Diepnvl3

  • Số trang: 70 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
uchihasasuke

Đã đăng 588 tài liệu

Mô tả:

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP LỜI NÓI ĐẦU Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay doanh nghiệp là nơi duy nhất tổ chức và thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu là đối đa hoá lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu quan trọng này, chất lượng và giá thành sản phẩm là vấn đề hàng đầu mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm. Với nền kinh tế thị trường muốn doanh nghiệp tồn tại được mỗi đơn vị kinh tế phải tự mình tổ chức sản xuất, hạch toán, tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp hoạt động công ích) đều đặt ra mục tiêu của mình là sản xuất cái gì bằng cách nào? giá bán bao nhiêu để đảm bảo có lãi? và mở rộng sản xuất mà thị trường vẫn chấp nhận được. Do vậy giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Kết cấu giá thành của một sản phẩm sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí chung; Muốn hạ giá thành sản phẩm thì phải giảm các chi phí. Tỷ trọng của từng loại chi phí trong sản phẩm tùy thuộc vào từng loại sản phẩm sản xuất. Sản phẩm xi măng chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong giá thành, do đó việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu trên cơ sở các định mức kỹ thuật và dự toán chi phí có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, tăng tích luỹ cho công ty. Từ nhận thức đó mà công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ ở công ty xi măng Bỉm Sơn luôn được coi trọng đúng mức. Trong thời gian thực tập ở công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ của lãnh đạo công ty và các cán bộ trong phòng kế toán, tôi đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu công tác kế toán tất cả các bộ phận của công ty, đặc biệt là công tác kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ và chọn làm đề tài là: “Tổ chức kế toán nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ tại ở công ty xi măng Bỉm Sơn” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Tuy nhiên do thời gian thực tập không nhiều, trình độ còn hạn chế nên nội dung của đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và cán bộ phòng kế toán thống kê tài chính của công ty để chuyên đề hoàn thiện hơn. Ngoài lời nói đầu và kết luận, chuyên đề gồm ba nội dung sau: Chương I: Lý luận cơ bản về kế toán nguyên vật liệu trong doanh ngiệp. Chương II: Thực trạng công tác nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn. Chương III: Nhận xét về công tác kế toán nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ tại công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn. CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 1 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP 1.1 SỰ CẦN THIẾT KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm nguyên vật liệu Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là đối tượng lao động và là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, cấu thành nên thực thể của sản phẩm. Trong quá trình tạo ra sản phẩm mới, nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất và trong chu kỳ đó, dưới tác động của sức lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ một lần và thay đổi hình thái vật chất ban đầu hình thành nên thực thể của sản phẩm, giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Trong toàn bộ chi phí tạo ra sản phẩm, chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn, do vậy chỉ một biến động nhỏ của vật liệu cũng ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ tiêu quan trọng như chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận… Trong tổng vốn lưu động, nguyên vật liệu là thành phần quan trọng của vốn lưu động, đặc biệt là vốn dự trữ, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng của vốn lưu động thì cần phải tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, điều đó đồng nghĩa với việc dự trữ và sử dụng vật liệu một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả. Từ những đặc điểm đó cho thấy, nguyên vật liệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Tổ chức tốt công tác kế toán vật liệu là việc làm vô cùng cần thiết trong việc xác định giá thành sản phẩm một cách đúng đắn, chính xác từ đó có quyết định có lợi cho việc sử dụng vốn lưu động. 1.1.2 Yêu cầu quản lý đối với nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ thường xuyên biến NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 2 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP động. Các doanh nghiệp phải thường xuyên mua nguyên vật liệu để đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và các nhu cầu khác trong doanh nghiệp. Vì vậy quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu ở mọi khâu từ thu mua, bảo quản, sử dụng, dự trữ là việc làm vô cùng cần thiết. Khâu thu mua, đòi hỏi phải quản lý về khối lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua và chi phí mua cũng như việc thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ thời gian phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tổ chức tốt kho tang, bến bãi, trang bị đầy đủ các phương tiện cân đo, thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, tránh hư hỏng mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn là một trong các yêu cầu quản lý đối với vật liệu. Việc sử dụng nguyên vật liệu phải hợp lý và tiết kiệm trên cơ sở các định mức, dự toán chi phí nguyên vật liệu trong giá thành sản phẩm trong thu nhập, tích lũy cho doanh nghiệp. Khâu bảo quản, mỗi loại nguyên vật liệu có tính chất lý, hóa học khác nhau. Vì vậy, cần phải bảo quản chúng theo đúng với đặc tính lý hóa của chúng. Doanh nghiệp cần phải có hệ thống kho tang, bến bãi đầy đủ, sắp xếp một cách khoa học, hợp lý để đảm bảo yêu cầu bảo quản đối với từng loại nguyên vật liệu, đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu, hạn chế những mất mát, hao hụt về số lượng cũng như chất lượng nguyên vật liệu. Khâu sử dụng, tính toán đầy đủ, chính xác, kịp thời giá trị nguyên vật liệu tiêu hao trong sản xuất, giá trị nguyên vật liệu có trong giá vốn thành phẩm. Do vậy, trong khâu sử dụng phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình sử dụng nguyên vật liệu trong sản xuất sản phẩm. Từ đó xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu và dự toán chi phí hợp lý để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy cho doanh nghiệp. Khâu dự trữ, doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu của từng loại vật liệu, để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 3 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP được bình thường không bị ngưng trệ, gián đoạn cho việc cung ứng hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều. 1.1.3 Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu: Kế toán nguyên vật liệu là công cụ đắc lực giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp nắm được tình hình thực tế về nguyên vật liệu, để từ đó có những chỉ đạo đúng đắn cho các phương án sản xuất kinh doanh. Kế toán nguyên vật liệu có chính xác, đầy đủ và kịp thời thì lãnh đạo doanh nghiệp mới có được những thông tin thích hợp để từ đó có những biện pháp thích hợp để quản lý vật liệu, cũng như có những biện pháp điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình nguyên vật liệu của doanh nghiệp. Thông qua số liệu kế toán, các nhà quản lý mới biết được số lượng và giá trị của từng loại nguyên vật liệu để có kế hoạch cung ứng kịp thời phục vụ cho sản xuất, hạn chế sự hao hụt, lãng phí, bảo đảm sử dụng nguyên vật liệu một cách tiết kiệm nhất nhưng vẫn đảm bảo tiến độ và chất lượng sản phẩm. Xuất phát từ yêu cầu quản lý của nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất. Kế toán nguyên vật liệu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: -Tổ chức phân loại, đánh giá nguyên vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của nhà nước và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. -Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hang tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp và tính giá thành sản phẩm. -Vận dụng đúng đắn các phương pháp tính giá thành nguyên vật liệu một cách thích hợp, hướng dẫn kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục nhập- xuất, thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu (lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở các loại sổ sách, thẻ chi tiết về nguyên vật liệu đúng chế độ, đúng phương pháp quy định giúp cho việc lãnh đạo và chỉ đạo công tác kế toán trong phạm vi ngành và trong toàn bộ nền kinh tế. NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 4 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP -Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thu mua, tình hình dự trữ và tiêu hao nguyên vật liệu, phát hiện và xử lý kịp thời vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất, ngăn ngừa việc sử dụng nguyên vật liệu phi pháp, lãng phí. -Tham gia kiểm kê đánh giá lại nguyên vật liệu theo chế độ quy định của nhà nước, lập báo cáo kế toán về nguyên vật liệu, phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý điều hành. Những nhiệm vụ trên của kế toán nguyên vật liệu đòi hỏi doanh nghiệp phải có những điều kiện nhất định, bao gồm: -Doanh nghiệp phải có đầy đủ hệ thống kho tang bảo quản nguyên vật liệu, phương tiện bảo quản, cân đo, đong đếm cần thiết. -Lưu giữ chứng từ đầy đủ, hợp pháp theo quy định của pháp lệnh kế toán thống kê. -Có nhân viên bảo vệ trong việc bảo quản nguyên vật liệu và thủ kho có nhiệm vụ hạch toán ban đầu ở kho. -Nguyên vật liệu trong kho sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc nhập xuất và kiểm kê. -Xây dựng những định mức dự trữ, định mức tiêu hao và định mức hao hụt hợp lý. -Mở sổ danh điểm vật liệu, sổ này tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán, tránh nhầm lẫn, đơn giản hóa việc đối chiếu giữa kho và phòng kế toán hoặc khi cần thông tin về một loại vật liệu bất kỳ. 1.2 Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu 1.2.1 Phân loại nguyên vật liệu: Mỗi loại NVL với đặc điểm, vai trò, công dụng, tính chất cơ lí hoá khác nhau, lại biến động thường xuyên, liên tục trong quá trình sản xuất nên đựơc sử dụng chế biến và bảo quản khác nhau. Vì thế việc phân loại NVL được xem như một công việc cần thiết cho việc sử dụng, bảo quản nhanh chóng, thuận lợi, giúp cho khâu quản lí NVL được dễ dàng: - Phân loại theo vai trò, tác dụng của nguyên vật liệu trong sản xuất NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 5 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP + NVL chính: là những thứ NVL mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm. + NVL phụ: là những VL có tác dụng phụ trợ trong SX, kết hợp với NVL chính để tăng thêm đặc tính của sản phẩm, hay để phục vụ hoạt động sản xuất, bảo quản máy móc thiết bị để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật,quản lí. + Nhiên liệu: như than đá, than bùn, củi, xăng, dầu… + Phụ tùng thay thế: là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa, bảo dưỡng và thay thế thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải. + Thiết bị và vật liệu xây dựng: bao gồm các loại thiết bị và vật liệu (cần lắp hoặc không cần lắp, vật kết cấu, công cụ, khí cụ...) mà doanh nghiệp mua vào nhằm phục vụ hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản. - Phân loại theo nguồn hình thành + Vật liệu mua ngoài: là vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh được DN mua ngoài thị trường (trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài) + Vật liệu tự sản xuất: là những loại vật liệu do chính doanh nghiệp tự sản xuất, chế biến hay thuê ngoài gia công, chế biến. - Phân loại theo chủ sở hữu + NVL tự có: mua sắm, nhận cấp phát, tặng thưởng, nhận góp vốn LD... + NVL giữ hộ hay nhận gia công: do DN nhận giữ hộ hoặc nhận gia công cho bên ngoài. 1.2.2 Đánh giá nguyên vật liệu: 1.2.2.1 Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu Nguyên vật liệu hiện có trong các doanh nghiệp được phản ánh trong sổ kế toán và báo cáo kế toán theo trị giá vốn thực tế, tức là toàn bộ số tiền bỏ ra để có được nguyên vật liệu đó, bao gồm trị giá mua thực tế và chi phí thu mua. Sự hình thành trị giá vốn nguyên vật liệu được phân biệt ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. -Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu tại thời điểm mua hang là số tiền thực tế phải trả cho người bán (trị giá mua thực tế). -Trị giá vốn của nguyên vật liệu nhập kho là trị giá mua thực tế của nguyên vật liệu nhập kho cộng với các khoản chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 6 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP như chi phí vận chuyển, các chi phí về việc nhận nhập kho và thuế nhập khẩu nếu có. -Trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho là trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu tính theo các phương pháp tính trị giá nguyên vật liệu xuất kho. 1.2.2.2 Các cách đánh giá nguyên vật liệu: 1.2.2.2.1 Đánh giá theo trị giá mua thực tế: * Trị giá vốn thực tế nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập NVL nhập kho được tính theo giá thực tế. Giá thực tế chính là chi phí thực tế mà DN đã bỏ ra cho đến khi vật tư được đưa vào sử dụng trên cơ sở các chứng từ hợp lệ, chứng minh cho các khoản chi hợp pháp của DN để tạo ra vật chất. Giá NVL nhập kho được tính riêng cho từng nguồn nhập cụ thể:  Với NVL mua ngoài Giá nhập = Giá mua Các khoản giảm giá mua - Thuế nhập khẩu (nếu có) + + Thuế TTĐB + (nếu có) Các khoản chi phí mua + Giá mua: là giá ghi trên hoá đơn của người bán. + Các khoản giảm giá mua: khoản chiết khấu thương mại được hưởng trên giá mua, và các khoản giảm giá mua (kể cả hồi khấu). + Các chi phí thu mua: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí bao bì, chi phí thuê kho, thuê bãi; lệ phí kiểm nhận khi nhận hàng… Như vậy, nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì trong giá thực tế của NVL nhập kho không bao gồm thuế GTGT đầu vào được khấu trừ mà chỉ bao gồm các khoản thuế không được khấu trừ như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Còn nếu doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp thì trong giá nhập NVL bao gồm cả thuế.  Với NVL do doanh nghiệp tự sản xuất Giá thực tế ghi sổ của vật liệu là giá thành sản xuất thực tế (giá thành công xưởng thực tế) của sản phẩm sản xuất ra.  Với NVL do thuê ngoài gia công Giá thực tế NVL = Giá thực tế của NVL NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 7 + Chi phí thuê ngoài gia HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP thuê ngoài gia công xuất đem đi chế biến  Các trường hợp khác: công, chế biến Nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn…thì gía thực tế ghi sổ của NVL là gía trị được các bên tham gia góp vốn thống nhất đánh giá chấp thuận. * Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho: Theo chuẩn mực kế toán số 02 – Hàng tồn kho, tính trị giá vật tư xuất kho, tùy theo hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp sau: Phương pháp tính theo giá đích danh Phương pháp này thích hợp với DN có điều kiện bảo quản NVL theo từng lô, vì vậy khi xuất kho lô nào thì tính giá thực tế đích danh lô đó. Ưu điểm: Việc tính giá NVL được thực hiện nhanh chóng, kịp thời và thông qua việc tính giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô NVL.Theo cách này, giá trị vật tư xuất dùng cho SX sẽ phù hợp với giá trị của thành phẩm mà nó tạo ra. Nhược điểm: việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khá khắt khe và chỉ có thể áp dụng được khi NVL có thể phân bịêt được, chia tách được ra thành từng loại, từng thứ riêng biệt, cho phép bảo quản thành từng lô NVL nhập kho. Điều kiện vận dụng phương pháp: là DN phải có ít loại NVL hoặc những NVL ổn định và có khả năng nhận diện được.  Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) Theo phương pháp này, giả thiết rằng số vật liệu nào nhập kho trước sẽ được xuất dùng trước, xuất hết số nhập trước rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của số hàng xuất đó. Cơ sở là giá thực tế của hàng mua trước sẽ được dùng làm giá thực tế của hàng xuất trước (ngược lại) và do vậy giá trị vật liệu cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật liệu nhập kho sau cùng. Ưu điểm - Tính giá NVL xuất kho kịp thời. Phương pháp này gần đúng với luồng nhập- xuất kho NVL trên thực tế, do đó nó sẽ phản ánh khá chính xác giá trị vật tư NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 8 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP tồn kho và xuất kho của NVL. - Giá trị NVL sẽ được phản ánh gần sát với giá trị thị trường. - Đặc biệt, khi giá cả có sự biến động theo xu hướng tăng lên thì việc áp dụng phương pháp này sẽ có lợi cho DN do có được số lãi nhiều hơn khi sử dụng các phương pháp khác. Vì giá vốn của hàng bán là giá trị của những NVL mua vào từ trước với giá thấp hơn. Nhược điểm: là làm doanh thu hiện tại của DN không phù hợp với những khoản chi phí hiện tại, do doanh thu đó được tính bởi giá trị của vật tư, hàng hoá đã được mua vào từ trước, thậm chí cách đó rất lâu. Điều kiện để vận dụng phương pháp: là DN phải có ít danh điểm NVL và số lần nhập kho của mỗi danh điểm là không nhiều.  Phương pháp nhập sau - xuất trước (phương pháp LIFO) Giả định những NVL nào nhập kho sau cùng sẽ được xuất dùng trước tiên. Việc tính giá này nhìn chung là ngược với phương pháp FIFO đã trình bày ở trên. Ưu điểm: Giúp chi phí kinh doanh của DN phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL. Nhược điểm - Phương pháp này chỉ giả định vật tư được nhập theo kiểu nhập sau- xuất trước, trong khi thực tế thông thường NVL đựơc quản lí theo kiểu nhập trước- xuất trước. - Chi phí quản lý NVL của DN có thể sẽ cao vì DN sẽ mua thêm vật tư nhằm tính vào giá vốn hàng hóa bán ra, nhưng lại tốn chi phí cao hơn. Điều này trái ngược với mục đích quản lý một cách có hiệu quả là phải giảm thiểu số lượng NVL tồn kho để giảm chi phí quản lý NVL. - Giá trị NVL được phản ánh thấp hơn so với giá thực tế của nó, bởi vì nó bao gồm giá trị NVL nhập vào đầu tiên với giá thấp hơn so với giá hiện thời. Điều này sẽ dẫn đến việc DN bị nhìn nhận có khả năng thanh toán kém hơn so với thực tế.  Phương pháp bình quân gia quyền Theo phương pháp này, giá thực tế NVL xuất kho trong kỳ được tính: Giá thực tế từng loại NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 = Số lượng từng loại 9 X Giá đơn vị HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP NVL xuất kho NVL xuất kho bình quân Trong đó, giá đơn vị bình quân có thể tính theo một trong hai cách sau: - Phương pháp bình quân gia quyền tại thời điểm cuối kỳ : Có ưu điểm là giảm nhẹ được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp LIFO và FIFO, không phụ thuộc vào số lần nhập- xuất của từng danh điểm NVL. Có nhược điểm là độ chính xác không cao, tăng khối lượng công việc tính toán đặc biệt là vào cuối kì, gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung, đồng thời phải tiến hành tính giá theo từng danh điểm NVL. Do vậy, chúng chỉ thích hợp với các DN có ít danh điểm NVL nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm NVL nhiều. Xác định theo công thức: Đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ - Giá thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ = Số lượng thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ Phương pháp bình quân gia quyền tại thời điểm xuất kho Sau mỗi lần nhập, kế toán phải xác định giá bình quân của từng danh điểm NVL. Căn cứ vào giá bình quân và lượng NVL xuất kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế NVL xuất kho. Ưu điểm khắc phục được nhược điểm của phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhật. Nhược điểm tốn nhiều công sức, do khối lượng công việc tính toán nhiều và phải tiến hành tính giá theo từng danh điểm NVL. Phương pháp này được xác định theo công thức: Đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập = Giá thực tế từng loại NVL sau mỗi lần nhập Số lượng thực tế từng loại NVL sau mỗi lần nhập 1.3 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu: Kế toán chi tiết NVL là khâu công việc khá phức tạp và tốn nhiều công sức. Đòi hỏi phải phản ánh cả chỉ tiêu giá trị, số lượng và chất lượng của từng danh điểm NVL, theo từng kho và từng người phụ trách vật chất. Để kế toán chi tiết NVL, kế toán sử dụng các chứng từ chủ yếu sau: - Hóa đơn giá trị gia tăng - Phiếu Nhập kho (mẫu 01-VT) - Phiếu xuất kho (Mẫu 02-VT) - Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03-VT) NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 10 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP - Biên bản kiểm nghiệm vật tư (Mẫu 03-VT). - Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 04-VT) - Biên bản kiểm kê vật tư (mẫu 05-VT) - Bảng kê mua hàng (Mẫu 06-VT) - Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu (Mẫu 07-VT) Các sổ sách sử dụng trong kế toán chi tiết NVL phụ thuộc vào phương pháp kế toán mà DN đã lựa chọn. Thông thường có các loại sổ sách chủ yếu sau: Thẻ kho, Sổ kế toán chi tiết vật tư, Bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn NVL, Sổ đối chiếu luân chuyển, Sổ số dư, Bảng luỹ kế nhập xuất tồn kho… Tài khoản sử dụng:  Tài khoản 152 “Nguyên liệu, vật liệu”: tài khoản này được dùng để phản ánh NVL chuyển qua kho; Ghi giá nhập, xuất theo giá gốc (= giá thực tế + phí tổn phát sinh); Ghi nhận giá trị NVL tồn tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ (có chỉnh theo số kiểm kê). Tài khoản có kết cấu như sau: TK 152 “Nguyên liệu, vật liệu” Dư nợ đầu kỳ: xxx Phát sinh giảm: Phát sinh tăng: - Giá trị thực tế NVL xuất kho để sản - Giá trị thực tế NVL nhập kho do xuất, để bán, thuê ngoài gia công chế mua ngoài, tự chế, thuê ngoài gia biến hoặc góp vốn đầu tư. công, nhận góp vốn LD, được cấp - Trị giá NVL được giảm giá hoặc trả hoặc nhập từ nguồn khác. lại người bán - NVL thừa phát hiện khi kiểm kê. - Trị giá NVL thiếu hụt khi kiểm kê. Dư nợ: Giá thực tế NVL tồn kho. TK152 có thể mở các TK con cấp 2 để kế toán chi tiết theo từng loại, nhóm vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông thường, các DNSX chi tiết TK này theo vai trò và công dụng của NVL như sau:  TK1521 : Nguyên vật liệu chính  TK 1522 : Nguyên vật liệu phụ  TK 1523 : Nhiên liệu  TK 1525 : Vật tư nhận gia công cho bên ngoài NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 11 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH  TK 1528 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP : Vật liệu khác Ngoài ra trong quá trình hạch toán, kế toán còn sử dụng một số tài khoản liên quan như 331, 133, 111, 112… Việc tổ chức hạch toán chi tiết NVL ở kho và Phòng kế toán phải liên hệ chặt chẽ với nhau, các chứng từ về nhập xuất kho NVL được sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với số liệu trong việc ghi chép, vào sổ kế toán. Điều đó cho phép tránh được những ghi chép trùng lặp không cần thiết, góp phần tăng hiệu quả trong công tác quản lý. Trên thực tế công tác kế toán ở nước ta hiện nay, các DNSX thường áp dụng 1 trong 3 phương pháp hạch toán chi tiết NVL là: Phương pháp mở thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển và phương pháp số dư. Nội dung cụ thể như sau: 1.3.1 Phương pháp thẻ song song Đặc điểm của phương pháp này là tại kho, NVL được theo dõi trên các Thẻ kho chỉ về mặt số lượng, còn tại phòng kế toán thì mở các sổ chi tiết NVL theo dõi cả về mặt số lượng và gía trị NVL. * Qui trình luân chuyển Phiếu nhập Phiếu xuất Thẻ Kho Sổ (thẻ) chi tiết vật tư Bảng tổng hợp N-X-T Kế toán tổng hợp Ghi chú: Ghi hàng ngày: Ghi cuối kì: Quan hệ đối chiếu: Sơ đồ 1.1: Qui trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp thẻ song song * Nội dung của phương pháp - Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập xuất tồn NVL cho từng danh điểm vật tư (thẻ kho chỉ ghi về mặt số lượng). Cuối ngày và cuối tháng Thủ kho tính ra số lượng tồn trên từng thẻ để đối chiếu với sổ kế toán chi tiết vật tư trên phòng kế toán. NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 12 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP - Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng Sổ kế toán chi tiết vật tư để phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng giảm theo từng danh điểm vật tư, tương ứng với thẻ kho đã mở ở kho. Sổ chi tiết vật tư: định kỳ, kế toán phụ trách xuống kho nhận Phiếu nhậpxuất, định khoản ngay trên phiếu, sau đó căn cứ vào các chứng từ đó để vào sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật tư theo cả chỉ tiêu số lượng và giá trị. Cuối tháng kế toán tính ra số lượng tồn và giá trị tồn cho từng danh điểm vật tư (cột số lượng tồn phải khớp với số lượng tồn trên Thẻ kho). Từ Sổ kế toán chi tiết vật tư, cuối tháng kế toán lập Bảng tổng hợp NhậpXuất- Tồn kho (phản ánh cả giá trị và số lượng). Đây là căn cứ để đối chiếu số liệu về mặt giá trị của NVL giữa kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp. Bảng tổng hợp N-X-T: lấy dòng cộng trên sổ chi tiết của từng danh điểm vật tư để ghi một dòng vào Sổ tổng hợp N-X-T. Cuối tháng cộng giá trị nhập- xuất để tính ra giá trị tồn kho cho từng kho Vật liệu. Cột giá trị N-X-T của từng kho phải khớp với tổng phát sinh nợ, tổng phát sinh có và số dư cuối kỳ của tài khoản 152 trên Sổ Cái. * Ưu điểm: Khá đơn giản, dễ kiểm tra đối chiếu; có thể cung cấp thông tin thường xuyên cả về mặt giá trị và số lượng của từng loại NVL nhập- xuất- tồn và rất thích hợp đối với các doanh nghiệp có ít loại nguyên vật liệu và đã áp dụng các phần mềm máy tính vào công tác hạch toán NVL. * Nhược điểm: Ghi chép trùng lắp (về mặt số lượng giữa kho và phòng kế toán), từ đó làm tăng khối lượng ghi chép của kế toán và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác kế toán. * Điều kiện vận dụng: Chỉ thích hợp đối với các doanh nghiệp có qui mô nhỏ, sử dụng ít danh điểm NVL và số nghiệp vụ phát sinh không nhiều. 1.3.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển Đặc điểm của phương pháp này: tại Kho vẫn phải mở Thẻ kho theo dõi về mặt số lượng đối với từng loại NVL, tại Phòng kế toán sẽ mở Sổ đối chiếu luân chuyển theo dõi sự biến động của NVL cả về mặt số lượng và giá trị. * Qui trình luân chuyển Phiếu nhập Bảng kê nhập Thẻ kho NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP 13 Phiếu xuất Bảng kê xuất LớpK43/21.10 Sổ đối chiếu luân chuyển Kế toán tổng hợp HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Ghi chú: Ghi hàng ngày: Ghi cuối kì: Quan hệ đối chiếu: Sơ đồ 1.2: Qui trình hạch toán chi tiết NVL theo PP sổ đối chiếu luân chuyển * Nội dung phương pháp - Tại Kho: công việc cụ thể cũng giống như với phương pháp Thẻ song song, thủ kho lập Thẻ kho cho từng danh điểm vật tư để theo dõi về mặt số lượng. - Tại Phòng kế toán: Kế toán vật tư lập các Bảng kê nhập, Bảng kê xuất cho mỗi danh điểm vật tư dựa trên Phiếu nhập, phiếu xuất tương ứng theo cả chỉ tiêu số lượng và giá trị. Cuối tháng, cộng bảng kê nhập và bảng kê xuất để ghi một dòng vào sổ đối chiếu luân chuyển. + Sổ đối chiếu luân chuyển: do kế toán vật tư lập ở cuối tháng theo cả chỉ tiêu số lượng và giá trị. Mỗi danh điểm vật tư được ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển (cột số lượng đối chiếu với thẻ kho, còn cột giá trị được đối chiếu với kế toán tổng hợp). Sổ đối chiếu Nhập = Tổng phát sinh Nợ TK 152 trên Sổ cái luân chuyển Xuất = Tổng phát sinh Có TK 152 trên Sổ cái Tồn = Số dư TK 152 trên Sổ cái * Ưu điểm: Khối lượng công việc ghi chép của kế toán giảm nhẹ do chỉ ghi một lần vào cuối tháng, công tác kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán được thuận lợi, dễ dàng. * Nhược điểm: Vẫn còn trùng lắp chỉ tiêu số lượng giữa kho và phòng kế toán. Do dồn công việc ghi sổ, kiểm tra đối chiếu vào cuối kỳ nên trong trường hợp số lượng chứng từ nhập xuất của từng danh điểm NVL khá nhiều thì công việc kiểm tra, đối chiếu sẽ gặp khó khăn, điều đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác, đến việc cung cấp thông tin cho quản lí. NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 14 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP * Điều kiện vận dụng: Thích hợp trong các doanh nghiệp có nhiều nghiệp vụ xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết nguyên vật liệu. Do vậy không có điều kiện theo dõi, ghi chép tình hình nhập xuất hàng ngày. 1.3.3 Phương pháp sổ số dư: Có đặc điểm là tại Kho theo dõi về mặt số lượng từng loại NVL, còn Phòng kế toán chỉ theo dõi về mặt giá trị của từng nhóm NVL. * Qui trình luân chuyển Sổ giao nhận chứng từ nhập Phiếu nhập Thẻ Kho Phiếu xuất Sổ số dư Sổ giao nhận chứng từ gốc Bảng kê luỹ kế NhậpXuấtTồn Kế toán tổng hợp Ghi chú: Ghi hàng ngày: Ghi cuối kì: Quan hệ đối chiếu: Ghi định kì: Sơ đồ 1.3: Qui trình hạch toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ số dư * Nội dung phương pháp - Tại kho: Định kì, sau khi ghi Thẻ kho, thủ kho phải tổng hợp toàn bộ chứng từ nhập kho, xuất kho phát sinh theo từng vật liệu theo từng nhóm vật tư. Sau đó lập Sổ giao nhận chứng từ nhập (xuất) và nộp cho kế toán kèm theo các chứng từ nhập xuất kho NVL. Trong đó, cột nhóm vật tư, số lượng chứng từ, số hiệu chứng từ do Thủ kho ghi. Cột số tiền do kế toán vật tư ghi. Ngoài ra, thủ kho còn phải ghi số lượng vật liệu tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào Sổ số dư. - Tại phòng kế toán: định kì kế toán phải xuống kho để hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng từ. Khi nhận được chứng từ, kế toán kiểm tra và tiến hành tính toán, tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 15 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP trên phiếu giao nhận chứng từ. Đồng thời ghi số tiền vừa tính của từng nhóm vào Bảng luỹ kế N-X-T kho. Tiếp đó, cộng số tiền nhập xuất trong tháng và dựa vào số dư đầu tháng để tính ra số dư cuối tháng của từng nhóm vật liệu. Số dư này được đối chiếu với cột “số tiền” trên Sổ số dư (mỗi danh điểm vật tư được ghi một dòng trên sổ này). Sổ này được theo dõi cho cả 12 tháng. Cuối tháng cộng sổ số dư, cột gía trị sẽ được đối chiếu với Bảng kê luỹ kế N-X-T. * Ưu điểm: giảm được khối lượng ghi chép của kế toán do tránh được sự trùng lặp về chỉ tiêu số lượng giữa kho và phòng kế toán, hơn nữa dàn đều công việc ghi sổ trong kỳ, nên không bị dồn việc cuối kỳ, từ đó làm tăng hiệu quả của công tác kế toán. * Nhược điểm: Việc kiểm tra, đối chiếu sai sót gặp nhiều khó khăn, do khi muốn biết số lượng N-X-T của một danh điểm vật tư nào đó phải trực tiếp xuống kho xem thẻ kho mới có được thông tin. Hơn nữa kết cấu sổ phức tạp, do đó đòi hỏi nhân viên kế toán và thủ kho phải có trình độ chuyên môn cao. * Điều kiện vận dụng: Thích hợp đối với những doanh nghiệp có qui mô lớn, nhiều danh điểm nguyên vật liệu và có số lượng chứng từ nhập- xuất của mỗi loại khá nhiều thì ta sẽ giảm được khối lượng công việc ghi chép. Nhìn chung bất cứ một phương pháp nào cũng đều có ưu điểm và nhược điểm. Vì vậy phải tùy theo tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn phương pháp hạch toán thích hợp. 1.4 KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU: 1.4.1 Các phương pháp kế toán tổng hợp nguyên vật liệu: Tùy thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, yêu cầu quản lý cũng như trình độ của bộ máy kế toán mà doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp kế toán tổng hợp cho phù hợp. 1.4.1.1 Phương pháp kê khai thường xuyên : Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh tình hình hiện có, biến động tăng, giảm hàng tồn kho một cách thường xuyên, liên tục trên tài khoản phản ánh của từng loại hàng tồn kho. NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 16 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Ưu điểm: Có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn kho một cách kịp thời, cập nhật; kế toán có thể xác định lượng N- X- T của từng loại hàng tồn kho nói chung và của NVL nói riêng tại bất cứ thời điểm nào. Nhược điểm: DN có số lượng chủng loại vật tư mang giá trị thấp, các nghiệp vụ xuất dùng, xuất bán diễn ra thường xuyên mà áp dụng phương pháp này sẽ tốn nhiều công sức Đây là phương pháp được sử dụng rất phổ biến ở nước ta hiện nay, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các DNSX và các đơn vị thương nghiệp kinh doanh mặt hàng lớn. Hơn nữa nhược điểm của nó có thể khắc phục bằng cách đưa máy tính vào công việc giúp giảm nhẹ khối lượng công việc kế toán. 1.4.1.2 Phương pháp kiểm kê định kỳ: Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá, sản phẩm trên các tài khoản phản ánh từng loại hàng tồn kho, mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ của chúng trên cơ sở kiểm kê cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế. Từ đó xác định lượng xuất dùng cho SXKD và các mục đích khác trong kỳ theo công thức sau: Giá trị vật tư, Giá trị vật tư, Tổng giá trị vật dụng cụ, sản dụng cụ, sản tư, dụng cụ, phẩm, hàng phẩm, hàng = + sản phẩm, hoá còn lại hoá còn lại hàng hoá tăng chưa sử dụng chưa sử dụng thêm trong kỳ đầu kỳ cuối kỳ Ưu điểm: Tiết kiệm được công ghi chép của kế toán do công việc chỉ dồn vào Giá trị vật tư, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá xuất trong kỳ cuối kỳ. Nhược điểm: độ chính xác không cao trong việc phản ánh về vật tư xuất dùng cho các mục đích khác nhau và bị phụ thuộc vào chất lượng công tác quản lý tại kho, quầy, bến bãi...Không đáp ứng được nhu cầu thông tin nhanh chóng, kịp thời vào một thời điểm bất kỳ. NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 17 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Phương pháp này thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có nhiều chủng loại vật tư, hàng hoá có quy cách mẫu mã đa dạng khác nhau, có giá trị thấp và được xuất dùng thường xuyên. 1.4.2 Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên: Phương pháp kế toán: Khi phát sinh các nghiệp vụ nhập kho vật liệu, có đủ các loại chứng từ cần thiết thì kế toán sẽ phản ánh vào Bên Nợ TK152 và khi phát sinh các nghiệp vụ xuất kho vật liệu sẽ phản ánh vào Bên Có TK152. Các nghiệp vụ thường xảy ra liên quan đến tình hình biến động NVL trong DN như sau:  Kế toán biến động tăng NVL - Tăng do nhập vật tư mua ngoài. Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu (giá chưa có thuế GTGT) Nợ TK 133-Thuế GTGT được khấu trừ (1331) Có TK 111,112,331…(tổng giá thanh toán) Đối với nguyên vật liệu nhập khẩu: Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Có TK 331- Phải trả cho người bán Có TK 3333- Thuế XNK Đồng thời phản ánh thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp được khấu trừ: Nợ TK 133- Thuế GTGT đựơc khấu trừ Có TK 33312- Thuế GTGT hàng nhập khẩu - Tăng do tự sản xuất nhập kho hay do thuê ngoài gia công chế biến. Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Có TK 154- Chi phí SXKD dở dang - Tăng do thu hồi các khoản vốn đầu tư bằng vật tư tương đương. Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Có TK 221- Đầu tư tài chính dài hạn - Tăng do nhận vốn góp bằng NVL, ghi: Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Có TK 411- Nguồn vốn kinh doanh - Tăng do kiểm kê phát hiện thừa chờ xử lý… NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 18 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Nợ TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu Có TK 338- Phải trả, phải nộp khác (3381)  Kế toán biến động giảm NVL - Giảm do xuất sử dụng cho SX, gia công, cho quản lý kinh doanh. Nợ TK 154, 642… Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu - Giảm do xuất vật tư đem góp vốn liên doanh, liên kết. Nợ TK 221- Đầu tư dài hạn(2212, 2213) theo giá đánh giá lại Nợ TK 811- Chi phí khác( CL đánh giá lại < giá trị ghi sổ NVL) Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu( theo giá trị ghi sổ) Có TK 711- Thu nhập khác(CL giá đánh giá >gía trị ghi sổ) - Giảm do CKTM, GGHB, HBBTL vật tư mua kém chất lượng. Nợ TK 111,112,331… Nợ TK 133- thuế GTGT được khấu trừ Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu - Giảm do sửa chữa lớn TSCĐ và dầu tư XDCB Nợ TK 241- Xây dựng cơ bản dở dang Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu - Kiểm kê phát hiện thiếu NVL chờ xử lý… Nợ TK 138- Phải thu khác(1381- Tài sản thiếu chờ xử lý) Có TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Chú ý: + Đối với các DN tính VAT theo phương pháp khấu trừ thì VAT đầu vào được tách riêng, không ghi vào giá thực tế của vật liệu: phần giá mua chưa thuế được ghi tăng vật liệu, còn phần thuế VAT đầu vào được ghi vào số được khấu trừ. + Đối với các DN tính VAT theo phương pháp trực tiếp thì giá thực tế mua vật liệu bao gồm cả VAT. + Chi phí thu mua cũng được hạch toán vào giá thực tế của hàng mua. + Trường hợp DN được hưởng CKTM hay giảm giá hàng mua (do hàng kém phẩm chất, sai qui cách,…) hoặc hàng mua nay trả lại chủ hàng thì ghi giảm trực tiếp vào giá hàng mua (cả giá và thuế) NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 19 HỌC VIỆN TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP + Trường hợp được hưởng chiết khấu thanh toán khi mua hàng do thanh toán tiền hàng trước hạn thì ghi tăng doanh thu tài chính (Có TK 515).  Kế toán kết quả kiểm kê kho NVL Định kỳ hoặc đột xuất, doanh nghiệp có thể tiến hành kiểm kê kho NVL nói riêng và các loại hàng tồn kho nói chung để xác định lượng tồn kho nói chung để xác định lượng tồn kho của từng danh điểm, từ đó đối chiếu với số liệu trên sổ sách kế toán và xác định số thừa, số thiếu. - Trường hợp phát hiện NVL thiếu, mất mát, hư hỏng… chưa xác định rõ nguyên nhân phải chờ xử lý, kế toán ghi: Nợ TK 1381- Giá trị NVL thiếu chờ xử lí Có TK 152- chi tiết NVL Khi có biên bản xử lí: Nợ TK 111, 112, 1388, 334…: phần được bồi thường Nợ TK 632: phần thiệt hại mà DN phải chịu Có TK 1381- giá trị NVL thiếu được xử lí - Trường hợp phát hiện thừa so với sổ sách, phải xác định số thừa đó là của mình hay phải trả đơn vị, cá nhân khác. + Nếu thừa là của DN: Nợ TK 152- chi tiết NVL Có TK 711- Thu nhập khác + Nếu xác định số NVL thừa sẽ đem trả cho DN khác thì kế toán ghi vào bên Nợ TK 002. Nếu DN quyết định mua lại số NVL thì phải thông báo cho bên bán biết để họ gửi hoá đơn bổ sung cho DN. Căn cứ vào giá mua của NVL cùng loại, kế toán ghi: Nợ TK 152- Nguyên liệu, vật liệu Có TK 338 (3381) Khi có quyết định xử lý NVL thừa: Nợ TK 3381 Có các TK liên quan Có thể khái quát các nghiệp vụ hạch toán tổng hợp NVL theo phương pháp kê khai thường xuyên qua sơ đồ sau: NGUYỄN THỊ HỒNG ĐIỆP LớpK43/21.10 20
- Xem thêm -