Dự án khởi sự doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu tại thị trường việt nam

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ -----  ----- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: DỰ ÁN KHỞI SỰ DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHẠC CỤ NHẬP KHẨU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Hoàng Thanh Hiếu Lớp : Anh 1 Khóa : 44 Giáo viên hướng dẫn : ThS. Đặng Thị Lan Hà Nội - 2009 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, nhu cầu học tập và giải trí của người Việt Nam ngày càng cao hơn, phát triển cả về lượng và chất. Vượt xa hơn các nhu cầu về ăn, mặc, ở… Người Việt Nam đã ý thức và dành sự quan tâm nhiều hơn đến các nhu cầu khác trong đó có các nhu cầu về âm nhạc. Ngành kinh doanh nhạc cụ tại Việt Nam mặc dù đã xuất hiện từ lâu để đáp ứng nhu cầu hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng mới chỉ phát triển mạnh và trở thành một ngành kinh doanh đại chúng trong khoảng 3 năm gần đây. Thị trường Việt Nam đối với mặt hàng này được nhận định sẽ phát triển mạnh từ giờ đến 20101. Mặc dù vậy, các doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu tại Việt Nam vẫn còn khá chậm chạp trong việc chuyển mình và nắm bắt cơ hội kinh doanh trước mắt. Và thực tế là hiện nay trên cả nước chỉ có 3 nhà nhập khẩu nhạc cụ của một số hãng sản xuất danh tiếng thế giới như: Yamaha, Roland, Casio, Kawai… để cung cấp cho thị trường trong nước. Tuy nhiên với nhu cầu ngày càng to lớn của thị trường thì 3 doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ trên có vẻ như chưa thể đáp ứng được thị trường nhạc cụ đầy tiềm năng này. Nắm bắt tốt thời cơ của thị trường để thành lập một doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu vào thời điểm hiện nay sẽ khả năng thành công rất lớn. Và khi đã có một ý tưởng kinh doanh thì việc viết ra giấy để hiện thực hóa nó là vô cùng cần thiết bởi vì một bản kế hoạch kinh doanh được chuẩn bị tốt sẽ giúp tăng nhiều lần khả năng thành công của ý tưởng. 1 Nhận định của ông Hajime Nakamura, trường bộ phận Marketing khu vực Asia Paciffic của Yamaha Coporation, Japan, phụ trách trực tiếp thị trường Việt Nam trong buổi họp ngày 22/11/2007 tại Công ty Sao Việt. 1 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài - Hệ thống hoá cơ sở lí luận về khởi sự doanh nghiệp , những điều cần biết và chuẩn bị để đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động. - Nghiên cứu và phân tích tình hình cùng với xu hướng phát triển của thị trường nhạc cụ tại thời điểm hiện tại và trong 3 năm sắp tới để xác định phương án đầu tư. - Đưa ra các giải pháp để xây dựng và phát triển công ty vững mạnh trong tương lai xa. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng của khoá luận này là nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến việc xây dựng và đưa một doanh nghiệp đi vào hoạt động. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp thống kê và phương pháp chuyên gia - Phương pháp phân tích, điều tra thị trường thông qua bảng câu hỏi và quan sát. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lí luận về khởi sự doanh nghiệp - Chương 2: Dự án khởi sự doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu 2 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Chương 3: Giải pháp nhằm mở rộng thị trường cho doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu ở Việt Nam Để hoàn thành được đề tài này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo – ThS .Đặng Thị Lan, giảng viên khoa Quản Trị Kinh Doanh trường Đại Học Ngoại Thương, cùng với sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sao Việt, địa chỉ Số 24-26 Lý Quốc Sư, Hoàn Kiếm, Hà Nội, đại lý chính thức của Công ty Yamaha Nhật Bản tại Việt Nam. Hà Nội, tháng 5, năm 2009 Sinh viên Hoàng Thanh Hiếu 3 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp CHƢƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI SỰ DOANH NGHIỆP I. KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP 1. Một số quan điểm về doanh nghiệp. Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp (DN), mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Có thể thấy có 4 quan điểm chính về DN như sau: 1.1 Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi [12, tr.11] 1.2 Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. [3] 1.3 Xét theo quan điểm phát triển thì "doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải 4 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được " [1] 1.4 Xét theo quan điểm hệ thống thì " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự. [3] Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu thành bởi 4 yếu tố sau đây: - Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính. - Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin. - Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. - Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu được. 5 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 2. Định nghĩa doanh nghiệp. Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về Định Nghĩa Doanh Nghiệp như sau: “ Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.” [13] - Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân: Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp thể hiện ở chỗ nó có con dấu riêng, tên riêng, kế toán trưởng và có tài sản tách bạch rõ ràng với tài sản của chủ doanh nghiệp. Tư cách pháp nhân là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể. - Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại: Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước), quá 6 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của những người tạo ra nó. Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó. 3. Mục đích và mục tiêu của Doanh Nghiệp Doanh nghiệp cần tồn tại, phát triển và đảm bảo tính bền vững, điều đơn giản là không có một doanh nghiệp nào tồn tại vĩnh cửu nếu doanh nghiệp đó không xác định được mục đích và mục tiêu hoạt động cho chính nó. Hoạt động của doanh nghiệp chỉ có hiệu quả một khi kế hoạch của nó gắn bó chặt chẽ với mục tiêu để cho phép đạt được những mục đích. Kế hoạch đó đòi hỏi phải được điều chỉnh kịp thời theo những biến động của môi trường; đồng thời gắn bó với những khả năng cho phép của doanh nghiệp như: vốn, lao động, công nghệ. Từ những kế hoạch đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có cơ cấu tổ chức hợp lý, xác định cụ thể nhiệm vụ cho từng bộ phận, cá nhân; đồng thời phối hợp hoạt động nhằm đạt được mục đích của doanh nghiệp. [11] 3.1 Mục đích của doanh nghiệp Mục đích của doanh nghiệp là thể hiện khuynh hướng tồn tại và phát triển, doanh nghiệp có 3 mục đích cơ bản: - Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận, đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. - Mục đích xã hội: cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội. Đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động công ích. 7 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Mục đích thoả mãn các nhu cầu cụ thể và đa dạng của mọi người tham gia hoạt động trong doanh nghiệp. 3.2 Mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu là biểu hiện mục đích của doanh nghiệp, là những mốc cụ thể được phát triển từng bước. Một mục tiêu là một câu hỏi cần có lời giải đáp trong một khoảng thời gian nhất định Yêu cầu đặt ra với mục tiêu là: Mục tiêu đạt được cần thoả mãn cả về số lượng và chất lượng, đồng thời với việc xác định được các phương tiện thực hiện. Mục tiêu của doanh nghiệp phải luôn bám sát từng giai đoạn phát triển của nó. II – CÁC HÌNH THỨC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP Doanh nghiệp được thành lập thường có 4 dạng: doanh nghiệp mới, doanh nghiệp được mua lại, đại lý đặc quyền và thừa hưởng doanh nghiệp gia đình. [1] 1. Tạo lập doanh nghiệp mới Thông thường, việc tạo lập một doanh nghiệp mới xuất phát từ ba lý do sau: - Nhà kinh doanh đã xác định được dạng sản phẩm (dịch vụ) có thể thu được lãi. - Nhà kinh doanh có những điều kiện lý tưởng trong việc lựa chọn địa điểm kinh doanh, phương tiện sản xuất kinh doanh, nhân viên, nhà cung ứng, ngân hàng... 8 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Lựa chọn hình thức doanh nghiệp mới có thể tránh được các hạn chế nếu mua lại một doanh nghiệp có sẵn hoặc làm đại lý đặc quyền. - Để tạo lập một doanh nghiệp mới, điều vô cùng quan trọng là tìm được một cơ hội, tạo được một ưu điểm kinh doanh có khả năng cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác – đó chính là cơ hội kinh doanh thực sự. Nguồn gốc của ý tưởng dẫn đến việc tạo lập doanh nghiệp thường là: - Từ kinh nghiệm nghề nghiệp tích luỹ được ở doanh nghiệp khác. - Sáng chế hoặc mua được bằng sáng chế để sản xuất sản phẩm mới - Từ những ý tưởng bất ngờ xuất hiện trong khi làm việc khác hoặc đang vui chơi giải trí. - Từ các tìm tòi nghiên cứu. Sau khi đã có ý tưởng, sáng kiến trên, việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh sẽ có ý nghĩa quyết định thành công. Việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh, đó chính là đi đến một dự án kinh doanh. [1, tr25] 2. Mua lại một doanh nghiệp sẵn có. Việc mua lại một doanh nghiệp sẵn có xuất phát từ 3 lý do: - Muốn giảm bớt rủi ro của việc tạo lập một doanh nghiệp mới - Tránh được việc phải xây dựng mới trong mua bán, giao dịch với ngân hàng, đào tạo nhân viên mới - Ít tốn kém hơn so với lập ra một doanh nghiệp mới (đa số trường hợp) 9 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Các bước tiến hành để mua một doanh nghiệp sẵn có: - Điều tra: Việc điều tra doanh nghiệp định mua này có thể thực hiện bằng cách trực tiếp tìm hiểu và trao đổi với chủ doanh nghiệp đó. Cũng có thể bằng cách qua trao đổi với khách hàng, các nhà cung ứng của doanh nghiệp, ngân hàng, đặc biệt thông qua nhân viên kế toán, luật sư của doanh nghiệp đó. - Kiểm tra: Việc kiểm tra sổ sách của doanh nghiệp định mua cần giao cho một kiểm toán viên độc lập để đảm bảo tính chính xác. - Đánh giá: Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp định mua có thể căn cứ vào những điều sau:  Căn cứ vào mức lãi trong quá khứ để tính mức lãi trong tương lai  Mức rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh  Sự tín nhiệm của khách hàng  Tình trạng cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp  Doanh nghiệp định mua này có bị ràng buộc nào về các hợp đồng đã ký kết và các vụ tố tụng (đang xử và đã xử) hay không ?  Điều đình và ký kết: Việc điều đình giá cả, điều kiện thanh toán và ký kết văn bản mua doanh nghiệp này nên thực hiện với sự tư vấn của luật sư, theo đúng pháp luật. [1, tr26] 3. Đại lý đặc quyền. Đại lý đặc quyền được quyền kinh doanh như một chủ sở hữu, song phải tuân theo một số phương pháp và điều kiện do người nhượng quyền quy định. Các quyền kinh doanh được ghi trong hợp đồng giữa người nhượng đặc quyền và đại lý đặc quyền. Giá trị của hợp đồng là ở chỗ: người làm đại lý đặc quyền có được nhiều hay ít đặc quyền. 10 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Những đặc quyền này có thể là được dùng tên hiệu, hoặc biển hiệu của người nhượng đặc quyền, cũng có thể được sử dụng cả hệ thống tiếp thị của người này... .Tuy nhiên, đại lý đặc quyền cũng vẫn được coi là doanh nghiệp độc lập, trong đó có quyền tự thuê mướn nhân công, tự điều khiển hoạt động kinh doanh. Thông thường có 3 loại hệ thống đại lý đặc quyền: - Người nhượng quyền là nhà sản xuất - sáng lập trao quyền bán sản phẩm cho người đại lý là nhà buôn sỉ. - Người nhượng quyền là nhà buôn sỉ và đại lý nhà bán lẻ - Người nhượng quyền là nhà sản xuất, sáng lập và đại lý là nhà bán lẻ, hệ thống này rất thông dụng hiện nay, như đại lý bán ô tô, trạm xăng, đại lý mỹ phẩm. Đại lý đặc quyền có những lợi thế sau: - Được quyền dùng những nhãn hiệu đã nổi tiếng - Được người nhượng quyền huấn luyện kinh doanh - Được người nhượng quyền làm công việc quảng cáo - Được người nhượng quyền bảo đảm cung cấp hàng hoá và có thể cung cấp tài chính Những lợi thế trên đây của đại lý đặc quyền chính là những điều mà việc tạo lập một doanh nghiệp mới hay mua lại một doanh nghiệp có sẵn thường gặp khó khăn. Tuy nhiên, đại lý đặc quyền cũng thường chịu 3 giới hạn như sau: 11 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Để có đặc quyền, người đại lý phải trả cho người nhượng quyền các khoản tiền gồm: lệ phí đại lý và tiền sử dụng đặc quyền. - Chịu giới hạn về sự phát triển doanh nghiệp: các hợp đồng đại lý đặc quyền thường buộc đại lý chỉ được kinh doanh trong một khu vực nhất định. - Mất tính tự chủ hoàn toàn trong kinh doanh Trước khi tạo lập một đại lý đặc quyền, nhà kinh doanh phải lượng giá được cơ hội mua đại lý đặc quyền. Việc lượng giá này bao gồm: Tìm đúng cơ hội, điều tra, khảo sát và nghiên cứu kỹ hợp đồng đặc quyền. [1, tr27] 4. Thừa hƣởng doanh nghiệp gia đình Đây là cách khởi sự doanh nghiệp theo truyền thống gia đình. Khi ông bà cha mẹ hoặc người thân trong gia đình về già hoặc mất đi thường để lại doanh nghiệp cho con cháu. Cách thành lập doanh nghiệp này không phức tạp vì người kế thừa được thừa hưởng cả một cơ ngơi to lớn về vốn, cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, nhân lực v.v… Yêu cầu là người kế thừa phải làm sao thực hiện tốt “công nghệ quản trị doanh nghiệp” mà gia đình đã chuyển giao để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Muốn vậy người chủ thừa kế cần thực hiện tốt các vấn đề: - Phát huy truyền thống kinh doanh của gia đình, kết hợp giữa kinh nghiệm với thực tiễn và với môi trường kinh doanh thường xuyên thay đổi. - Phải năng động, sáng tạo và có đổi mới, cải tiến về điều hành doanh nghiệp, về công nghệ, về chất lượng sản phẩm, phải có những sản phẩm mới v.v… 12 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Luôn có tinh thần cầu thị, học hỏi bạn, đánh giá đúng mình, đúng đối thủ. Chú ý tính chất cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt trên thị trường trong thời buổi kiếm được một đồng lợi nhuận vô cùng khó khăn. [1] III- CÁC KIỂU CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp. [10] 1. Cơ cấu quản trị trực tuyến Đây là cơ cấu tổ chức đơn giản nhất, trong đó có một cấp trên và một số cấp dưới. Toàn bộ vấn đề được giải quyết theo một kênh liên hệ đường thẳng. Cấp lãnh đạo trực tiếp điều hành và chịu toàn bộ trách nhiệm về sự hoạt động của tổ chức (xem hình 1). Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến [10] 13 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Cơ cấu tổ chức trực tuyến khá phổ biến ở cuối thế kỷ XIX và chủ yếu được áp dụng ở những doanh nghiệp nhỏ, sản phẩm không phức tạp, tính chất sản phẩm liên tục, hoặc các tổ chức bộ môn của trường đại học v.v... Ngày nay, kiểu cơ cấu này vẫn còn được áp dụng, đặc biệt đối với các tổ chức có quy mô nhỏ: tổ, nhóm, băng tổ chức nhỏ v.v... Đặc điểm cơ bản của cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến là người lãnh đạo tổ chức thực hiện tất cả các chức năng quản trị, các mối liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức được thực hiện theo đường thẳng, người thừa hành mệnh lệnh chỉ làm theo mệnh lệnh của một cấp trên trực tiếp. Với những đặc điểm đó, cơ cấu này tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng, người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của người dưới quyền. Tuy nhiên, kiểu cơ cấu tổ chức này cũng có những nhược điểm. Nó đòi hỏi người lãnh đạo cần phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có trình độ cao về từng mặt quản trị; khi cần phối hợp, hợp tác công việc giữa hai đơn vị, hoặc cá nhân ngang quyền thuộc các tuyến khác nhau thì việc báo cáo, thông tin, thỉnh thị phải đi đường vòng theo kênh liên hệ đã quy định. 2. Cơ cấu tổ chức quản lý theo chức năng Khi công ty phát triển lớn dần lên đồng nghĩa với việc khối lượng công tác quản trị ngày càng lớn thì lúc đó cần phải có sự thay đổi cơ cấu quản trị chi phù hợp. Cơ cấu chức năng do đó được ra đời và lần đầu tiên được áp dụng với chế độ đốc công (xem hình 2). 14 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản trị chức năng [10] Trong cơ cấu chức năng những nhiệm vụ quản trị được phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng quản trị và hình thành nên những người lãnh đạo được chuyên môn hoá chỉ đảm nhận thực hiện một chức năng nhất định. Mối liên hệ giữa các nhân viên trong tổ chức rất phức tạp. Những người thừa hành nhiệm vụ ở cấp dưới nhận mệnh lệnh chẳng những từ người lãnh đạo của doanh nghiệp mà cả từ những người lãnh đạo các chức năng khác nhau. Ưu điểm của cơ cấu theo chức năng: - Phản ánh lôgic các chức năng - Nhiệm vụ được phân định rõ ràng - Tuân theo nguyên tắc chuyên môn hóa ngành nghề - Phát huy được sức mạnh và khả năng của đội ngũ cán bộ theo từng chức năng 15 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp - Giảm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo - Tạo ra các biện pháp kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất Nhược điểm của cơ cấu quản lý theo chức năng: - Chỉ có cấp quản lý cao nhất có trách nhiệm vè hiệu quả cuối cùng của toàn thể công ty - Qua chuyên môn hóa và tạo ra cách nhìn quá hẹp với các cán bộ chủ chốt - Hạn chế sự phát triển của người quản lý chung - Gặp nhiều khó khăn khi cần có sự phối hợp giữa các chức năng 3. Cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến – chức năng Do cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến và cơ cấu quản lý theo chức năng có những ưu nhược điểm riêng nên hiện nay nhiều doanh nghiệp và tổ chức lựa chọn kiểu cơ cấu quản lý theo trực tuyến – chức năng, tức là một cơ cấu quản lý kết hợp (xem hình 3) Hình 3: Sơ đồ cơ cấu trực tuyến - chức năng [10] 16 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Ưu điểm: Theo cơ cấu này người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp sức của người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Người lãnh đạo doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm về mọi mặt công việc và toàn quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp. Việc truyền mệnh lệnh vẫn theo tuyến đã quy định. Nhược điểm: Tuy nhiên người lãnh đạo doanh nghiệp phải giải quyết thường xuyên mối quan hệ giữa bộ phận trực tuyến với bộ phận chức năng. Ngoài ra mỗi khi các người lãnh đạo các bộ phận chức năng có nhiều ý kiến khác nhau, đến nỗi người lãnh đạo doanh nghiệp phải họp hành nhiều, tranh luận căng thẳng không ra được những quyết định có hiệu quả mong muốn. 4. Cơ cấu ma trận Vào cuối những năm 50, một số công ty, hãng... đã sử dụng cơ cấu quản lý ma trận. Kiểu tổ chức này áp dụng để thiết kế cơ cấu cho toàn bộ hệ thống, cũng như để thành lập cơ cấu bên trong hệ thống hoặc các bộ phận (xem hình 4): Hình 4: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý ma trận [3, tr45] 17 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Đặc điểm của cơ cấu này là ngoài những người lãnh đạo theo tuyến và các bộ phận chức năng, còn có những người lãnh đạo đề án hay sản phẩm, phối hợp hoạt động của các bộ phận thực hiện một dự thảo nào đó. Trong cơ cấu này mỗi nhân viên (hoặc bộ phận của bộ phận trực tuyến được gắn với việc thực hiện một đề án hoặc một sản phẩm nhất định. Đồng thời mỗi một nhân viên của bộ phận chức năng cũng được gắn với một đề án hoặc sản phẩm nhất định. Sau khi hoàn thành đề án, những nhân viên trong các bộ phận thực hiện đề án hay sản phẩm không chịu sự lãnh đạo của người lãnh đạo theo đề án ấy nữa, mà trở về đơn vị trực tuyến hay chức năng cũ của mình. Cơ cấu ma trận lại có thể phân thành hai dạng sau đây: * Cơ cấu đề án - ma trận Đặc điểm cơ cấu này là người lãnh đạo lập ra nhóm đặc biệt chịu sự lãnh đạo trực tiếp của mình để thực hiện chương trình của đề án được phê chuẩn. Những người thực hiện bên ngoài tham gia vào công việc theo những hợp đồng hay nghĩa vụ được phân giao. Nhóm đề án được bảo đảm về nhân viên, những nguồn tài chính và vật chất cần thiết. Sau khi thực hiện đề án, nhóm này giải tán. Người lãnh đạo đề án chịu trách nhiệm hoàn toàn từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Quản trị theo đề án thường được áp dụng trong những điều kiện có sự thay đổi nhanh chóng và sâu sắc về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. * Cơ cấu chức năng - ma trận 18 Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp Trong cơ cấu này bộ phận mới được tạo thành có vai trò kiểm tra và thúc đẩy các bộ phận sản xuất sản phẩm của mình, chịu trách nhiệm về chất lượng của sản phẩm hay công trình. Để sản xuất sản phẩm mới doanh nghiệp thành lập bộ phận sản xuất mới. Bộ phận sản xuất mới này được cung cấp các nguồn tài chính và vật chất. Ưu điểm của cơ cấu ma trận: có tính năng động cao; dễ dàng chuyển các nhân viên từ việc thực hiện một dự án này sang việc thực hiện một dự án khác; sử dụng nhân viên có hiệu quả hơn. Nhược điểm kiểu cơ cấu này là nó thường chỉ áp dụng để thực hiện các mục tiêu ngắn hạn và trung hạn mà thôi. Cơ cấu ma trận còn được áp dụng rộng rãi ở các viện nghiên cứu và các trường đại học. IV- XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP KHỞI SỰ Khi một ý tưởng kinh doanh được nghĩ ra trong đầu thì việc viết ra giấy một bả kế hoạch kinh doanh là vô cùng cần thiết để có thể chứng minh tính khả thi của ý tưởng kinh doanh trong việc khởi sự doanh nghiệp mới hoặc mở rộng doanh nghiệp hiện có. Nếu kế hoạch kinh doanh không được chuẩn bị kỹ càng trên giấy, thì chắc chắn nó không thể trở thành hiện thực nơi thương trường. Một kế hoạch kinh doanh được chuẩn bị tốt có thể giúp người chủ doanh nghiệp quyết định khởi sự một doanh nghiệp mới hoặc mở rộng doanh nghiệp hiện tại. Mặt khác nó còn có thể giúp chủ doanh nghiệp nhận ra nên dừng lại hay tiếp tục một công việc kinh doanh không có tính hiện thực cao. 19
- Xem thêm -