghèo, Khóc thầm,… đã đánh dấu một bước tiến mới cho văn học mở đầu thế kỉ XX. Nối tiếp sau đó, nhóm Tự lực văn đoàn tiếp tục xuất bản hàng loạt tiểu thuyết mang khuynh hướng lãng mạn độc đáo như Gánh hàng hoa và Đời mưa gió của hai tác giả Nhất Linh – Khái Hưng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo,… Tiểu thuyết những năm sau 1945 đã có một cái nhìn mới về hiện thực cuốc sống. Các tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, rồi Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống mòn của Nam Cao,… đã thể hiện những quan điểm nghệ thuật khác nhau của tác giả, tạo nên sự phong phú về đề tài cũng như về phong cách sáng tác. Trong điều kiện công nghệ in ấn bằng máy móc đang phát triển ở Việt Nam và quá trình hội nhập giao lưu với văn hóa phương Tây, nhiều phong cách mới lần lượt ra đời, tiểu thuyết Việt Nam đã thật sự phát triển và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Bức tranh sơ lược trên đã cho ta thấy rõ hơn về nguồn gốc, sự ra đời cũng như sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình văn học hiện đại của Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung. Tiểu thuyết đã thật sự giữ một vai trò quan trọng trong các sáng tác của nhiều tác giả hiện nay và đã đạt được những thành tựu vượt bậc. Vậy tiểu thuyết là gì? Ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về khái niệm của tiểu thuyết. 1.4.2. Khái niệm tiểu thuyết Về mặt tên gọi, tiểu thuyết là một thuật ngữ Hán – Việt. Tiểu là nhỏ nhặt, thuyết là nói, bàn. Tiểu thuyết nói chung là bàn luận về một số vấn đề nhỏ nhặt. Nhưng trong thực tế văn học hiện nay cho thấy, tiểu thuyết là một “tác phẩm chứa đựng dung lượng cuộc sống rộng lớn, nhiều trang (có khi còn gọi là dài hơi) so với các thể loại khác.” [8; tr.20]. 13 Vậy phải hiểu thuật ngữ tiểu thuyết như thế nào cho đúng? Đó là vấn đề rất đáng quan tâm trong tiến trình nghiên cứu văn học hiện đại hiên nay. Về mặt định nghĩa, cũng có khá nhiều những ý kiến khác nhau về khái niệm tiểu thuyết và hiện nay vẫn chưa đồng nhất quan điểm giữa các tác giả. Mỗi người đều có những cái nhìn riêng, có tác giả lý giải tiểu thuyết ở phương diện nội dung, có tác giả lại lý giải ở phương diện nghệ thuật, có người thì dựa vào dung lượng của tiểu thuyết để phân chia thành nhiều loại khác nhau. Điển hình trong một số tự điển, một số nghiên cứu như sau: Theo Tự điển Hán – Việt (Nhà xuất bản Sài Gòn, 1953) thì “Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi kể một câu chuyện.” [8; tr.29]. Một khái niệm khác trong Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004) định nghĩa tiểu thuyết là “Truyện dài bằng văn xuôi có dung lượng lớn, với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử, xã hội rộng lớn.” [8; tr.30]. Còn trong 150 thuật ngữ văn học của tác giả Lại Nguyên Ân, ông lại cho tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách.” [1; tr.313]. Lại có một định nghĩa cụ thể hơn về tiểu thuyết trong quyển Lí luận văn học của tác giả Phương Lựu, theo Phương Lựu thì “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng.” [12; tr.387]. Ngoài ra, tiểu thuyết còn được định nghĩa khá rõ ràng trong quyển 25 năm – một vùng tiểu thuyết, các tác giả nêu lên “Tiểu thuyết, còn gọi là truyện dài, là một thể loại văn học bằng văn xuôi, nhiều trang, nhân vật, tình tiết phức tạp, nhiều tuyến, nhiều tầng, hoạt động trong một không gian, thời gian không hạn chế.” [8; tr.30] Qua những định nghĩa trên về tiểu thuyết, ta thấy được, qua thời gian, các định nghĩa của tiểu thuyết dần được bổ sung và được hiểu một cách chính xác, đầy đủ hơn. Tìm hiểu qua một loạt những nhận định trên, đồng thời căn cứ vào thực tiễn phát triển hiện nay của thể loại tiểu thuyết, người viết nhận thấy: Tiểu thuyết (hay còn gọi là truyện dài), là một thể loại văn xuôi có dung lượng lớn, chứa đựng nhiều tình tiết phức tạp, 14 những bức tranh cụ thể, bao quát về cuộc sống, về một giai đoạn lịch sử, tái hiện những hình ảnh thực trong đời sông (có thể có hư cấu), có nhiều tính cách, nhiều nhân vật trong không gian, thời gian không giới hạn. 1.4.3. Đặc điểm của tiểu thuyết Tiểu thuyết tuy là một thể loại mới hơn so với các thể loại khác nhưng hiện nay lại là một trong những thể loại quan trọng trong văn học hiện đại Việt Nam cũng như trên thế giới. Nó cũng có những đặc điểm quan trọng để cấu thành nên một thể loại nhất định để phân biệt rõ ràng giữa tiểu thuyết với các thể loại khác. Tiểu thuyết là thể loại giàu chất văn xuôi, tức là tái hiện cuộc sống 1.4.3.1. không thi vị hóa, không lãng mạn hóa, không lý tưởng hóa Đó là đặc điểm cơ bản nhất để làm cho tiểu thuyết khác với truyện thơ trường ca, thơ trường thiên hay sử thi. Nói về chất văn xuôi, “có lẽ Hêghen là người đầu tiên nói một cách khá sâu sắc về tính “văn xuôi” (caractere prosaique) của thể loại tiểu thuyết. Hêghen sử dụng từ này không phải theo nghĩa hẹp (văn xuôi khác với thơ ca), mà muốn nói đến một đặc trưng thẩm mĩ của thể loại. Ông cho rằng “tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại giả thiết phải có một hiện thực đã làm thành văn xuôi làm tiền đề cho nó” [17; tr.100]. Tiểu thuyết phản ánh tất cả những màu sắc của cuộc sống, từ nét đẹp đẽ, kỳ bí trong truyện cổ tích đến những anh hùng như trong các sử thi anh hùng ca. Tiểu thuyết chứa đựng tất cả những hỷ, nộ, ái, ố, những cung bậc của cuộc sống và tất cả các phạm trù của mĩ học. Tất cả những thứ ấy làm nên chất văn xuôi trong tiểu thuyết, hình thành nên tính chất đặc trưng cho tiểu thuyết: chất văn xuôi. Thời gian đầu trước khi định hình nên thể loại tiểu thuyết như ngày nay, tiểu thuyết ở phương Tây cũng như phương Đông đều có thể xuất hiện dưới dạng văn vần chứ không nhất thiết phải là văn xuôi. Tác phẩm Nhị độ mai, Hoa tiên, …đều được coi là tiểu thuyết bằng thơ, nhưng những tác phẩm trên, do bị hạn chế bởi sở đoản của thơ trong thể loại văn vần, bị chi phối bởi niêm luật nên các tác phẩm không thật sự đi sâu vào mọi mặt của đời sống và diễn biến tâm lý nhân vật và diễn tả nó một cách sâu sắc nhất. Và dĩ nhiên, thể loại tiểu thuyết cũng không thể phát huy được hết sở trường của mình, cho nên khái niệm tiểu thuyết bằng văn vần chưa kịp định hình đã bị tiểu thuyết bằng văn xuôi lấn lướt. 15 Các tác giả lớn như Baldaz, L. Tolstoi, Doxtoievski, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,… đã cho ra đời những tác phẩm thể hiện đậm nét chất văn xuôi. Chẳng hạn như Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, ta thấy được nụ cười trào phúng, mỉa mai vào cái xã hội mà ai cũng cho mình là thượng lưu, là văn minh, là Âu hóa. Qua những “số đỏ” mà Xuân tóc đỏ có được: từ một thằng ma cà bông, sống đầu đường xó chợ, phải nhặt banh sân quần vợt rồi bán thuốc dạo, Xuân bỗng chốc trở thành người có địa vị, là ông đốc tờ Xuân, là sinh viên trường thuốc, là một cây hy vọng của quần vợt Bắc kì, một vĩ nhân cứu quốc, một bậc thượng lưu của xã hội,…Vũ Trọng Phụng đã vạch trần được cái xã hội lúc bấy giờ, tạo nên tiếng cười châm biếm vào cái xã hội tư sản nhố nhăng. Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa mà nó tái hiện lại một cuộc sống rất chân thật. Tiểu thuyết phơi bày những bộ mặt khác nhau của xã hội, soi chiếu từng góc cạnh của cuộc đời. Như trong tác phẩm Sống mòn của Nam Cao. Bằng ngòi bút của mình, tác giả đã tái hiện lại bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ, cái xã hội tàn nhẫn vùi dập mọi ước mơ, hoài bão, tước đi ý nghĩa sự sống chân chính của con người, khiến con người sống mòn, chết mòn trong tuyệt vọng. Trong từng nhân vật, Nam Cao đã phanh phui, bóc trần mọi ngõ ngách sâu kín vốn có trong lòng dạ con người. Tâm lí nhân vật được thể hiện qua những cảnh cắn rứt hành hạ lẫn nhau, giữa cái chật hẹp của hạnh phúc và tự làm tình làm tội mình qua một chuỗi ân hận, dằn vặt, xót xa. Thứ đã nhiều lần nghĩ xấu về Đích, khi thấy Đích bệnh nặng không qua khỏi một mặt Thứ mong cho hắn chết ngay đi, một mặt lại thấy cảm thương cho Đích. Hay khi y nghi ngờ vợ, tát vợ một cái để rồi lại tự mình đau khổ. Chính nghèo hèn đã đẩy nhân vật vào cuộc sống chạy theo cơm áo gạo tiền mà không biết mình đang bị bào mòn bởi chính cái nghiệt ngã đó. Và từ đây, con người có những hành vi ích kỉ, hẹp hòi, nghi ngờ lẫn nhau: Thứ nghi ngờ Oanh, Đích lừa công sức bạn bè mình để kiếm tiền, nghi ngờ cả Oanh ở nhà không chung thủy,… Những cái lẩn quẩn trong sự nghèo khổ, ghen tuông, ghen ghét, đố kị đã đẩy con người vào bi quan, không lối thoát. Nhờ vào chất văn xuôi mà tiểu thuyết mới phát huy được mọi ưu thế và phát triển mạnh mẽ, trở thành tiểu thuyết hiện đại như hiện nay. 16 Tiểu thuyết mang đẫm chất văn xuôi, gần gũi với cuộc sống nhưng tiểu thuyết không phải là bức tranh chụp lại của hiện thực cuộc sống. Cuộc sống chỉ là chất liệu làm nên tiểu thuyết. Nhà văn ghi nhận lại những điều “tai nghe mắt thấy”, những cảm nhận có thật từ cuộc sống, sau đó, qua cảm quan nghệ thuật của mình, nhà văn tiếp tục nhào nặn và sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Bởi thế nên, tiểu thuyết không chỉ phản ánh cuộc sống mà còn giúp cho ta có cái nhìn tinh tế và hiểu sâu sắc hơn về cuộc sống. 1.4.3.2. Nhân vật trong tiểu thuyết là con người nếm trải Tiểu thuyết là loại hình tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết là thể loại có thể vẽ nên bức chân dung con người tỉ mỉ và rõ ràng nhất với toàn bộ những diễn biến, sự kiện xoay quanh nhân vật đó. Nếu như các thể loại khác như sử thi, truyện cổ tích,…nhân vật thường được định hình những tính cách đặc trưng từ đầu cho đến cuối tác phẩm như trong truyện cổ tích Thạch Sanh: Nhân vật Thạch Sanh tốt bụng và dũng cảm, còn Lý Thông thì độc ác, xảo trá trong suốt câu chuyện và không hề thay đổi thì trong tiểu thuyết, con người phải nếm trải những đau khổ, vui buồn, những biến cố thăng trầm trong cuộc đời. Tính cách của nhân vật, vì thế, cũng có thể sẽ thay đổi trong từng tình huống, từng bước ngoặt lớn trong cuộc đời họ. Như trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, chị Dậu vốn mang bản chất hiền lành, nhút nhát và cam chịu, nhưng khi anh Dậu bị bọn cai lệ đánh đập thừa sống thiếu chết, tức nước vỡ bờ, với sức mạnh của người đàn bà lực điền, chị đã vùng dậy, chống lại bọn chúng để bảo vệ chồng mình. Rồi trong đoạn cuối tác phẩm, sau những ức hiếp, chị đã vùng chạy đi trong đêm tối, tự tìm lối thoát cho bản thân mình. Tất cả những nhân vật trong tiểu thuyết, họ phải nếm trải, đương đầu với thực tại của cuộc sống. Và cuộc sống sẽ làm họ thay đổi tiến bộ hơn, nhưng đôi khi lại biến họ sống tiêu cực hơn qua những va vấp, chướng ngại của cuộc đời. 1.4.3.3. Trong tiểu thuyết có yếu tố thừa Tiểu thuyết không chỉ so với thơ ca mà ngay cả so với các thể loại khác như truyện ngắn hay truyện vừa cũng hơn hẳn về khả năng thể hiện cuộc sống không giới hạn, bởi trong tiểu thuyết còn dung nạp những yếu tố thừa như những suy tư của nhân vật về thế giới và cuộc đời, sự phân tích chi tiết hơn những diễn biến tình cảm của nhân vật, sự trình bày tường tận về tiền sử của nhân vật, hay các đoạn trữ tình ngoại đề. Tuy gọi là yếu tố thừa, là những cái bên ngoài nhưng đó lại là một trong những phần quan trọng làm nên 17 chất tiểu thuyết. Nó góp phần làm cho tiểu thuyết có dung lượng lớn hơn các thể loại khác, nó làm rõ hơn về nhân vật, giúp nhà văn lồng vào tiểu thuyết những tư tưởng, những suy nghĩ của mình vào trong tác phẩm. Đọc những tác phẩm của các tác giả lớn như Victor Hugo hay Đôxtôiepki, chúng ta sẽ thấy rất nhiều những đoạn miêu tả tâm trạng, phân tích những suy nghĩ, diễn biến tâm lí nhân vật về cuộc đời, về số phận, và cả những lời bình luận của chính tác giả, những suy tư của chính bản thân mình. Lấy ví dụ trong tiểu thuyết Oxford thương yêu của Dương Thụy có đoạn “Kim bực mình nghĩ lỗi này do các phương tiện truyền thông chỉ đua nhau ca ngợi những gương mặt Việt Nam thành công ở nước ngoài, rồi báo chí hè nhau hoan hô các học sinh - sinh viên đoạt giải thưởng và các huy chương quốc tế. Nhưng những trường hợp đặc biệt này chiếm bao nhiêu phần trăm? Còn bao nhiêu du học sinh học hành lẹt đẹt, ngoại ngữ lõm bõm, cày ngày cày đêm cũng chỉ mong vượt qua được ngưỡng không bị điểm liệt sao họ không đưa tin? Rồi chịu khó lên mạng Internet mà xem, ở khắp nơi trên thế giới còn bao nhiêu sinh viên Việt Nam bế tắc đến nỗi phải vào bệnh viện tâm thần hay thương tâm nhất là tự hủy mình, sao báo chí không lên tiếng? Kim căm ghét cái thói sĩ diện và hay ca ngợi của dân mình. Hay là càng tự ti nên mới càng tự tôn, dạng như Thúy Hà, giáo viên Đại học đó? [4; tr.19] Cách phân tích tâm lí nhân vật Kim chi tiết hơn và những thông tin mà Dương Thụy đưa vào tác phẩm làm cho hình tượng nhân vật sâu sắc hơn và thể hiện được cái nhìn hiện thực của tác giả. Bởi thế nên, có tên gọi là yếu tố thừa nhưng thực chất đó lại là yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết. Tất cả những yếu tố kể trên đã làm nên một thể loại mang tên tiểu thuyết, một thể loại có sức phản ánh tỉ mỉ nhất, trọn vẹn nhất, sâu sắc nhất và đầy đủ nhất. 1.4.3.4. Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác Tiểu thuyết có thể tổng hợp những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác. Những rung động tinh tế trong thơ ca, tính hiện thực thời sự của kí, những xung đột giằng co của kịch,… tất cả đều được các tác giả đưa vào trong tác phẩm tiểu thuyết của mình. Tiểu thuyết vận dụng màu sắc của hội họa, âm thanh trong âm nhạc, những lát cắt khác nhau trong điện ảnh, cả những bộ môn khoa học khác như tâm lí học, đạo đức học, khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng một cách linh hoạt, làm cho tiểu thuyết trở nên 18 hấp dẫn hơn và có giá trị hơn. Đọc một loạt tác phẩm tiểu thuyết như Mật mã Da Vinci, Biểu tượng thất truyền, Lâu đài số, Thiên thần và ác quỷ của tác giả Dan Brown, ta thấy trong đó là sự kết hợp của nhiều lĩnh vực khác nhau: tôn giáo, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, và cả yếu tố khoa học viễn tưởng. Tất cả hòa với nhau tạo nên những tác phẩm tiểu thuyết gây rất nhiều sự tranh cãi cho các nhà bình luận văn học về giá trị của nó. Hay chất huyền thoại pha chút viễn tưởng, khoa học trong Trăm năm cô đơn của G. Marquez, yếu tố sử thi và tính trữ tình trong Chuông nguyện hồn ai của Hêmingguây,… 1.5. Sơ lược đôi nét về tình hình sáng tác ở Việt Nam đầu thế kỉ XXI Cùng với nền văn học thế giới, văn học Việt Nam đang có sự chuyển mình cùng với quá trình đổi mới của đất nước. Trong xu thế chung của thời đại, xu thế đổi mới của đất nước, văn học Việt Nam cũng có những hiện tượng thu hút với công chúng, có những tác phẩm lôi cuốn độc giả và có nhiều ý kiến tranh luận của các nhà nghiên cứu phê bình…Những tác phẩm thể hiện phương pháp sáng tác của chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo, chủ nghĩa hiện sinh kết hợp trong mỗi tác phẩm tạo nên dư luận với những ý kiến đánh giá khác nhau. Hàng loạt tác phẩm như Tự sự 265 ngày, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư; đặc biệt là Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, mặc dù cho đến bây giờ, ý kiến về nhà văn này vẫn rất khác nhau. Tập truyện ngắn mới của Nguyễn Thị Thu Huệ Nào, ta cùng lãng quên, vừa mới xuất bản, cũng được hào hứng đón đọc. Có những cây viết trẻ, vừa mới xuất hiện tác phẩm đầu tay, như Nguyễn Ngọc Thuần với Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm mộng, Nguyễn Ngọc Tư tiêu biểu với truyện ngắn Cánh đồng bất tận và Phương Trinh với Mây bay ngang rồi mây bay qua, Quả táo, là những truyện ngắn khá tinh tế, hứa hẹn mới lạ… cũng đã được người đọc chú ý ngay. Yếu tố kỳ ảo được nhiều nhà văn trẻ thể hiện trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Giấc ngủ nơi trần thế của Nguyễn Thị Ấm, Hồn trinh nữ của Võ Thị Hảo, Cứu tinh của Hồ Anh Thái, Thợ may của Phạm Hải Vân… Cái ác qua yếu tố kỳ ảo được thể hiện dưới nhiều hình thức hết sức đa dạng. Có khi nó là sự thể hiện mặc cảm phụ bạc và 19 con người tâm linh sám hối như trong Hoa đại trắng của Đức Ban. Cũng có khi đó là thói nghiện ngập, đam mê thái quá đến mức bệnh hoạn như trong Điếu cày của Phạm Hải Vân. Như vậy, bằng việc hữu hình hóa cái ác qua yếu tố kỳ ảo, các cây bút viết truyện ngắn sau 1975 đã thể hiện nỗi lo âu khắc khoải về sự suy mòn của nhân tính, của đạo lý truyền thống. Giữa lúc giá trị đạo đức bị tấn công từ nhiều phía, ở hiền chưa chắc đã gặp lành, con người tìm đến yếu tố kỳ ảo để tìm đến một giải pháp thăng bằng tâm linh giữa xã hội đầy biến động. Bên cạnh đó, nhu cầu đào sâu tìm hiểu con người cá nhân, con người bản thể đang trở thành tâm điểm chú ý của nền văn học. Vì thế, dễ nhận thấy, văn học đương đại đang quan tâm nhiều đến sự giải phóng cái tôi cá nhân, con người cá nhân tự do và hiện sinh. Chủ đề giới tính xuất hiện ngày càng nhiều trong văn học với rất nhiều tên tuổi như Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư… Đây thực sự là vấn đề lớn cần nhiều thời gian xem xét và có sức vẫy gọi rất lớn với những ai tâm huyết muốn tìm hiểu. Thơ ca Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI đang có dấu hiệu của sự chuyển động và đang tạo ra được diện mạo mới. Nổi lên như một hiện tượng, nhà thơ Vi Thùy Linh có những cách tân thể hiện được nhiều người chú ý và một số nhà thơ trẻ khác như: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ngô Tự Lập, Lê Thu Thủy, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Nguyễn Quyến, Nguyễn Vĩnh Tiến, Ly Hoàng Ly, Dạ Thảo Phương, Nguyễn Danh Lam… đã tạo được cho mình tiếng nói riêng ở trên thi đàn. Văn học Việt Nam những năm đầu của thế kỉ XXI đã có những chuyển biến rõ rệt. Tồn tại song song cùng những giá trị truyền thống có từ xưa đến nay, thì văn học được các tác giả cách tân không mệt mỏi. Các tác giả của đủ mọi tầng lớp, đặc biệt là các tác giả nữ dần ra đời với số lượng đông đảo. Nhà văn có cái nhìn sống hơn về thực trạng của đời sống. Những vấn đề mới còn rất nhạy cảm như tâm linh, như sex đều được nghiên cứu và phơi bày ra dưới con mắt của văn chương. Những kết cấu và nội dung lạ đang được khai thác và hứa hẹn sẽ có những tác phẩm văn chương để đời cho nền văn học của tuổi trẻ trong thế kỉ đổi mới hiện nay. 1.6. Vài nét về tác giả và tác phẩm 1.6.1. Tác giả 20
- Xem thêm -