Giá trị của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm

  • Số trang: 42 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Mẫu tính là một khái niệm xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực văn hoá, văn học, đặc biệt là văn học dân gian. Nhắc đến tính mẫu, chúng ta có thể hiểu đó là những thuộc tính của phẩm chất mẹ. Điều này sẽ được chúng tôi lý giải cặn kẽ trong phần giới thuyết khái niệm. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến tầm quan trọng của tính mẫu trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tác văn học nói riêng. Bắt đầu từ văn học dân gian đến văn học viết hiện đại, mẫu tính được xem như là một đặc điểm tồn tại xuyên suốt tuy nó được thể hiện đậm nhạt khác nhau ở từng tác giả cũng như từng giai đoạn văn học. Có thể, trong đời sống, khi tồn tại trong dạng những biến thể của mình, tính mẫu được hiểu theo những khía cạnh hết sức giản đơn; nhưng trong lĩnh vực khoa học, nó cần phải được cắt nghĩa cho chính xác và có sức thuyết phục. 2. Mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm là một giá trị quan trọng nhưng chưa được khám phá nhiều. Vì thế, báo cáo này đã chọn mẫu tính làm đề tài nghiên cứu. II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Hoàng Cầm là một tác giả nổi bật trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Do vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu cũng như bài viết nói về Hoàng Cầm và thơ ông. Họ tiếp cận thơ ông ở nhiều phương diện, từ đó đi tới khẳng định vai trò của ông trong tiến trình thơ ca Việt Nam. Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm ra một số công trình và bài viết tiêu biểu, có liên quan trực tiếp tới báo cáo này. 1. TS Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Hoàng Cầm – người dệt thơ từ những giấc mơ” đã chú ý nhiều đến yếu tố siêu thực, vô thức, nhục cảm trong “ Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm. 2. Đỗ Đức Hiểu trong bài “ Thơ mới – cuộc nổi loạn ngôn từ” đã nhấn mạnh nhạc tính và nhịp điệu trong thơ Hoàng Cầm Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội 1 Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu 3. Phạm Thị Hoài viết “Đọc Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm” thấy có nhiều tính nữ 4. Trần Thị Huyền Phương trong luận án thạc sĩ “Sự kết hợp giữa yếu tố thực và hư trong thơ Hoàng Cầm” cũng nói đến vẻ đẹp siêu thực của người phụ nữ trong thơ Hoàng Cầm. 5. GS. Nguyễn Đăng Mạnh trong “ Mấy ý nghĩ nhân đọc Mưa Thuận Thành” đã cho rằng thơ Hoàng Cầm là “siêu thơ” 6. TS. Đỗ Lai Thúy lại tiếp cận thơ Hoàng Cầm ở khía cạnh tiểu sử và phân tâm học khi cho rằng “Về Kinh Bắc” như một giấc mơ. 7. TS. Chu Văn Sơn trong bài “ Hoàng Cầm – gã phù du Kinh Bắc” tiếp cận hệ thống hình tượng trong thơ Hoàng Cầm với bộ ba : cái tôi bị trúng thương, người tình hờ hững và thế giới Kinh Bắc bị trúng thương. Các bài viết trên đã giúp ích rất nhiều cho người viết hoàn thành báo cáo này. III. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Thơ Hoàng Cầm là một thế giới “siêu thơ” không dễ gì nắm bắt. Người viết không có tham vọng hiểu tất cả thế giới thơ ấy mà chỉ tập trung đi vào tìm hiểu “Vẻ đẹp mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm”. Từ đó, bước đầu đưa ra những nhận xét về vai trò và giá trị của yếu tố này đối với thơ Hoàng Cầm. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thống kê, phân loại 2. Phương pháp phân tích tác phẩm 3. Phương pháp so sánh đối chiếu V. CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO Chương 1: Khái niệm mẫu tính Chương 2: Biểu hiện của tính mẫu trong thơ Hoàng Cầm Chương 3: Nguồn gốc của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm Chương 4: Giá trị của mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội 2 Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM MẪU TÍNH 1. Tính nữ, thiên tính nữ, âm tính : 1.1. Tính nữ: Tính nữ xuất hiện như là một thuật ngữ trong biểu tượng văn hóa thế giới.Tuy vậy trong quá trình sử dụng thì nữ tính và tính nữ thường không có sự phân biệt rạch ròi. Khi nói rằng nữ tính là vẻ đẹp của phụ nữ với tất cả những biểu hiện phong phú của nó thì xét trên một bình diện nào đó, tính nữ trùng với nữ tính. Nhưng thực chất tính nữ là một khái niệm phát triển cao hơn nữ tính. Tác giả Jean Chevalier, Alain Gheerbranta trong “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” có nhắc đến tính nữ là sự tượng trưng cho phương diện vô thức Anima.Trong Thiên chúa giáo, Đức mẹ đồng trinh là biểu tượng cao cả về tính nữ. Có thể nói, tính nữ đã được kết tinh thành những biểu tượng mang tính văn hóa đậm nét. Đó là “biểu tượng của sự hoàn hảo vẻ đẹp và những phẩm chất chu kì của tình yêu nhục dục” (Mật mã D.Vanci) 1.2. Thiên tính nữ: Có thể hiểu rằng, thiên tính nữ là nữ tính thể hiện ở thế giới nghệ thuật tác phẩm có thể không phải là của tác giả nữ, là chất nữ tính của hình tượng nhân vật, hình ảnh, ngôn ngữ, lối tư duy...Hoàng Ngọc Hiến trong “tính nữ, thiên tính nữ- đặc điểm trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp” cho rằng: “thiên tính nữ lớn hơn nhân loại và cổ xưa hơn nhân loại(...). Trong các nhân vật nữ có những con người uư tú, có nhiều người đáng gọi là liệt nữ. Nó là hiện thân của nguyên tắc tư tưởng tạo ra chủ đạo của tác giả, có thể gọi là nguyên tắc tính nữ hoặc thiên tính nữ” 1.3. Âm tính: Âm tính là một khái niệm xuất phát từ cặp phạm trù triết học âm – dương: trong âm có dương, trong dương có âm, mọi vật do âm dương kết hợp mà thành, âm dương xô đẩy vào nhâu làm mọi vật sinh sôi nảy nở (Kinh 3 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Dịch). Riêng về cặp phạm trù âm dương, GS Trần Ngọc Thêm đã chứng minh tư tưởng âm – dương là sản phẩm của dân Nam Á- Bách Việt cổ đại (chứ không phải từ Trung Hoa). “Chữ âm - dương bắt nguồn từ Ina- yang của tiếng Đông Nam Á cổ đại với nghĩa gốc là Mẹ- Cha/ Đất- Trời” [122, 17]. Tính nữ, thiên tính nữ đều thuộc âm tính, đối lập với phụ tính-dương tính. 2. Mẫu tính: 1.1. Trong từ điển Hán Việt (Thiều Chửu, NXB Thanh Niên, 2004). Mẫu có nghĩa là Mẹ; “phàm vật gì làm cốt để sinh ra các cái đều gọi là Mẫu”. Trong tiếng Việt cổ, Mẹ còn được gọi là Mệ,Mạ.... Trong triết học, văn hóa học, các đạo Mẫu, Phật, Hán, Nho tồn tại khái niệm nguyên lý tính Mẫu hoặc nguyên lý Mẹ. Văn hóa tính Mẫu xuất phát từ nền văn hóa coi trọng người phụ nữ, khác với nền văn hóa phương bắc (phụ tính – dương tính) “Thế giới tâm linh của người Việt Nam là do nữ giới cai quản” [12].Từ sự coi trọng phụ nữ, nhân dân ta đã sủng bái sự sinh sôi, nảy nở không những của con người mà còn của tự nhiên vạn vật tạo nên tín ngưỡng phồn thực mang đậm chất dân gian. Trên cơ sở đó, khái niệm nguyên lý Mẹ được GS Trần Quốc Vượng và sư Thích Nguyên Hiến trong các công trình nghiên cứu của mình như là nền tảng gốc của văn hóa Việt (Tiếp cận văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, NXB VHTT, HN) Theo TS Trần Văn Đoàn (trong luận án tiến sĩ triết học phương đông, tháng 6/2006), nguyên lý tính Mẫu gồm bốn yếu tố: sinh. dưỡng, dục. lạc. Việt Nam có nền văn hóa chú trọng tới vai trò của người Mẹ, vì vậy lối suy tư Mẫu tính đã trở thành đặc trưng của nền văn hóa Việt. Tính Mẫu được thể hiện rõ nhất trong Đạo Mẫu. Tại sao lại có tín ngưỡng thờ Mẫu - thờ Mẹ? Từ thời nguyên thủy, con người bắt đầu có ý thức sâu sắc về sự sinh sản, sinh sôi nảy nở. “Đó không khác gì ngoài người Mẹ mang nặng đẻ đau, sinh ra, nuôi dưỡng,che chở cho những đứa con (....). 4 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Bởi vậy những cái gì sinh sôi, nuôi sống che chở bảo vệ con người, chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy đều được coi là Mẹ (Nguyễn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, NXB VHTT, 2001) Như vậy ta thấy có sự gặp gỡ trong nghiên cứu của các nhà văn hóa học mà Trần Văn Đoàn đã khái quát thành bốn giá trị của Mẫu tính: sinh, dưỡng, dục, lạc. Trở lại với Đạo Mẫu, tam tòa Thiên-Địa-Nhân được thể hiện bởi các Mẫu: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Liễu Hạnh. Trong điện thờ Mẫu có câu đối: Vô danh thiên địa chi thủy Hữu danh vạn vật chi Mẫu (Chưa hình thành trời đất là lúc khởi thủy / hình thành muôn vật ấy là từ người Mẹ) để tôn vinh người Mẹ,ví công người Mẹ sinh thành như khởi thủy sinh ra trời đất. Như thế, khái niệm Mẫu tính vốn xuất phát từ nền tảng gốc của văn hóa Việt, mang đậm tính chất Việt. Nó cũng được phản ánh vào trong văn học như một cội nguồn của cảm hứng nghệ thuật. Ở đó, để hiểu tác phẩm, người ta cần phải giải mã được những biểu tượng văn hóa. 2. Trong “ Nghệ thuật sống đẹp”, Lâm Ngữ Đường đã chỉ ra “ tất cả những người đàn bà vô học hoặc có học thức lành mạnh đều có Mẫu tính.Mẫu tính này phát sinh từ thủa nhỏ, càng lớn lên càng mạnh. Cụ thể là: bản năng làm Mẹ-bản năng hy sinh và dĩ nhiên người đàn bà sẽ đau khổ về tâm lý nếu không sinh con, nuôi con được”. Điều này được thể hiện hết sức phong phú trong tiểu thuyết “ Mẫu Thượng Ngàn” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Tác phẩm là một thế giới tràn ngập Mẫu tính. Tác giả đã nói về tính mẫu trong tác phẩm của mình trong tương quan so sánh với tính nữ: “ Người Việt cổ mình là thờ người Mẹ, người mang nặng đẻ đau, ôm ấp, che chở, nuôi nấng và chăm bẵm con mình suốt đời, nó khác hoàn toàn với tính nữ. Nếu tính nữ đơn thuần chỉ là tính mềm mại, uyển chuyển, 5 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu tính nhu thì “ Mẫu Thượng Ngàn” vẫn có tính nữ nhưng đó là tính nữ phát triển lên trọn vẹn là tính mẫu” (nhà văn Nguyễn Xuân Khánh nói về “Mẫu Thượng Ngàn” trên vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2006/10/619988) Bài viết về mẫu tính có vai trò quan trọng hơn cả đối với báo cáo của chúng tôi là bài viết của TS Chu Văn Sơn trong “Đường tới cỏ lau” (Nguyễn Minh Châu, tài năng và sáng tạo nghệ thuật, NXB VHTT,2001) “ Nếu cái Đẹp là sự sống thì mẫu tính là cội nguồn của sự sống này. Đó là nguyên tố đầu tiên cũng là vẻ đẹp cuối cùng của thế giới chúng ta. Sự trường cửu này không phải hằng được duy trì bằng mẫu tính đó sao?” Trong phần sửa chữa bài viết này, thầy đã đi sâu hơn vào khái niệm mẫu tính trong tương quan so sánh với nữ tính. Cụ thể: “Về phạm vi hiện diện, mẫu tính có phần rộng hơn nữ tính. Nếu nữ tính chỉ giới hạn ở con người và ở giới nữ thì mẫu tính là phẩm chất không chỉ bó hẹp trong giới nữ, ở loài người,mà tiềm ẩn ở nhiều loài khác.(phát triển hơn so với luận điểm “đã nói đến “mẫu tính” dĩ nhiên đó trước hết phải là phẩm chất của các nữ nhân vật”). Về nội dung: nữ tính là phẩm chất thuộc giới tính,phái tính,còn mẫu tính là đặc tính của sự sống, thuộc về cõi sống. Còn trong mối liên hệ qua lại thì mẫu tính là phần cốt lõi nhất, đặc sắc nhất của nữ tính” Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng khái niệm mẫu tính của TS Chu Văn Sơn như là một khái niệm công cụ để tiến hành khảo sát đặc điểm mẫu tính trong thơ Hoàng Cầm: “ mẫu tính là một bản năng của sự sống ,mà biểu hiện thường trực của nó là hai tính năng:sản sinh ra sự sống và che chở cho sự sống. Do vậy, mẫu tính không bị giới hạn bởi tính nữ, không chỉ tồn tại ở người đã làm mẹ, mà còn là phẩm chất mẹ tiềm ẩn trong nhiều đối tượng khác.”. “Đó là bản năng chăm lo, bảo vệ lấy sự sống của con người do chính chúng tôi mang nặng đẻ đau ra. Đó là tình thương bẩm sinh của nữ tính - sợi dây thần kinh đặc biệt nhạy cảm của nữ giới chúng tôi, đó là tất cả cái phần sâu thẳm như một thứ thiên phú của tâm hồn nữ giới”.(Nguyễn Minh Châu, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành). 6 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu CHƯƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA MẪU TÍNH TRONG THƠ HOÀNG CẦM 1. Mẫu tính thể hiện trong nội dung tư tưởng; 1.1. Quan niệm của Hoàng Cầm về mẫu tính Trên cái nhìn lịch đại, văn học Việt Nam trải qua các giai đoạn đều mang vẻ đẹp mẫu tính với những mầu sắc khác nhau. Từ thời văn học dân gian với những thần thoại truyền thuyết, cổ tích, sử thi, dường như mẫu tính, mẫu hệ đã là một nét đặc trưng cơ bản của văn học, văn hóa dân tộc. Nhân dân ta bắt đầu có ý thức thờ các nữ thần: Nữ Oa, Thần Thủy, Lôi, Pháp, Điện..., thờ mẹ Cây, mẹ Đất, mẹ Trời như là một nghi thức thiêng liêng hướng về cội nguồn khởi thủy của con người. Đến thời văn học viết, trải qua hàng ngàn năm phong kiến, mấy chục năm dân chủ, mẫu tính vẫn như một nguồn mạch chảy trong lòng văn học dân tộc. Các nhà văn đã thể hiện tính mẫu trong tác phẩm của mình ở những mức độ và các góc độ khác nhau. Trên cái nhìn đồng đại, tuy không cùng một thế hệ cầm bút với Hoàng Cầm nhưng những tác giả nổi lên ở những thập niên cuối của thế kỉ XX như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Phạm Thị Hoài.... đã viết về mẫu tính với tất cả sự trải nghiệm và tài năng sáng tạo của mình(Phẩm tiết, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Thiên sứ....).Mỗi nhà văn đều có ý thức lý thuyết và những quan niệm nghệ thuật thẩm mỹ riêng của mình về vấn đề này. Hoàng Cầm là người đặc biệt nhạy cảm với mẫu tính. Quan niệm về tính mẫu được Hoàng Cầm phát biểu trực tiếp qua bài thơ “ Theo dòng mẫu hệ”. Ngoài lời phát biểu trực tiếp “tôi theo dòng mẫu hệ”, trong thơ Hoàng Cầm, tính mẫu còn được thể hiện qua sự huyền thoại hóa những người đàn bà trong quá khứ, hiện về trong sự đối thoại với thực tại. Họ là những Bà Trưng, Mỵ Châu, Ỷ Lan, Lý Chiêu Hoàng, Đặng Thị Huệ, Ngọc Hân,Trần Thị Tần.....Họ xuất hiện trong những trang sử vàng của dân tộc từ thuở hồng hoang, tạo nên 7 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu một tính mẫu bao trùm trong thơ Hoàng Cầm với một vẻ đẹp siêu thực, vượt thoát cao hơn thực tại. Những người phụ nữ ấy đã gợi nên cái hồn thiêng dân tộc, để ngàn sau, khi chúng ta lật giở từng trang quá khứ vẫn còn ngồn ngộn những nét đẹp diễm lệ thuở xưa: “Mải theo dòng mẫu hệ. Thắt yếm đào tuổi son. Buộc bướm vào hoa lệ” Bên cạnh những trang liệt nữ được lưu danh muôn thuở, thế giới mẫu tính của Hoàng Cầm còn là thế giới của những người mẹ, người phụ nữ không tên, bình dị, gần gũi, quê mùa, mang trong mình khát khao và năng lực sản sinh và nảy nở. Ta thấy rằng, thơ Hoàng Cầm là sự trở về cội nguồn, quê hương với con người tuổi thơ. Đây cũng chính là cách phát biểu gián tiếp quan niệm của nhà tho về mẫu tính. “Nói đến quê hương phải bắt đầu từ mẹ.Mẹ là hiện thân trọn vẹn nhất, sinh động nhất của quê hương”. Bởi vậy mẹ vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm dừng, vừa là nguồn cảm hứng, vừa là sự trở về của dòng thơ đầy ẩn ức trong tâm khảm. 1.2. Tính mẫu trong thế giới hình tượng: Theo TS Chu Văn Sơn, thế giới hình tượng của một nhà thơ trữ tình, rốt cuộc quy về hệ thống: Tôi - Người tình - Thế giới; mà ở đó cái tôi thi sĩ là trung tâm, cái tôi phổ hình bóng của nó vào người tình, thế giới. Bởi thế mà người tình, suy cho cùng là đối ảnh của tâm hồn thi nhân, là nơi giãi bày cảm xúc, nơi thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ. 1.2.1. Mẫu tính thể hiện qua hình tượng cái tôi trữ tình Chủ thể trữ tình trong thơ Hoàng Cầm xuất hiện với tư cách người em trong tình yêu và người con trong tình mẫu tử. Hai tâm thế này có lúc tách biệt nhưng có lúc lại chuyển hoá vào nhau. Dù là tình yêu đối với chị nhưng trong đó đã ẩn chứa sâu xa tình mẫu tử thiêng liêng. Mà trong thế giới ấy tôi luôn là kẻ kiếm tìm, bám víu, nương tựa vào tình yêu của chị và của mẹ. Có lẽ sẽ không thể cấu thành một cái tôi đặc biệt nhạy cảm như thế nếu không có hình tượng Chị và Mẹ - đại diện của thế giới Mẫu tính . 8 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Cái tôi - người Em xuất hiện trong chùm những bài thơ viết về mối tình Chị - Em, đặc biệt trong nhịp 5 – còn Em (Về Kinh Bắc). Tình yêu trẻ thơ nhưng không hề ngại ngần những yếu tố nhục cảm. Chắc hẳn đây không phải là tình yêu của trò chơi con trẻ đơn thuần. Có thể nó là sự thăng hoa của một tâm hồn đã mang nhiều ẩn ức? Tình yêu của Em đối với Chị mang sắc màu Mẫu tính, bởi cách nhìn của Em về Chị bao giờ cũng đặc biệt thân thiết, thiêng liêng như người Mẹ. Người Chị mang trong mình những bản năng của Mẹ, bởi vậy mà Em tìm đến Chị cũng là tìm đến nơi vỗ về, che chở, là nơi trao nguồn yêu thương, trao hơi ấm cuộc đời. Ta có thể dễ dàng nhận ra tư thế của người Em trong tình yêu: một con người bé nhỏ, đơn côi lang thang đi hết không gian, thời gian thực rồi lạc lối trong cõi không gian thời gian siêu thực để kiếm tìm tình yêu của Chị. Suốt đời, suốt kiếp Em luôn phải chạy theo, níu giữ tình yêu ấy, bởi luôn có một sự ám ảnh đến đau đớn thể hiện qua môtíp “ Chị bỏ Em đi”. Như vậy, tư thế của người Em có thể được gọi là “ hành trình đi tìm lá Diêu Bông” hay tư thế của “ kẻ đi tìm mộng” cho giấc mơ tình yêu không bao giờ thoả mãn “ dẫu biết Diêu Bông không có thực”. Ở “ cây tam cúc” – trò chơi con trẻ và canh bạc cuộc đời ấy, Em đã tìm kiếm Chị, tìm hơi ấm tình yêu của Chị: “nghé cây bài tìm hơi tóc ấm” và nhận ra vẻ đẹp mà Em thầm khao khát từ nơi Chị “ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”. Em đã nắm bắt được phút giây hạnh phúc ấy, cảm nhận được sự quý giá của khoảnh khắc ấy, để rồi vụt lên mong ước thơ ngây “ Em đừng lớn nữa, Chị đừng đi”. Cũng giống như nhân vật trữ tình trong bài thơ “ Vội vàng” (Xuân Diệu) muốn “ tắt nắng, buộc gió” cho hạnh phúc, tuổi trẻ và tình yêu mãi ở bên ta; mọi ước mong, khát vọng đều là bồng bột, mê say và lãng mạn. Hành trình đi tìm hạnh phúc của người Em vượt qua mọi giới hạn không gian thời gian: Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể 9 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Gió quê vi vút gọi Diêu bông hời ... ới diêu bông ! (Lá Diêu Bông) Lá Diêu bông là một ảo tưởng tình yêu. Dẫu biết rằng không có thực nhưng Em vẫn khát khao tìm đến với tấm lòng yêu ngây thơ và nhiệt thành của cậu bé tám tuổi đầu. Rồi “đi” cho đến khi “ ngày tháng lụi” mà Em vẫn “ không tìm thấy” “ quả vườn ổi” của chính mình : Chị xoạc cành ngang Em gốc cây - Xin Chị một quả chín! - Quả chín quá tầm tay - Xin Chị một quả ương - Quả ương chim khoét thủng (Quả vườn ổi) Em với Chị là cả hai thế giới; Em “ lẽo đẽo” tìm theo Chị, cầu xin van nài tình yêu. Nhưng ngăn cách giữa thế giới hai Chị Em là “ cheo leo mỏm đá / trước vực / sau khe”. Lá Diêu bông, Cỏ Bồng Thi hay Cỏ Thiên Đồng đều là cái đích tình yêu mà Em suốt đời tìm kiếm nhưng nó chỉ là hư ảnh, chỉ là giấc mơ thôi. Cũng giống như “quả vườn ổi” là một thứ trái cấm mà Em không bao giờ có được. Em luôn là kẻ lạc loài theo sau “ lẽo đẽo Em đi vườn mai sau / cúi nhặt chiều mưa dăm ba quả rụng” bởi lẽ “Chị bỏ Em đi” “ Chị bảo Em quên” “ Xoè tay phủ mặt chị không nhìn”. Em khao khát Chị nhưng Chị lại luôn từ chối, luôn chặn đứng khát vọng tình yêu nơi Em, để Em mãi mãi vẫn là chú bé lạc loài đi kiếm tìm hạnh phúc trong ảo ảnh. Bởi vậy, sau mỗi cuộc hành trình là một bi kịch không lối thoát. Tâm trạng Em luôn khổ đau tuyệt vọng; Em luôn bị giày vò, ám ảnh bởi tình yêu 10 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu không được đáp đền, tình yêu thất bại và đổ vỡ. Sự tan nát của trái tim yêu non nớt đã tạo thành những khối đau thương, những mặc cảm, ẩn ức trong tình yêu của chủ thể trữ tình. Chơi tam cúc cùng với Chị nhưng “ tình Em không sao xé vỏ để tỏ ra ngoài được, đến lúc bật được ra ở cuối bài thì chỉ còn là một khối tình nghẹn uất không thể tiêu tan” (Chu Văn Sơn). Trong bi kịch tình yêu của Em có đủ cả nhớ thương hờn giận : Ngày Chị bảo Em quên (...) Thương Em hay giận Em chả biết. (...) Ngày Chị bảo Em quên Tắm sông Thương không mát Lên ngọn Kỳ Cùng vục nước rửa chân không mát Về đuôi mắt xưa nước suối Cam Lồ không mát (...) Tha cho Em Tha Em. (Nước sông Thương) Thế giới thiếu vắng tình yêu của Chị là thế giới của sự đổ vỡ sự chắp vá của những mảnh rời rạc không còn nguyên trạng: Tranh Tố Nữ long hồ gián nhấm mất chân đi má đội tổ tò vò Cuốn chiếu xa rồi thơ thẩn vách chiêm bao (Nước sông Thương) Sự vận động trong tâm trạng nhân vật trữ tình diễn ra hết sức hợp lý: khi gặp phải bi kịch tình yêu thì Em luôn cố gắng vượt thoát khỏi thế giới thực tại đau khổ ấy, hướng đến một thế giới ảo ảnh: hôn nhân trong tưởng tượng để thoả mãn giấc mơ tình yêu, để hợp thức hoá tình yêu của mình: 11 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Là Em cưới Chị xanh thiêm thiếp Sinh một đàn con mây trắng bay (Chị Em xanh) Ở đây hôn nhân như là nơi gửi gắm cuối cùng của cái khát vọng yêu đương, là cứu cánh của Em để níu giữ lại cút hơi ấm tình yêu nơi Chị “ kết xe hồng đưa Chị đến quê Em”, “ Chị lỡ xe hồng (...) cỗ cưới chênh vênh khoai luộc / mật vàng mọng rách vỏ nâu non”. Đau đáu trong Em là nỗi khát khao “áp môi bỏng cõi mưa dài / khát thêm từng trận khát hoài tuổi xưa”. Đỗ Lai Thuý trong bài viết “Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm”có nêu lên sơ đồ cảm hứng của nhà thơ qua năm bài thơ Chị - Em (trong “Về Kinh Bắc”) “có sự ham muốn tình dục với người lớn tuổi hơn, muốn cưới để thoả mãn ham muốn này trong sự hợp thức hoá (cây tam cúc) nhưng không được người nữ chấp nhận (lá Diêu Bông, quả vườn ổi) và cũng không được xã hội chấp nhận vì không hợp lẽ và nguy hiểm (cỏ Bồng Thi) nên rơi vào tình trạng nước đôi, vừa yêu vừa ghét, vừa thương mến vừa giận hờn, vừa muốn quên vừa mong nhớ (nước sông Thương). Đây cũng là cấu trúc cảm hứng của toàn bộ tập “ về Kinh Bắc” và toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm. (...) Đó không đơn giản là tình yêu trai gái thuần tuý, mà có lẽ là sự phóng chiếu của một tình cảm khác, mặc cảm Ơđíp” Bởi vậy mà tình yêu lứa đôi trong thơ Hoàng Cầm mang màu sắc mẫu tính. Yêu Chị, khao khát Chị (dù có cả ham muốn tình dục đi nữa) thì cũng chỉ là sự phóng chiếu của tình yêu đối với Mẹ mà thôi. Em lẽo đẽo theo sau Chị, van nài tình yêu như một đứa trẻ thơ đói lòng khát sữa. Em tim đến tình yêu của Chị như một điểm tựa cho tâm hồn như sự trở về với Mẹ. Như thế, Em trong tình yêu là một cái tôi nhỏ bé yếu ớt. dễ bị tổn thương, luôn cần có sự chở che đùm bọc từ tình yêu của Chị. Thông qua đó, người Chị hiện lên không chỉ là một người con gái mà còn là một người Mẹ; mối tình Chị - Em được soi chiếu dưới lăng kính của tình Mẹ - Con. 12 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Hình tượng cái tôi thể hiện đầy đủ nhất những khát khao mẫu tính phải được kể đến với tư cách là người con trong tình mẫu tử. Thơ Hoàng Cầm, không chỉ là cuộc hành trình của kẻ đi tìm mộng mà còn là cuộc hành trình của người con trở về với Mẹ, trở về với cội nguồn sự sống. Con người từ Mẹ sinh ra nhưng muốn lớn lên cần phải tách Mẹ “đi cho biết đó biết đây / ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Và cứ trên mỗi bước đường trưởng thành của con lại là một bước xa rời Mẹ. Đứa con trong thơ Hoàng Cầm ý thức được nghịch lý ấy của số phận; nó đã yêu thương, khát khao rồi khổ đau hẫng hụt khi xa Mẹ, rồi cuối cùng lại được trở về bằng tâm tưởng trong vòng tay Mẹ sau những vấp ngã, đắng cay. Hình tượng cái tôi - đứa con ở dây hiện lên vừa là một đứa trẻ tuổi ấu thơ vừa là một con người bầm dập qua sóng gió cuộc đời; luôn thể hiện nỗi nhớ Mẹ và khát Mẹ. Niềm khao khát ấy mãnh liệt như một ẩn ức vô thức của sự trở về nguồn cội sản sinh ra sự sống trên mặt đất này. Đây là đứa con thơ hạnh phúc biết bao khi “ lớn lên / mang giọng Mẹ tròn trong đôi mắt sáng”, là “ bé Em về nằm khoanh lòng Mẹ”, được ấp ủ trong những lời ru “à ơi, câu ru Mẹ mới / có bàn tay vỗ tóc ... ngủ đi con” nhưng, tình yêu vẫn chưa đủ rót đầy vào “ sa mạc Hoàng Cầm” (Thuỵ Khuê), để cho đứa con phải bật lên những khát khao nghẹn chát. Một người con luôn ham hố, cuồng nhiệt, chẳng thể thoả lòng với dòng sữa thuở ấu thơ từ đôi bầu vú Mẹ, mặc dù “ Mẹ quấn quanh tã mỏng / giọng hát bắt đẩu rơi rụng / theo từng giọt sữa vắt nuôi con”. Con khát Mẹ từ hơi ấm, tình thương đến hình hài, máu thịt; niềm khát ấy như một ẩn ức thì mặc cảm Ơđíp phổ vào, đầy nhục cảm: Bé Em về nằm khoanh lòng Mẹ Nghe nghìn muôn năm sau Xoa nắn đôi chân bầu vú lửa (Nắng phù sa) Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội 13 Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Khao khát Mẹ nhưng luôn thiếu vắng Mẹ, người con ở đây lại vấp phái những bi kịch của người Em trong tình yêu: Nếu trong tình yêu với Chị có môtíp “ Chị bỏ Em đi”, thì trong tình mẫu tử, cái mặc cảm chia lìa luôn giày vò tâm hồn thơ dại “ Mẹ bỏ con đi”. Hình ảnh Mẹ hiện lên trong con là những hình ảnh của thực tại xen lẫn giấc mơ, của ý thức xen lẫn vô thức. Đó là thế giới chắp vá, thế giới của những khoảng trắng, của những đối thoại câm, của những ẩn ức thầm kín, của những sự sắp xếp lộn xộn trong từng mảng kí ức lỗ mỗ của con trẻ: thế giới “con đi tìm Mẹ”. Con phải nén lại những bản năng : “Con về / Giấu giếm những bàn tay / Nâng vú’’. Quá khứ và thực tại va đập vào nhau, chỉ còn lại thẳm sâu là bi kịch: Đêm được nằm mẹ gối đầu tay Tiếng ai rả rích chuyện gì khuya chợt tỉnh ... mắt dùi bóng tối (Đứa trẻ) Con sống trong một giấc mơ hỗn độn. Mẹ vừa bên Con nhưng phút chốc đã tan biến . Mẹ thiêng liêng nhưng cũng chỉ là ảo ảnh “ Mẹ đã vuốt mép trầu giục giã / Hạ cổng chống rồi”. Mẹ đã đi cũng như sự sống, cái Đẹp đã bỏ con đi,chỉ còn lại “phập phồng bong bóng” - lời hát của Con buồn trĩu nặng chiều xưa “Trời mưa bong bóng phập phồng / Mẹ đi lấy chồng con ở với ai”. Nỗi ám ảnh, đau thương đã len vào giấc mơ Con: Đêm khoanh tròn ngủ tay bưng đầu Ngón cụt thói quen rờ ngực yếm Ghì mảnh sành thia lia (Đứa trẻ) Trong hành trình đi tìm Mẹ, Con luôn là người thất bại. Câu hỏi trăn trở suốt miền tuổi thơ : “ Mẹ ơi! Mẹ ơi (...) bây giờ Mẹ ở đâu?” chẳng bao giờ có lời giải đáp. Thế nên Con chỉ biết đợi, đợi xuyên không gian và thời gian 14 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu xa thẳm, mịt mù vô định, đợi cho đến “mùa tu hú gọi Em đi tìm Mẹ”, đợi cho đến khi “hàng tre nhả yếm / Trả Mẹ về”, đợi cho đến khi “ bao giờ Mẹ về / Buộc yếm đào phai vỗ hát ru”, đợi cho đến khi “đã sang mùa”, mà vẫn chỉ “ tưởng như Mẹ về”, vẫn chỉ “khấn thầm như Mẹ lỡ đò ngang / Miệng hé hạt na nhoà bến vắng”. Như thế, mặc cảm chia lìa với Mẹ đã trở thành vết thương đầu đời của Tôi người Con , cùng với bi kịch tình yêu trong mối tình Chị - em đã tạo nên một thế giới Hoàng Cầm là sự chắp vá của những khát khao và ẩn ức bị cự tuyệt. Bên cạnh đó, con người trong thơ Hoàng Cầm còn hiện lên là một con người khát khao trở về với Mẹ, với cội nguồn sau những bầm dập của cuộc đời đầy sóng gió. Chủ thể trữ tình trong thơ Hoàng Cầm trở về với Mẹ, với quê hương, với cội nguồn là trở về với chính con người mình mà có thể đã bị tháng năm cuộc đời làm phai nhạt. Nhịp 1 - khấn nguyện (Về Kinh Bắc) là cái cúi đầu đầy nghĩa tình sâu nặng của người con tha hương đối với Mẹ, với Đất Mẹ cội nguồn. Nhưng sự trở về ấy chỉ là sự trở về trong tâm tưởng, là sự hồi cố của những dòng hoài niệm đứt đoạn tạo thành một thế giới nghệ thuật đặc biệt: không gian của sự vĩnh cửu, nằm ngoài mọi thời gian lịch sử...Sự trở về của Con được bắt đầu bằng “Đêm Thổ” trong sự kính cẩn thiêng liêng “ Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc”, trong nỗi nghẹn ngào bởi thời gian xa cách “ Về Kinh Bắc phải đâu con nghẹn khóc”, “Về Kinh Bắc phải đâu con hé miệng”, “ Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt”; con như kẻ mộng du “ con không cười / Con thoảng nhớ thoảng quên”. Miền kí ức tuổi thơ đã xoa dịu tâm hồn con sau những vấp ngã cay đắng của cuộc đời, sau những tháng năm ở “những phương trời lạ”. Giờ Con là “ con bê vàng lạc dáng chiều xanh (...) con chào mào khát nước (...) con chim cu (...)con phù du ao trời chật chội” về với Mẹ để được trở lại là mình. Thế giới của quá khứ ào ạt xô về, một giấc mơ hỗn độn,vừa tươi đẹp, vừa mịt mù, huyễn hoặc, vừa tràn trề nhục cảm, vừa bị chấn thương. Đây là một Kinh Bắc chiều xưa sống động trong tâm hồn con trẻ: 15 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Chiều xưa giẻ quạt voi lồng Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông (Đêm thổ) là Kinh Bắc với những vết thương: Chiều cơm suông Năm ngón tay lằn mông trẻ nhỏ Trăng lên chém đầu ngọn gió Cành si bưng chậu máu chát chao (Đêm hỏa). là Kinh Bắc với những khát khao dục tình: Nẻo Đông Triều khép mở gió Kỳ Lân Chớp rạch dáng tiên vén xiêm xoã ngủ (Đêm thổ) Tất cả những mảnh vỡ ấy đều đồng hiện khi người con trở về với Mẹ. Sự trở về được dẫn lối bởi bản năng vô thức “ngủ lại giấc mơ dang dở / Chũm cau căng nứt mạch tằm”. “Ở đó, ta trở về với ta, tức là ta trở về với Mẹ, ở đó là sự bình yên, niềm an ủi, cái diệu kì thánh thiện” (Nguyễn Xuân Khánh). 1.2.2. Mẫu tính thể hiện qua hình tượng người tình Đối với thi nhân ai cũng có một người tình trong thơ để mà kí thác và tâm sự. Nhưng xét cho cùng, người tình cũng chỉ là đối ảnh của tâm hồn thi sĩ mà thôi. Đó là thế giới để nhà thơ gửi gắm những khát vọng và lý tưởng thẩm mĩ của mình. Với Hoàng Cầm, người đã có “ 99 tình khúc” thì những người tình đi qua đời ông quả là không ít. Từ những con người bằng xương bằng thịt (Chị Vinh, Kiều Loan, Hoàng Yến, Tuyết Khanh ...) đến những người phụ nữ trong ảo ảnh mơ hồ, tất cả đã tạo nên một thế giới người tình trong thơ Hoàng Cầm giàu vẻ đẹp mẫu tính. Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Hà Nội 16 Trường ĐHSP Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Hình tượng người tình vừa là Chị, vừa là Mẹ; nếu Chị là nơi tiềm ẩn vẻ đẹp mẫu tính thì Mẹ là biểu hiện cao nhất của mẫu tính. Tình yêu với Mẹ được chuyển sang tình yêu với Chị, vì vậy thường có sự chuyển hoá giữa Mẹ và Chị. Dưới đôi mắt trẻ thơ, người Chị mang vẻ đẹp nhục cảm, phồn thực nhưng lại huyền diệu siêu thoát và quan trọng hơn cả là mang những phẩm chất Mẹ. Chị ở cái độ xuân xanh nhất “trầu cay má đỏ (...) hơi tóc ấm (...) đọng tuổi đương thì”. Chị là sự kết đọng của vẻ đẹp nữ tính ngàn đời “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng”, “miệng hé hạt na nhoà bến vắng”, “ dải yếm lòng trai mải phất cờ”, “ tua khăn bông còn buộc búp hoa lan”. Chị gần gụi thế, chân thực thế nhưng cũng xa vời, huyễn hoặc, Chị cũng là hư ảnh, là cái Đẹp cao cả, thiêng liêng Em hằng ngưỡng vọng mà không bao giờ có được.Vẻ đẹp của Chị hoà vào không gian thời gian thành sự vĩnh hằng: - Chân không dìu dặt cánh tay mềm Tóc buông đổ thác về vô tận - (...) Bát ngát mùa đương độ tuổi Em - Gàu giai ai vớt Chị Loà loà thân trăng Chị che chở và ấp ủ Em như Mẹ “Chị về/ Tóc phủ vai Em chiều hương nhu”, trong Chị là tiềm ẩn những phẩm chất Mẹ cao quý. Từ niềm khao khát tình yêu “ Chị thẩn thơ đi tìm (...)Đứa nào tìm được lá Diêu Bông / Từ nay ta gọi là chồng” đến khao khát sản sinh tái sinh sự sống đều là bản năng của người phụ nữ. Chị đi tìm lá Diêu Bông nơi đồng chiều hay cỏ Bồng Thi nơi “ cheo leo mỏm đá” thì cũng chỉ là cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc tình yêu đích thực mà thôi. Em đi tìm tình yêu, chị cũng đi tìm tình yêu nhưng suốt kiếp họ chẳng thể gặp nhau, bởi Em thì “cầm chiếc lá đi đầu non cuối bể”, còn Chị thì “ thòng lọng tơ gì quấn gót”; Em thì “ vọng ai đau mà hoá đá”, còn Chị thì “ thả tịnh vàng, cưới Chị, võng mây trôi”. Rút cuộc, Chị cũng lặp lại bi kịch của Em, bi kịch của tình yêu không trọn vẹn “ 17 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu Chị lỡ xe hồng” để rồi “ tóc óng đêm xưa giờ tua túa rễ tre”. Chị không hạnh phúc! Nhưng bản năng làm Mẹ trong Chị luôn trỗi dậy, ám ảnh. “Đám cưới “ là một môtíp được nhắc đến như bước đầu của sự hợp nhất âm dương để sản sinh ra sự sống “ Chị lỡ xe hồng / Khênh nhị hỉ đẫy lưng lợn béo”, “Sinh một đàn con / Mây trắng bay”. Có thể nói , Chị cũng chính là sự phóng chiếu của người Mẹ. Càng đi vào thế giới thơ Hoàng Cầm, thế giới của giấc mơ và vô thức thì hình ảnh Chị và Mẹ càng gần gũi, đồng điệu rồi hoà trộn, chuyển hoá trong nhau thành một biểu tượng thiêng liêng giàu vẻ đẹp mẫu tính. Nói đến Mẹ là nói đến hiện thân cao cả, trọn vẹn của tính mẫu. Mẹ là một biểu tượng cao cả trong văn hoá, văn học nhân loại như một đấng sáng tạo nên thế giới. Mẹ Maria trong Kitô giáo ở phương Tây tượng trưng cho bản năng đã được thăng hoa ở mức độ hoàn hảo nhất và sự hài hoà sâu sắc nhất của tình yêu thương. Còn trong văn hoá phương Đông, Mẹ hiện thân trọn vẹn trong Thánh Mẫu. “Sức sống biểu hiện ở khắp mọi nơi và sức sống này chính là bản nguyên tinh thần thể hiện qua hình hài người phụ nữ”.(Nguyễn Xuân Khánh) Hoàng Cầm đã nói về Mẹ trong “ Về Kinh Bắc”: “ Trong viên ngọc kết tinh của muôn vàn nỗi niềm, cảnh sắc, hương vị, âm thanh, tiết tấu của cuộc sống vừa xa xưa vừa đương đại, lúc huyền ảo, lúc hiện thực, như mê mà tỉnh, như ngủ mà thức, hư hư thực thực ấy thì hình ảnh mẹ tôi bàng bạc bao phủ cả tập thơ”. Hình ảnh Mẹ trong cuộc đời thực đã hoá thân vào hình tượng Mẹ trong thơ với bản năng sản sinh và chở che cho sự sống. Trong văn học dân gian đã tồn tại môtíp “ sự sinh sản kì lạ” (Trăm trứng nở trăm con, Thánh Gióng, Sọ Dừa...) đề cao vai trò thiêng liêng của người Mẹ cũng như sự hoà hợp âm dương, vũ trụ để tạo ra vạn vật. Thơ Hoàng Cầm tiếp nối mạch dân gian đó, nhưng bên cạnh những yếu tố kì ảo, tâm linh lại là những yếu tố rất thực, rất đời . Người mẹ trong “ Tôi người làng Quan Họ” bừng tỉnh sau mười năm “ bỏ đi theo người trai/ Chở thuyền hát lặn những đêm trăng”, trở về với người 18 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu chồng “ mười năm sau ngày cưới”. Tình yêu khai nhuỵ sau những lỡ làng, tuy muộn màng nhưng vẫn là hạnh phúc: Hai người chợt tiếc mùa xuân Vội chắp lại đêm xuân thứ nhất Nhờ đó tôi ra đời Sự sống của con bắt nguồn từ nỗi đau của Mẹ, nỗi đau vượt cạn trong “mười đêm” mưa khi đã “luân lưu thụ thai qua chín đời / đằng đẵng”. Nỗi đau như xé toạc trời đêm: Mẹ đau trở dạ Sinh con ra Tiếng tù và xé canh ba Báo hiệu cơn giông nín lặng (Luân hồi) Cùng với dòng sữa Mẹ, con lớn lên. Mẹ đã che chở, ôm ấp, nâng đỡ bước con đi theo những năm tháng cuộc đời: Mẹ quấn quanh tã mỏng Giọng hát bắt đầu rơi rụng Theo từng giọt sữa vắt nuôi con (Tôi người làng quan họ) Những “chiều hôm thảng thốt / lạnh so vai”, con được say ngủ trong giấc mơ bình yên về mẹ: “ Cầm ủ ấm ấp hai con mắt / Hơi mẹ ơ hờ chỏm tóc tơ”. Mẹ dành cho con mọi điều tốt đẹp và hạnh phúc ngọt ngào, dù là đơn sơ giản dị: “Áo bông đón rét có / Áo lụa sang hè có / Mẹ mới may”, “ Gọi mẹ bao giờ mẹ cũng thưa(...) Mẹ gọi về chia miếng bánh đa (...) Mẹ vẫn phần cơm đây”, “Gió mát này mẹ quạt (...) Bao giờ mẹ về / Buộc yếm đào phai vỗ hát ru”. Trong “chùm nhãn Hưng Yên” – “quà mẹ” gửi cho con là tình thương yêu vô vàn của mẹ dành cho đứa con thơ xa xứ. Bởi vậy, mẹ chính là điểm tựa, là cội nguồn trở về của tâm hồn con sau những vấp ngã trong đời. Mẹ là biểu tượng thiêng liêng của quê hương, đất 19 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội Báo cáo khoa học Hằng Chu Thị Thu mẹ, cội nguồn sẵn sàng xoa dịu mọi vết thương lòng nơi con trẻ. Tình Mẹ mãi là vĩnh hằng “ Lòng Mẹ bao la con về theo nhịp múa / Bài ca sóng vỗ nghìn xưa” Nhịp 1 - khấn nguyện (Về Kinh Bắc) dựng lên biểu tượng Mẹ thiêng liêng của thế giới tâm linh hư ảo. Mẹ Kinh Bắc khởi sinh thế giới Hoàng Cầm. Mẹ là cái nôi của những bào thai biết “ khóc âm y trước lúc chào đời”, là vũ trụ mênh mông và xa thẳm, nơi con có thể trú ngụ và nương náu: “ Cúi lạy Mẹ, con trở về Kinh Bắc”. Mẹ đã hoá thân vào dáng hình Kinh Bắc, hoá thân vào tiếng “ ca dao sớm chiều tím lịm lưng trâu”, vào tiếng “chuông chiều”, “chuông sớm”, vào những “câu kinh” và cả “ giấc mơ dang dở”. Tất cả thế giới Kinh Bắc với không gian trường cửu và thời gian vĩnh hằng, đó là Mẹ. Ở đây, không chỉ là những người mẹ cụ thể: “ Mẹ đón con rung gậy mía Đường trèo”, “ Lửa đèn leo lét soi tình Mẹ / Khuôn mặt bừng lên như dựng trăng”, mà còn là người Mẹ biểu tượng: khởi sinh ra sự sống, thế giới, là yếu tố đầu tiên cũng là vẻ đẹp cuối cùng của cõi trần thế này. Người Mẹ của vạn vật hiện diện qua ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, mang trong mình đầy đủ những nguyên lý của tính mẫu: sinh, dưỡng, dục, lạc. Bởi vây, về với mẹ cũng là “ về với ta”, về với bản thể của chính mình, về với những giá trị vĩnh hằng của sự sống: Qua thế giới Kinh Bắc, Mẹ đã được thiêng liêng hoá, huyền ảo hoá trở thành một biểu tượng vĩnh hằng của sự sống. Mẹ là người ngự trị của cõi tâm linh vô thức: “ Ngay cả người Mẹ, người Chị, những nhân vật tưởng như là thực nhất lại là những người đã khuất bóng nhân gian chỉ còn tồn tại trong tâm tưởng nhà thơ” (Trần Thị Huyền Phương). Như trên đã phân tích, cái tam giác Cha – Con - Mẹ luôn tồn tại trong thế giới thơ Hoàng Cầm như một nỗi ám ảnh. Do đó, luôn tồn tại một biểu tượng Mẹ trong tương quan so sánh với người Cha mang sức mạnh phụ quyền, dương tính. Người đàn bà - người Mẹ làm chủ thế giới tâm linh nhưng người đàn ông - người Cha lại là người nắm giữ mọi quyền năng, chi phối bề 20 Líp: K55A - Khoa Ngữ văn Trường ĐHSP Hà Nội
- Xem thêm -