Dạy học thơ Tố Hữu ở nhà trường PTTH theo hướng Tích hợp

  • Số trang: 136 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 43 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Tích hợp là vấn đề thời sự khoa học của giáo dục thời đại Chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, thế kỷ của công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, đã và đang len lỏi vào cuộc sống của từng con người, từng ban ngành, cơ quan, công sở,…Ngành Giáo dục cũng không thể nằm ngoài xu thế phát triển chung đó. Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của giáo dục, các nhà nghiên cứu ra sức tìm tòi, xây dựng những mô hình mới, những quan điểm, phương pháp giảng dạy mới cho phù hợp với giáo dục hiện đại, nhằm đem lại những kết quả khả quan hơn. Hoà chung với không khí thời đại, trong những thập kỷ gần đây, chúng ta đã làm quen với những tư tưởng như: liên môn, xuyên môn, tích hợp,…Và hiện nay, quan điểm tích hợp đã chiếm một vị trí chủ đạo trong hệ thống giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới. Các nước như: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Úc,… đã biên soạn chương trình và chỉ đạo phương pháp giảng dạy theo hướng tích hợp. Việc làm này của họ đã được kiểm nghiệm và đem lại sự thành công nhất định. Như vậy, quan điểm tích hợp không đơn thuần chỉ là một đề xuất, một ý tưởng tức thời mà nó đã trở thành một vấn đề thời sự mang tính khoa học, đã được nhiều nước trên thế giới vận dụng và thu được những thành tựu đáng kể. Để hoà nhập vào xu thế phát triển chung của thế giới, giáo dục nước ta đang từng bước đổi mới chương trình SGK, phương pháp dạy- học theo quan điểm tích hợp. 1.2. Tích hợp được vận dụng vào nền giáo dục nước ta, đang là vấn đề mới mẻ, còn nhiều lúng túng về lí luận cũng như cách thức thực hiện Những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đã có nhiều cải cách, chỉnh lý. Mặc dù cải cách đó đã thể hiện sự tiến bộ nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập như: chương trình SGK chỉnh lý vẫn còn mang tính chất chắp vá, vụn vặt; việc thi cử, kiểm tra, đánh giá vẫn còn những hạn chế; 1 thêm vào đó là sự quá tải khiến học sinh phải học rất vất vả mà hiệu quả giáo dục vẫn chưa cao. Nhận thấy điều đó, ngành giáo dục của chúng ta đã quyết tâm đổi mới phương pháp, đổi mới chương trình SGK các cấp học theo hướng tích hợp như một số nước tiên tiến trên thế giới đã thực hiện. Trong những năm đầu thực hiện thay đổi chương trình SGK, thay đổi phương pháp giảng dạy theo hướng tích hợp, chúng ta không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng trước vấn đề mới mẻ này. GV và HS đang từng bước làm quen với chương trình mới, cách dạy- học mới. Chính vì vậy mà trong quá trình thực hiện chương trình, cả GV lẫn HS không tránh khỏi những khó khăn. Chương trình SGK mới, cách dạy học mới theo hướng tích hợp, yêu cầu đối với GV và HS ở một mức độ cao hơn hẳn so với chương trình và cách dạy- học cũ. Để thực hiện được chương trình tích hợp, bắt buộc GV và HS phải đầu tư thời gian nhiều hơn cho việc soạn bài, tham khảo tài liệu, suy nghĩ để tìm ra hướng tiếp cận phù hợp, tìm ra cách hiểu, cách lí giải vấn đề sát thực, có cơ sở lí luận. Làm sao để trong một tiết học, giờ học, bài học, GV phải tổ chức, hướng dẫn, định hướng để thúc đẩy được sự hoạt động bên trong của HS. HS phải tự tìm tòi, khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức mà bài học chứa đựng. Đồng thời từ kiến thức của bài học, môn học đó, HS biết liên hệ, mở rộng sang những kiến thức của bài học, môn học khác có liên quan. Thực hiện tốt được những yêu cầu đó không phải là điều dễ dàng đối với cả GV và HS. Một thực trạng dễ nhận thấy nữa là: phần lớn GV chưa hiểu kĩ, hiểu sâu về tích hợp nên nhiều khi vận dụng vào bài dạy cụ thể còn nhiều vướng mắc, lúng túng. Nhiều khi, GV hiểu về tích hợp một cách lệch lạc nên trong giờ dạy TPVH lấn sân sang kiến thức Tiếng Việt một cách quá đà làm cho giờ dạy học TPVH trở thành giờ phân tích từ ngữ, ngữ pháp một cách khô cứng. Ngược lại cũng có GV khi dạy Tiếng Việt lại lấy quá nhiều ngữ liệu từ Văn mà không có sự chọn lọc để lựa ra những ngữ liệu thật tiêu biểu ; 2 hơn nữa, GV lại sa vào phân tích chất văn chương làm cho HS có cảm giác đó là một giờ phân tích, cảm thụ Văn hơn là một giờ dạy- học Tiếng Việt. 1.3. Cách dạy học tách rời các phân môn thuộc môn Ngữ văn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc nâng cao hiệu quả giờ học văn Sở dĩ nền GD của nước ta chưa phát triển được như một số nước trong khu vực và trên thế giới bởi nhiều lí do, nhưng lí do nổi cộm nhất là việc dạy học tách biệt các phân môn, các môn học trong một thời gian dài. Xu hướng dạy học tách biệt các phân môn thuộc môn Ngữ văn đã làm cho quá trình đào tạo của chúng ta bộc lộ những hạn chế như: tình trạng trùng lặp, dư thừa kiến thức gây lãng phí thời gian đào tạo; HS học một cách thụ động, không phát huy được vai trò chủ thể sáng tạo, HS không có khả năng tư duy tổng hợp.Nhà nghiên cứu Pháp Edgar.Morin cảnh báo rằng: xu hướng dạy học tách biệt, chia ô các bộ môn, phân môn “làm mất khả năng nắm được những gì kết dệt vào nhau, phá vỡ thế giới thành những mảnh tách rời nhau. Nó teo đi sự lĩnh hội và sự suy nghĩ cùng cách nhìn về lâu về dài” [30,70] . Chính vì vậy mà GD hiện đại cần từ bỏ tư duy tách biệt để xác lập tư duy nối liền, thay thế quan hệ nhân quả tuyến tính bằng quan hệ nhiều vòng, nhiều quy chiếu; thay thế lôgíc cứng nhắc bằng lôgic biện chứng; thay thế sự hòa nhập bộ phận và cái toàn thể bằng sự hòa nhập cái toàn thể bên trong” [30,70]. Qua khảo sát thực trạng dạy học thơ Tố Hữu ở trường phổ thông theo xu hướng tách rời các phân môn và đã thu dược những kết quả trùng hợp với những nhận định trên.HS và GV thiếu ý thức liên hệ, gắn kết khâu dạy-học tác phẩm với các bộ phận khác của chương trình, GV và HS thường xuyên lặp lại kiến thức một cách không cần thiết, dẫn đến việc lãng phí thời gian dành cho các công việc khác. Và một thực trạng phổ biến nhất không khỏi lo ngại là HS tiếp cận với thơ Tố Hữu một cách phiến diện, chỉ bó hẹp trong phạm vi văn bản chứ chưa có cái nhìn tổng thể, mở rộng. 3 1.4. Tác phẩm văn chương nói chung và thơ Tố Hữu nói riêng tiềm ẩn nhiều yếu tố và dữ kiện để thực hiện tích hợp Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống, văn chương luôn luôn phản ánh cuộc sống mà cuộc sống vốn đa chiều nhiều vẻ. Một TPVH mang trong mình nó rất nhiều vấn đề của cuộc sống, của xã hội. Vì vậy nó có thể đụng chạm đến nhiều khía cạnh như: Lịch sử, địa lý, văn hóa, đạo đức, tâm lí, giáo dục, ngôn ngữ,…Chính vì thế khi dạy- học TPVH không chỉ đơn thuần mình kiến thức văn chương mà người GV cần phải khéo léo khơi gợi, liên hệ kiến thức văn học với các khía cạnh liên quan đó để HS có sự gắn kết TPVH với các bộ phận khác và có một cách nhìn nhận tổng thể, có tư duy lôgíc biện chứng. Trong chương trình phổ thông, Tố Hữu là một tác gia có vị trí quan trọng và là lá cờ đầu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Ở ông hội tụ được nhiều yếu tố, có sự giao thoa với các dòng văn học khác, tạo nhiều dữ kiện cho việc dạy học theo hướng tích hợp. Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Dạy học thơ Tố Hữu ở nhà trường PTTH theo hướng Tích hợp.” với mong muốn góp phần vào việc chỉ ra con đường, cách thức dạy học tích hợp đối với một TPVH cụ thể; dạy học tác gia Tố Hữu với tác phẩm thơ trữ tình của ông. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Về vấn đề Tích hợp 2.1.1. Nghiên cứu về dạy học theo hướng tích hợp đã có một số công trình được công bố. Trong đó nổi bật nhất là cuốn sách “Khoa Sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường” của tác giả Xavier Roegiers – Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào tạo (BIEF) (NXBGD,1996 do Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch) . Cuốn sách đã mang lại giá trị lý luận cao, giúp chúng ta hiểu được nội dung và bản chất của Tích hợp và cho thấy những ảnh hưởng của khoa Sư phạm Tích hợp đối với chương trình SGK cũng như kiến thức mà HS lĩnh hội được. 4 Hiện nay, cuốn sách trên đã trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với việc đổi mới Giáo dục, đặc biệt là việc đổi mới dạy học môn Văn trong nhà trường của chúng ta theo hướng tích hợp. 2.1.2. SGK Ngữ văn theo hướng tích hợp đã được xây dựng xuyên suốt từ cấp Tiểu học, THCS và hiện nay đang tiếp tục triển khai ở THPT. Chương trình SGK đổi mới hợp nhất ba phân môn còn tồn tại độc lập: Văn học, tiếng Việt, Tập làm văn thành một quyển sách có tên gọi là Ngữ văn. Ngay trong lời nói đầu sách “Ngữ văn 6”, tổng chủ biên SGK THCS Nguyễn Khắc Phi đã khẳng định: “Bên cạnh những hướng cải tiến chung của chương trình như: giảm tải tăng thực hành, gắn đời sống, cải tiến nổi bật của chương trình và SGK môn Ngữ văn là hướng tích hợp”. Điều này thể hiện rõ ở sự thay đổi cấu trúc bài học trong SGK “Mục kết quả cần đạt đặt ở đầu nêu mục tiêu mà HS cần đạt tới, ở mỗi bài gồm đủ cả ba phần ứng với ba phân môn…Các văn bản được bố trí theo hệ thống thể loại và phần nào theo tiến trình văn học sử … Ngoài số lượng lớn văn bản được hướng dẫn tìm hiểu tại lớp, còn một số văn bản tự học có hướng dẫn mang tính chất bắt buộc nhằm hình thành phát triển thói quen và khả năng tự học, tìm tòi nghiên cứu”. Ở sách Ngữ văn 10- chương trình phân ban thí điểm KHTN, tập1do GS Phan Trọng Luận tổng chủ biên, trong phần “ Một số vấn đề chung về chương trình môn học và SGK Ngữ văn” đã nêu rõ mục tiêu và cấu trúc của SGK về việc kế thừa và phát triển, vận dụng hướng tích hợp ở mức cao hơn, linh hoạt hơn, phù hợp với trình độ tư duy của HS bậc THPT. Sách nêu rõ “ Trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng và nâng cao thêm một bước năng lực Ngữ văn cho HS bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản thông dụng, năng lực viết một số văn bản thông dụng và giao tiếp bằng lời nói trước công chúng”. Bên cạnh đó SGK còn thể hiện tính chất tổng hợp và tính chất công cụ của môn học: “ Ngữ văn không chỉ là môn học tích hợp Ngữ với Văn- hai nội dung khoa học cơ bản, vừa cung cấp tri thức khoa học vừa giáo dục tư tưởng mà còn là môn học công cụ, có mục tiêu thực tiễn là đào tạo năng lực nghe, nói, đọc, viết cho HS”. 5 Đặc biệt GS nhấn mạnh đến nguyên tắc tích hợp và chỉ rõ hướng tích hợp theo chiều sâu, chú trọng tích hợp dọc, tích hợp ngang như ở bậc THCS và ở THPT còn nâng cao hơn là: “tích hợp văn bản với lịch sử, lịch sử văn học, lí luận văn học, văn hóa.” 2.1.3. Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS. Đỗ Ngọc Thống, người tham gia biên soạn chương trình SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp quí giá. Trong cuốn “Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS”NXB.GD, 2002, tác giả đã có một hệ thống bài viết về quan điểm tích hợp và việc dạy học văn theo hướng tích hợp. Tác giả giúp chúng ta hiểu rõ: “Việc lấy tên chung của một cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combinaison) mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp (Integration)”. Ở bài viết “Dạy học môn Ngữ văn THCS theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là: “Trong cuốn sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thanh, rèn luyện các kiến thức và kĩ năng của mỗi phân môn”. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ưu điểm của nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách đánh giá chất lượng học tập của HS. 2.1.4. TS. Nguyễn Văn Đường- CĐSP Hà Nội- trong báo cáo khoa học “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc THCS” cũng đã đề cập đến một số cơ sở lí luận và thực tiễn, bản chất của tích hợp và dề ra những phương hướng thực hiện tích hợp trong bài học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứng dụng cho THCS. Ngoài ra còn có các sách tham khảo, các bài báo, luận văn, v.v… viết về vấn đề tích hợp. Các tài liệu trên đã đặt cơ sở lí luận cho việc dạy học theo hướng tích hợp, song đối tượng chủ yếu vẫn là THCS. Đối với cấp THPT, các tài liệu bàn về vấn đề dạy học theo hướng tích hợp còn rất ít. 6 2.2. Về thơ Tố Hữu và dạy học thơ Tố Hữu Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền thơ ca Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương có giá trị cao. Đời thơ của ông được tập hợp trong 7 tập thơ, ra đời cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta. Từ “Từ ấy” đến “Ta với ta” là cả một cuộc hành trình dài của đời thơ Tố Hữu. Mỗi tập thơ Tố Hữu ra đời là một hiện tượng văn học lớn và đã thu hút giới phê bình nghiên cứu một cách đông đảo. Có đến hàng chục công trình nghiên cứu văn học về thơ ông. Đáng chú ý hơn cả là những công trình của các nhà thơ nổi tiếng như: Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư,…; của các nhà nghiên cứu phê bình văn học có tên tuổi như: Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, vv… và một số bài viết của chính tác giả về đời mình và thơ mình. Các công trình nghiên cứu, các bài viết tập trung vào một số vấn đề sau trong đời và thơ Tố Hữu: - Con đường thơ của Tố Hữu: gồm các bài viết về các tập thơ của ông, khuynh hướng vận động của thơ Tố Hữu. - Phong cách nghệ thuật: là các công trình nghiên cứu các bài viết tập trung khai thác, khám phá những giá trị đặc sắc trong thơ Tố Hữu cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. - Luận đề về Tố Hữu: Tác phẩm tiếp nhận và thưởng thức là những bài viết đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, thẩm bình một số bài thơ tiêu biểu của Tố Hữu qua các chặng đường thơ của ông. - Hồi ức và kỷ niệm: Gồm những kỷ niệm về một đời người và đời thơ của Tố Hữu được tập trung trong “Hồi ký”của ông, các kỷ niệm đẹp về Tố Hữu trong kí ức của bạn bè, đồng nghiệp, người thân. Nhìn lại những chặng đường đã qua, những mốc lớn trong đời thơ Tố Hữu ta dễ dàng nhận ra: giới phê bình, nghiên cứu dành nhiều trang viết về các chặng đường thơ Tố Hữu trước 1975 và đều thống nhất khẳng định Tố Hữu là đỉnh cao thơ trữ tình chính trị Việt Nam thế kỷ XX. 7 Về dạy học thơ Tố Hữu trong chương trình phổ thông cũng có khá nhiều đề tài, luận văn, luận án thuộc các chuyên ngành nghiên cứu. Về dạy học thơ Tố Hữu nói chung và thơ Tố Hữu ở THPT nói riêng theo hướng tích hợp lại là một đề tài hoàn toàn mới mẻ, từ trước tới nay chưa có ai nghiên cứu. Dẫu chưa có một công trình nào bàn về vấn đề dạy học thơ Tố Hữu theo hướng tích hợp nhưng các công trình nghiên cứu về dạy học nói chung và nhất là dạy học môn Ngữ văn theo hướng tích hợp, cùng với những công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu là những tài liệu tham khảo quí giá đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. 3. Phương pháp nghiên cứu Để vận dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy học thơ Tố Hữu ở trường THPT nói chung và dạy học một bài thơ cụ thể của tác giả ở lớp 11- bài “Từ ấy”, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp khảo sát. - Phương pháp hệ thống. - Phương pháp so sánh. - Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa. 4. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá được tình hình giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và thơ Tố Hữu nói riêng theo phương thức cũ. - Xác định cơ sở lí luận của vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn. - Xây dựng một số nguyên tắc dạy học tác phẩm trữ tình, thơ Tố Hữu ở THPT theo hướng tích hợp. - Đề xuất một số biện pháp thực hiện tích hợp trong dạy học tác phẩm trữ tình, đặc biệt là tác phẩm trữ tình của Tố Hữu. 5. Phạm vi nghiên cứu - Một số bài thơ của Tố Hữu trong chương trình THPT. - Giáo án của GV, SGK, SGV, Sách bài soạn, sách bài tập văn học hiện hành và Ngữ văn mới THPT. 8 - Những vấn đề lí luận của quan điểm tích hợp. - Vận dụng quan điểm tích hợp để xây dựng một mô hình thiết kế cho giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình của Tố Hữu ở nhà trường THPT. 6. Ý nghĩa của đề tài Về lí luận: trên cơ sở nghiên cứu về lí luận dạy học theo hướng tích hợp, nghiên cứu về những đặc trưng có tính chất đặc thù của tác phẩm thơ trữ tình, luận văn sẽ cụ thể hóa tư tưởng dạy học tích hợp vào một tác gia lớn -Tố Hữu. Về thực tiễn: luận văn xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc, biện pháp dạy học tác phẩm văn chương nói chung và dạy học thơ Tố Hữu nói riêng theo hướng tích hợp, với mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên có một hướng đi cụ thể trong việc dạy học tác phẩm văn chương, dạy thơ trữ tình của Tố Hữu bớt đi phần khó khăn ban đầu khi giáo viên làm quen với việc dạy học theo hướng đi này. Đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động và tiềm năng sáng tạo của HS, phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học văn và khắc phục được những hạn chế đang tồn tại trong giờ dạy học văn như hiện nay, nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy học văn. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của Luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm trữ tình của Tố Hữu ở nhà trường THPT hiện nay. Chương 2: Cơ sở lí luận của việc dạy học theo hướng tích hợp. Những nguyên tắc và biện pháp dạy học tác phẩm trữ tình của Tố Hữu ở THPT theo hướng tích hợp. Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm dạy học tác phẩm Từ ấy của Tố Hữu cho HS THPT (Lớp 11- Bộ 2- Chương trình phân ban thí điểm). 9 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TÁC PHẨM TRỮ TÌNH CỦA TỐ HỮU Ở NHÀ TRƯỜNG THPT HIỆN NAY 1. Mục đích khảo sát Thông qua việc khảo sát để hiểu rõ thực tế cảm thụ, tiếp nhận thơ Tố Hữu nói chung và bài Từ ấy nói riêng của HS THPT hiện nay. Đồng thời cũng qua việc kiểm tra kết quả thực tiễn để so sánh, đánh giá hiệu quả của hai cách dạy học: dạy học thơ Tố Hữu theo hướng tách biệt các phân môn và cách dạy học thơ Tố Hữu, bài Từ ấy theo hướng tích hợp nhằm khẳng định một cách thuyết phục nhất hướng dạy học tích hợp hiện nay đang triển khai thí điểm ở một số trường THPT. 2. Tư liệu và phương pháp khảo sát - Khảo sát SGK, SGV, sách bài soạn Văn học THPT hiện hành và SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn THPT mới . - Tìm hiểu các bài soạn của GV THPT về thơ Tố Hữu . - Trao đổi với giáo viên để tìm hiểu thêm về tình hình dạy- học thơ Tố Hữu ở trường THPT theo hướng dạy học tách biệt và dạy học tích hợp. - Tìm hiểu một số bài làm của HS về thơ Tố Hữu. - Tổng hợp các tài liệu lí luận có liên quan. 3. Quá trình khảo sát và kết quả khảo sát 3.1. Tác phẩm của Tố Hữu trong chương trình SGK 3.1.1. SGK Văn học hiện hành Chỉ dạy học thơ Tố Hữu ở lớp 12, gồm có 3 bài học chính thức: Bài văn học sử về tác gia Tố Hữu, bài Việt Bắc (trích), bài Kính gửi cụ Nguyễn Du. Và 2 bài đọc thêm: Mẹ Tơm, Quê mẹ. Nhận xét: Sau phần văn bản là phần Chú thích giải thích những từ khó và phần Hướng dẫn học bài nêu những câu hỏi mang tính chất khái 10 quát những vấn đề chính trong văn bản. Mỗi bài có 5 câu hỏi hướng dẫn, các câu hỏi chủ yếu xoay quanh, bó hẹp trong phạm vi văn bản văn học .Rất ít khi có câu hỏi hướng dẫn HS mở rộng liên hệ, liên kết với các phân môn, bộ môn khác. Và có chăng cũng chỉ mới dừng lại ở kiến thức văn học.Trong hướng dẫn học bài của ba bài trên có vài câu hỏi thể hiện sự liên hệ, mở rộng .Chẳng hạn, trong hướng dẫn học bài của bài “Kính gửi cụ Nguyễn Du”(trang 161) có câu hỏi số 4 như sau: “Phân tích và bình luận những câu thơ sau: Tiếng thơ ai động đất trời/ Nghe như non nước vọng lời ngàn thu/ Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du/ Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày. Anh(chị) có biết, trước bài thơ này đã có những lời đánh giá và ca ngợi nào rất đích đáng về Nguyễn Du? Sự đánh giá của Tố Hữu trong những câu thơ trên có gì sâu sắc và mới mẻ.” Hoặc câu hỏi số 2 (trang 161): “Trong đoạn thơ từ câu 2 đến câu 8, tác giả bày tỏ sự thông cảm với cảnh ngộ và số phận của Thuý Kiều hay của Nguyễn Du? Liên hệ với Truyện Kiều, cuộc đời Nguyễn Du và thời đại để tìm hiểu và giải thích những câu thơ ấy”. Tuy cũng đã có những câu hỏi hướng dẫn học bài có sự liên hệ với thời đại, với hoàn cảnh lịch sử, với bài thơ, bài văn khác cùng nói về một vấn đề nhưng rất hạn hữu chứ không mang tính thường xuyên. Còn việc kết hợp dạy học giữa ba phân môn Văn- Tiếng Việt- Làm văn chưa được chú ý đến. Chính vì vậy mà giữa ba phân môn ít có sự liên hệ, hỗ trợ lẫn nhau. 3.1.2. Sách giáo khoa mới Ngữ văn Gồm hai bộ sách. Thơ Tố Hữu được học ở lớp 11 và lớp 12. Bộ 1: Do GS.Trần Đình Sử tổng chủ biên: - Lớp 11 (tập 2)- Ban KHXH&NV, bài Nhớ đồng- 1 tiết. - Lớp 12 (tập 1)- Ban KHTN, bài Việt Bắc (trích)- 2 tiết; và một bài đọc thêm bắt buộc Bác ơi. Bộ 2: Do GS.Phan Trọng Luận tổng chủ biên: - Lớp 11 (tập2)- Ban KHXH&NV, bài Từ ấy- 1 tiết. 11 - Lớp 12: Việt Bắc (trích)- 2 tiết, Bác ơi (đọc thêm). Là một tác giả lớn, tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Tố Hữu có rất nhiều bài thơ hay, rất xứng đáng được dạy được học trong nhà trường phổ thông. Các nhà biên soạn chương trình SGK đã có sự lựa chọn kĩ càng, hợp lí trong việc đưa những bài nào vào chương trình và phân bố dạy ở những lớp nào cho phù hợp. Chẳng hạn việc chọn bài “Từ ấy” thể hiện sự chọn lựa tinh tế, sáng suốt. Từ ấy là một bài thơ hay trong tập thơ đầu tay của Tố Hữu. Bài thơ là lời tâm nguyện của một người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng Cách mạng; thể hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt của Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng. Lúc đó, chàng thanh niên Tố Hữu cũng chỉ mới 18 tuổi, khoảng tầm tuổi của các em học sinh THPT bây giờ. Trước kia, bài thơ này được học ở lớp 8- SGK cải cách PTCS. Với HS ở lớp 8, đang ở lứa tuổi thiếu niên, việc hiểu vấn đề lí tưởng, việc lựa chọn con đường đi đúng đắn được đặt ra trong bài thơ một cách cặn kẽ, thấu đáo là điều còn hạn chế. Hiện nay, chọn bài này để giảng dạy ở lớp 11 là rất phù hợp bởi bài thơ có ý nghĩa giáo dục lớn, giáo dục cho các em thanh niên ở lứa tuổi này bài học đúng đắn về lí tưởng, về lẽ sống là điều hết sức cần thiết, nhất là trong xã hội hiện tại có nhiều cám dỗ, nhiều cạm bẫy. Đã có không ít em ở lứa tuổi này đi lệch hướng, sai đường, hoặc cảm thấy bế tắc, chán nản. Không những thế, bài thơ Từ ấy còn là bài thơ đẹp về những hình ảnh tươi sáng, rực rỡ, các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu. Ở SGK Ngữ văn mới bộ 2, có sự hướng dẫn HS học tập rất cụ thể, kĩ càng. Sau mỗi tên bài là các mục: Kết quả cần đạt (Ghi những điều cơ bản HS cần phải nắm được khi học tác phẩm), mục Tiểu dẫn (Giới thiệu về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm), mục Văn bản (Ghi văn bản mà HS sẽ được học), mục Chú thích (Giải thích những từ khó trong văn bản), mục Đọc- Hiểu (Đưa ra những câu hỏi hướng dẫn, định hướng HS tìm hiểu văn bản), mục Ghi nhớ (Ghi những ý chính về nội dung, nghệ thuật mà văn bản 12 chứa đựng), cuối cùng là mục Luyện tập (Giao các bài tập, các câu hỏi để HS thực hành sau khi học xong văn bản, tác phẩm .Ở mục này các tác giả chương trình luôn chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng viết văn cho HS gắn với những kiểu làm văn tương ứng trong chương trình hoặc những kiểu làm văn mà HS đã được học ở các lớp dưới . Ví dụ: “Trong ba khổ thơ của bài “Từ ấy”, chọn một khổ mà anh (chị) cho là hay nhất. Viết một đoạn văn thể hiện cảm nghĩ của mình về khổ thơ ấy) Cách đưa ra và sắp xếp các mục trong một văn bản; rồi những câu hỏi phần Đọc- Hiểu, phần Luyện tập đã thể hiện rõ tinh thần tích hợp. Học văn bản Văn học, HS có thể kết hợp được với phần Tiếng Việt và phần Làm văn một cách nhuần nhuyễn; học văn bản Văn học, HS tìm hiểu được cả về mặt lí luận văn học, văn học sử, hoặc có thể liên hệ, kết hợp với các môn học khác như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân ,… Cách học như vậy giúp HS hiểu văn bản một cách sâu sắc, cặn kẽ hơn và HS sẽ có cái nhìn liên môn, xuyên môn chứ không bó hẹp, khép kín trong phạm vi văn bản văn học như cách dạy học theo hướng cũ .Hướng dẫn học tập như SGK mới Ngữ văn cũng sẽ giúp HS có ý thức tự học, tự tìm hiểu và HS được đặt đúng vị trí của mình , HS là chủ thể tiếp nhận, chủ thể nhận thức, HS chủ động trong quá trình học tập và phát huy được sự sáng tạo của mình. Và có như vậy, HS mới có cơ hội để giải bày, để thể hiện những suy nghĩ, xúc cảm, cảm nhận của cá nhân về TPVC. 3.2. Khảo sát Bài soạn của giáo viên về thơ Tố Hữu được học trong chương trình THPT 3.2.1. Các bài soạn theo SGK hiện hành (Xem phụ lục số 1) Chúng tôi đã tham khảo rất nhiều giáo án và nhận thấy rằng: Phần lớn các giáo án soạn còn sơ sài, vẫn còn tồn tại nhiều câu hỏi tái hiện; số lượng câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi liên hệ, mở rộng rất ít được sử dụng, thậm chí ở một số giáo án không có loại câu hỏi này. Nhìn chung hệ thống 13 câu hỏi chưa được quan tâm chú ý đúng mức nên chất lượng bài soạn và tiết dạy học chưa cao. Giáo án của GV đôi khi giống như một bản đề cương để thầy thuyết giảng, truyền thụ những cái hay, cái đẹp của tác phẩm mà thầy tâm đắc chứ chưa thể hiện rõ được công việc làm của HS. Giáo án, bài dạy chưa có được sự kết hợp giữa các phân môn, bộ môn như yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp của SGK hiện hành. Vì vậy vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được tình trạng thầy diễn giảng, thầy cảm thụ hộ còn HS nghe và ghi chép theo. HS chưa thực sự có được những hoạt động bên trong một cách tích cực và sự tự ý thức, tìm tòi, chiếm lĩnh các đơn vị kiến thức ở các em còn hạn chế, sự sáng tạo ở HS hầu như rất hiếm. Những kiến thức các em lĩnh hội được phần lớn cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi của bài học, tiết học mà thiếu đi sự so sánh, liên hệ, mở rộng sang những vấn đề, những khía cạnh có liên quan. Có một số giáo án soạn rất dài và kĩ lưỡng, nhưng chủ yếu vẫn là phụ thuộc và trung thành một cách tuyệt đối vào SGV, sách bài soạn, chứ chưa có ý tưởng riêng của bản thân. Cũng có những giáo án thể hiện sự chuẩn bị công phu, những ý tưởng sáng tạo của GV và có những câu hỏi liên hệ, gắn kết với các vấn đề có liên quan đến đơn vị kiến thức bài học, nhưng số lượng giáo án này chiếm rất ít. Để minh chứng cho những điều nói trên, chúng tôi đưa ra hai giáo án của các GV Trường THPT Quảng Xương I và Trường THPT Quảng Xương II Tỉnh Thanh Hoá. 3.2.2. Các bài soạn SGK mới Ngữ văn theo hướng tích hợp. (Xem phụ lục số 2 ) Qua việc khảo sát giáo án của một số GV các trường THPT trên địa bàn Hà Nội được triển khai dạy thí điểm SGK mới Ngữ văn theo hướng tích hợp, chúng tôi nhận thấy phần lớn các GV vẫn đang dạy theo cách cũ lâu nay: vẫn là dạy tác phẩm chỉ bó hẹp trong văn bản văn học; ít hướng dẫn cho HS thói quen, kĩ năng liên hệ, mở rộng sang những vấn đề có liên 14 quan. Có những tiết dạy GV vẫn còn thuyết giảng nhiều, dẫn đến tình trạng HS ít được làm việc, ít có cơ hội được bày tỏ chính kiến của bản thân; những kiến thức ngoài văn bản, những cách hiểu riêng của cá nhân các em ít được GV quan tâm tới. Chúng tôi có phỏng vấn một số GV và nhận được những câu trả lời đại loại tương tự như nhau rằng : “Tích hợp là một vấn đề mới, cách dạy học theo hướng tích hợp sẽ mang lại kết quả tốt hơn nhưng cũng khó hơn, chúng tôi nghĩ cần phải có thời gian để GV và HS thích nghi dần dần” hoặc: “Tôi nghĩ, đây mới chỉ là SGK thí điểm, chưa phải là chương trình để triển khai dạy chính thức trong toàn quốc, sẽ còn đang có sự thay đổi, chỉnh sửa, nên ngại đầu tư thời gian và công sức vào việc soạn giáo án kĩ lưỡng, công phu” v...v... Chính vì những lý do như vậy mà họ chưa có sự đầu tư cần thiết cho việc soạn bài cũng như việc tìm tòi, tham khảo các tài liệu về dạy học tích hợp. Một số ít GV đã bước đầu ý thức được việc dạy học, soạn bài theo tinh thần tích hợp nhưng mới chỉ dừng lại ở chỗ chủ yếu soạn theo những gì sách GV đã gợi ý chứ chưa có sự tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo của bản thân và nhiều khi sự tích hợp mà họ thể hiện trong giáo án của mình có chỗ cũng chưa được rõ ràng, sâu sắc, đang còn gượng ép hoặc chung chung và hời hợt. Hơn nữa, hệ thống câu hỏi để dẫn dắt, khơi gợi, định hướng cho HS chưa được quan tâm nhiều. Tuy vậy, nhưng chúng tôi thiết nghĩ đó đã là một bước khởi đầu đáng ghi nhận dù rằng nó mới chỉ dừng lại ở một mức độ rất khiêm tốn. Bởi dạy và học theo hướng tích hợp còn rất lạ lẫm, rất mới mẻ đối với GV và HS phổ thông. Chúng ta cũng cần phải cho họ thêm thời gian và cần kiên trì chờ đợi sự làm quen, sự thích nghi dần dần của họ. Nhìn chung, chúng tôi đã khảo sát rất nhiều giáo án của các GV. nhưng trong khuôn khổ đề tài một luận văn, chúng tôi không thể đưa vào tất cả các giáo án đó. Chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân loại các giáo án 15 và đưa vào luận văn những giáo án tiêu biểu nhằm đem tới một cách nhìn chung nhất, tiện cho việc đánh giá và kiến giải vấn đề. 4. Phân tích những hạn chế của việc dạy học tách biệt các phân môn thuộc môn Ngữ văn. Sau khi tiến hành khảo sát hai cách dạy học: tách biệt và tích hợp, chúng tôi nhận thấy rõ ràng là dạy học theo hướng tích hợp nếu thực hiện tốt sẽ chiếm ưu thế hơn nhiều bởi nó chứa đựng nhiều mặt tích cực mà ở dạy học cũ- dạy học tách biệt các phân môn không có được. Bên cạnh đó, dạy học theo hướng tách biệt bộc lộ nhiều hạn chế, cụ thể là: 4.1. Dạy học tách biệt các phân môn sẽ dẫn đến việc GV và HS thiếu ý thức gắn kết các phần khác của chương trình Bắt đầu từ năm học 2002-2003 SGK mới Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp được thực hiện trong toàn quốc, còn THPT đến nay vẫn dạy học theo hướng tách biệt các phân môn (trừ lớp 10 và lớp 11 của một số ít trường đã dạy thí điểm chương trình SGK Ngữ văn theo hướng tích hợp). Cách dạy tách biệt này tồn tại trong một thời gian rất dài nên nó đã ăn sâu, cắm rễ trong xu hướng dạy học của chúng ta. Lâu nay chúng ta vẫn rất quen với cách dạy khu biệt Văn ra Văn, Tiếng Việt ra Tiếng Việt, Làm văn lại càng tách riêng lẻ. Và ngay trong từng phân môn, GV cũng hầu hết là dạy bài nào biết bài nấy mà thiếu đi sự liên hệ, so sánh, gắn kết với các bài khác, phần khác. Chính vì vậy mà kiến thức HS thu nhận được cũng rời rạc, lẻ tẻ thiếu hẳn đi tính hệ thống, toàn diện, tổng thể . Thực chất ba phân môn này có sự liên hệ, gắn kết chặt chẽ, hoà trộn vào nhau. Chỉ có điều ít GV ý thức được điều đó. Nếu dạy văn mà chúng ta có ý thức ôn lại, củng cố lại kiến thức Tiếng Việt hoặc Tập làm văn cho HS thì HS sẽ nắm được kỹ hơn, hiểu sâu hơn những phần lí thuyết đã học về các phân môn .Và nếu dạy Tiếng Việt, Làm văn mà chúng ta biết lấy ngữ liệu, lấy ví dụ từ TPVH thì tốt biết mấy. Chẳng hạn khi dạy Tiếng Việt về từ láy , chúng ta có thể lấy ngữ liệu từ những TPVH , ví dụ bài Lượm của 16 Tố Hữu có nhiều từ láy: loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh ; bài Việt Bắc cũng có nhiều từ láy như: thiết tha, tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn, rầm rập, điệp điệp, trùng trùng,…Hoặc dạy về các biện pháp tu từ như so sánh ví von, ẩn dụ, hoán dụ, điệp từ…thì TPVH cung cấp cho ta rất nhiều ngữ liệu để ta khai thác. Ví dụ bài Từ ấy có các hình ảnh ẩn dụ : nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim …, rồi điệp từ để (Để tình trang trải với trăm nơi/ Để hồn tôi với bao hồn khổ) , điệp từ là (Là con của vạn nhà/ Là em của vạn kiếp/ Là anh của vạn đầu em nhỏ) . Ở bài Việt Bắc có điệp từ nhớ, hình ảnh hoán dụ áo chàm …Khi dạy các bài thơ này, GV cần hướng dẫn HS khai thác tầng sâu của ngôn từ, cắt nghĩa những ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, điệp từ đó để HS nắm bắt được ý nghĩa sâu xa, tiềm ẩn mà văn bản hàm chứa. Dạy kết hợp ba phân môn như vậy, chúng ta vừa củng cố được kiến thức Tiếng Việt cho HS, HS lại vừa có cơ hội đào sâu và nắm bắt TPVH.Và đến khi làm bài Tập làm văn, các em sẽ vững vàng hơn trong việc phân tích từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt, bài làm sẽ có chiều sâu hơn. Việc chúng ta cung cấp cho HS một hệ thống tri thức khá đầy đủ về lí thuyết ngôn ngữ, lí thuyết làm văn, tri thức văn học mà thiếu đi sự gắn kết giữa chúng thì tri thức mà HS nắm được chỉ đơn thuần là những mảng tri thức rời rạc. Các em chưa nhìn thấy được sự liên hệ phối hợp kiến thức khi vận dụng vào một tình huống trong thực tiễn ; không biết lấy kiến thức, kĩ năng của các phân môn để soi sáng cho nhau. Cách dạy như vậy dẫn tới hạn chế tư duy người học chỉ phát triển theo kiểu suy luận khép kín. Đó là hiện tượng khi dạy học một tác phẩm trữ tình, HS đã được GV hướng dẫn cách đọc, nghe GV phân tích các chi tiết, các hình ảnh, phân tích nhân vật trữ tình… nhưng đến khi học làm văn kiểu bài phân tích tác phẩm, phân tích nhân vật, HS lại vẫn lúng túng. Hoặc khi học một bài thơ hay, GV bỏ qua, lướt qua những từ ngữ quan trọng, những biện pháp tu từ mà tác giả sử dụng với đầy dụng ý nghệ thuật thì đến khi làm văn cũng về chính bài thơ 17 ấy HS sẽ phân tích một cách qua loa, hời hợt, chung chung chứ không có cái nhìn nhận sâu sắc, không có những phát hiện độc đáo, không có được sự liên hệ sát thực, sắc sảo trong bài làm của mình vì các em đâu được rèn luyện thói quen tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp và việc phân tích, cắt nghĩa cặn kẽ những ngôn từ nghệ thuật. Đó là một thực tế đáng lo ngại cho cách dạy, cách học của chúng ta lâu nay theo nếp cũ . Một điều đáng nói nữa là đa số GV quan niệm rằng việc liên hệ, mở rộng kiến thức không phải là điều cơ bản nên không cần thiết lắm, miễn làm sao trong 45 phút trên lớp dạy bài nào cứ cung cấp đủ kiến thức của bài ấy cho HS là được, nếu còn thời gian thì mới có thể mở rộng, liên hệ . Có nhiều GV dạy Tiếng Việt, dành gần trọn thời gian để giảng lí thuyết mà không thấy dẫn chứng, minh hoạ ; hoặc nếu có minh hoạ thì cũng chỉ làm động tác nhắc đi nhắc lại các ví dụ trong SGK Tiếng Việt chứ chưa có ý thức cho HS lấy thêm dẫn chứng từ những TPVH mà các em đã được học để khắc sâu, mở rộng làm phong phú thêm vốn kiến thức cho HS . Lại cũng có những GV dạy văn học mà chỉ thấy phân tích các ý, diễn nôm tác phẩm chứ không chú ý đến việc khai thác, cắt nghĩa ngôn từ, hình tượng nghệ thuật . Chính vì thế mà việc hiểu và cảm nhận TPVH của HS phần nào cũng bị hạn chế . Một điều đáng nói nữa là, do ba phân môn tồn tại độc lập nên việc sắp xếp chương trình cũng có nhiều bất cập. Việc sắp xếp chương trình dạy xen kẽ giữa ba phân môn có khoa học đến mức độ nào cũng không làm sao thể hiện hết khả năng liên kết chặt chẽ vốn có của nó. Một tình trạng phổ biến là GV thường dạy phân môn văn hàng loạt rồi sang Tiếng Việt, sang Làm văn. Bởi họ nghĩ rằng dạy như vậy cũng không ảnh hưởng gì, miễn là hết tuần, hết học kì, hết năm học hoàn thành được chương trình là ổn . Cách dạy ấy dẫn đến kiến thức HS tiếp thu được có phần nghèo nàn, kém đi sự liên tưởng và HS không có đầu óc tổng hợp bởi kiến thức các em thu nhận được là những mảng tách rời biệt lập . 18 Như vậy, việc dạy học tách biệt các phân môn, bộ môn tồn tại trong hệ thống giáo dục nước ta qua một thời gian khá dài đã vô tình tạo cho cả GV và HS thiếu ý thức gắn kết các phân môn với nhau cũng như việc gắn kết khâu dạy học TPVH với các phần khác của chương trình . 4.2. Dạy học tách biệt các phân môn dẫn đến tình trạng trùng lặp, dư thừa kiến thức Một điều chúng ta dễ nhận thấy là chương trình đào tạo phổ thông rất chú trọng đến việc cung cấp hệ thống nội dung tri thức cho HS . Đó là điều tốt, nhưng đôi khi vì quá cẩn trọng nên tạo ra những dư thừa kiến thức không cần thiết . Những tác giả văn học như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hồ Chí Minh,…đã được nói đến rất nhiều và rất kĩ trong môn lịch sử nhưng trong chương trình văn học, nhưng khi dạy học những tác phẩm của các tác giả này chúng ta lại nhắc lại nhiều về tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp… của họ, và có nhiều GV lại dành cho mục này một lượng thời gian quá mức cần thiết gây lãng phí. hoặc chương trình Tập làm văn lớp 8 cũ đã trình bày khá chi tiết, đầy đủ về lí thuyết kiểu bài phân tích nhân vật, kiểu bài viết biên bản, nhưng sang chương trình cấp III lại lặp lại những kiến thức đó. Đó là hiện tượng trùng lặp kiến thức ở các phân môn giữa hai cấp. Việc lặp lại này khiến mất nhiều thời gian trong đào tạo. Nếu thời gian đó mà dành cho HS học những đơn vị kiến thức mới, hay luyện tập những kiến thức đã học hoặc cho HS mở rộng tìm hiểu thêm các tác phẩm khác để mở rộng vốn kiến thức và tầm nhìn cho các em sẽ thiết thực hơn rất nhiều. Có như vậy mới tạo cho HS động lực, thói quen đọc thêm tài liệu, các em có ý thức tự học, tự tìm hiểu thêm đồng thời cũng tránh được hiện tượng chủ quan, nhàm chán ở các em. Bởi có những HS trong một số giờ học tỏ ra lơi là, không chú tâm hoặc thậm chí làm việc riêng, khi được hỏi “ Tại sao?” thì các em đều có câu trả lời na ná như nhau: “Cái này đã được học kĩ rồi lại học lại, có gì khó đâu mà phải suy nghĩ, tìm hiểu ạ”. Chính vì có tình trạng trùng lặp, dư thừa kiến thức nên trong quá trình giảng dạy, vô tình tạo ra tình thế bắt buộc giáo viên phải làm động tác lặp di 19 lặp lại những kiến thức là điều không thể tránh khỏi. Bởi có khi biết là việc nhắc đi nhắc lại một đơn vị kiến thức nào đấy là không cần thiết, mất thời gian nhưng giáo viên cũng không giám tự tiện cắt bỏ chương trình. 4.3. Dạy học tách biệt các phân môn dẫn đến tình trạng GV và HS tiếp cận tác phẩm của Tố Hữu một cách phiến diện, thiếu cái nhìn tổng thể Bản thân TPVH là một chỉnh thể nghệ thuật, chất liệu làm nên TPVH là ngôn từ. Và trong bất cứ một TPVH nào tác giả cũng chú trọng đến việc diễn đạt, sắp sếp các chi tiết, diễn biến theo một trình tự nhất định với mục đích tác phẩm sẽ thể hiện được ý đồ sáng tác nghệ thuật của mình. Trong một tác phẩm văn học hàm chứa kiến thức của nhiều phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, kiến thức ngoài tác phẩm có liên quan, kiến thức của các bộ môn khác như lịch sử, địa lý, kiến thức về văn hoá- xã hội. Chính vì vậy mà khi dạy học TPVH nếu ta quá thiên lệch về một hướng tiếp cận nào đó hoặc chỉ bó hẹp nó trong khuôn khổ của kiến thức văn học là một việc làm phiến diện. Bên cạnh những hạn chế trên, hướng dạy học tách rời các phân môn thuộc môn Ngữ văn cũng có những ưu điểm nhất định mà chúng ta không thể không thừa nhận. SGK môn Văn- Tiếng Việt chương trình THPT sau nhiều lần cải cách, chỉnh lí đã mang lại nhiều sự thay đổi. Và hướng dạy học sách chỉnh lí đó là dạy cả ba phân môn theo hướng kết hợp, các kiến thức của từng phân môn liên hệ chặt chẽ hơn nhưng khi dạy vẫn dạy độc lập các phân môn. Cách dạy này mang lại nhiều thuận lợi cho GV khi lên lớp, GV có thể yên tâm dạy từng phân môn riêng biệt và dễ dàng hơn trong việc cung cấp cho HS đầy đủ, hệ thống tri thức theo yêu cầu của từng phân môn đặt ra. Nói về vấn đề này, TS. Đỗ Ngọc Thống đã khách quan đưa ra nhận định: “Dạy học theo hướng kết hợp có ưu điểm là đảm bảo được tính độc lập của phân môn, đáp ứng và giải quyết được nhiều vấn đề do phân môn khoa học tương ứng đặt ra. Ví dụ, với tư cách một phân môn độc lập, Tiếng Việt sẽ 20
- Xem thêm -