Dạy học tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường phổ thông

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 230 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN -------- DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG GVHD: TRẦN ĐÌNH THÍCH SVTH: HUỲNH BỬU HIỆP MSSV: 6075341 LỚP: SƯ PHẠM NGỮ VĂN 01 – K33 CẦN THƠ, 2011 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích, yêu cầu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Vị trí và tác dụng của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông 1.1.1. Vị trí của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông 1.1.2. Tác dụng của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông 1.2. Cấu trúc chương trình 1.2.1. Giới thiệu chương trình 1.2.2. Nguyên tắc biên soạn 1.3. Nội dung và thể loại của văn học dân gian trong sách giáo khoa 1.3.1. Nội dung 1.3.2. Thể loại CHƯƠNG HAI: DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1. Cơ sở lí luận dạy học văn học dân gian 2.2. Nguyên tắc dạy học văn học dân gian 2.2.1. Dạy học văn học dân gian nhằm bồi dưỡng kiến thức về tâm hồn dân tộc 2.2.2. Dạy học văn học dân gian phải biết nắm bắt tâm lí lứa tuổi học sinh 2.2.3. Dạy học văn học dân gian nhằm tái hiện lại bầu không khí cổ xưa 2.2.4. Dạy học văn học dân gian kết hợp chính khóa với ngoại khóa 2.3. Phương pháp dạy học văn học dân gian 2.3.1. Dạy học văn học dân gian gắn với phương pháp phân tích theo đặc trưng thể loại 2.3.2. Dạy học văn học dân gian gắn với phương pháp so sánh loại hình 2.3.3. Dạy học văn học dân gian gắn với phương pháp ứng dụng khoa học liên ngành 2.3.4. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học văn KẾT LUẬN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ bấy lâu nay, việc dạy và học Ngữ Văn trong nhà trường đã trở thành mối quan tâm không nhỏ đối với ngành giáo dục cũng như toàn xã hội vì nâng cao chất lượng dạy và học là mục tiêu không chỉ được Đảng và Nhà nước chú trọng và xem là quốc sách mà đó còn là mối quan tâm của toàn xã hội nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đứng trước thực trạng dạy và học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông hiện nay, có lẽ vấn đề cần được quan tâm nhất đó chính là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học văn trong mối tương quan giữa thầy và trò. Một bộ phận HS hiện nay có suy nghĩ sợ học văn và chán học văn. Đó có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau: Thứ nhất, ở thời đại công nghệ thông tin đang phát triển rầm rộ như hiện nay, việc tiếp thu tin tức từ báo đài, internet đã làm cho HS cảm thấy văn không cần phải học nhiều, chỉ cần lên ngồi máy tính, với vài cú nhấp chuột thì mọi việc khó dễ trước đó cũng trở nên dễ dàng với “ tràng giang đại hải ” kết quả tìm được. HS tha hồ thu thập “kết quả ma” cho những bài tập hay câu hỏi mà GV yêu cầu tìm hiểu ở nhà. Điều đó dẫn đến việc HS lười tư duy. Vì vậy, HS cảm thấy giờ học văn cứng nhắc và buồn tẻ. Thứ hai, việc sử dụng phương pháp dạy học của một bộ phận GV hiện nay vẫn còn theo lối “thầy đọc, trò viết”. Nhiều GV biến giờ học thành giờ “tập viết” khiến cho HS cảm thấy mệt mỏi và không có sự tìm hiểu, nói gì đến tiếp thu những vấn đề mà bài học mang lại. Rõ ràng, người GV ấy chưa có sự cải tiến về phương pháp nhằm tăng thêm tính chủ động của HS. Có thể nói, việc cải tiến phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học Ngữ Văn nói riêng đã và đang được ngành giáo dục đặc biệt quan tâm. Vì, khi HS tìm được hứng thú trong học tập thì kết quả học văn cũng ngày càng được nâng lên một bước đáng kể. Trong nội dung SGK Ngữ Văn các cấp, VHDG là một bộ phận không thể bỏ qua khi đưa vào công tác dạy và học trong nhà trường. Bởi, đây là một bộ phận của nền văn học dân tộc đã được đúc kết từ ngàn xưa, nó thể hiện được sự nhận thức, trình độ phát triển và đúc kết kinh nghiệm sống của ông cha ta truyền lại cho các thế hệ sau. Vậy, những giá trị văn hóa tinh thần ấy sẽ được giới trẻ ngày nay tiếp thu và phát huy như thế nào khi cuộc sống đang ngày càng phát triển, con người càng tất bật và bộn bề lo toan trong cuộc mưu sinh? HS dường như chỉ nhìn vào những gì đang diễn ra mà ít quan tâm đến những giá trị và bài học, kinh nghiệm quý báu mà VHDG mang lại. Xuất phát từ những trăn trở về việc tiếp nhận tác phẩm VHDG trong nhà trường phổ thông của HS hiện nay, chúng tôi đã cùng nhau đi vào tìm hiểu phương pháp dạy và học các tác phẩm VHDG trong nhà trường với đề tài: “Dạy học tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông”. Hy vọng với đề tài này, chúng tôi sẽ có những đóng góp mới và tích cực hơn trong công tác giảng dạy VHDG của các trường THPT hiện nay. 2. Lịch sử vấn đề “Dạy học tác phẩm VHDG” là một đề tài không mới vì nó đã được nghiên cứu bởi nhiều nhà nghiên cứu văn học, các GV và các sinh viên chuyên nghành sư phạm Ngữ Văn trong cả nước. Chúng tôi xin điểm lại một số công trình tiêu biểu cho việc dạy học Ngữ Văn nói chung và dạy học tác phẩm VHDG nói riêng. - Hoàng Tiến Tựu trong quyển Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian, NXBGD, năm 1997, đã tập trung đưa ra những vấn đề có liên quan đến việc giảng dạy VHDG. Công trình này gồm bảy chương, trong đó ba chương đầu bàn về những lí luận chung, chương tiếp theo dành riêng cho việc nghiên cứu và giảng dạy ca dao, một chương bàn về tục ngữ, một chương viết về truyện dân gian. Đây là một tài liệu rất hữu ích trong việc phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu VHDG của GV và sinh viên ngành Ngữ Văn. - Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) với công trình nghiên cứu VHDG – những công trình nghiên cứu, NXBGD, năm 2003. Đây là công trình được tác giả tập hợp và chọn lọc trong rất nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề lí luận chung cũng như những vấn đề của từng loại đề tài, tác phẩm, nhân vật, cách tiếp cận tác phẩm VHDG. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng tập hợp một số bài phân tích tác phẩm cụ thể, chỉ ra hướng nghiên cứu truyện theo tuýp và môtíp để giúp GV và HS khai thác giá trị của tác phẩm VHDG theo đặc trưng thể loại. Ngoài ra, tác giả Bùi Mạnh Nhị còn có quyển Phân tích tác phẩm văn học dân gian cũng đã bàn đến thể loại và tác phẩm của VHDG cũng như phương pháp phân tiếp cận và phân tích VHDG để giúp GV và HS khai thác đúng giá trị các của VHDG mang lại. Đây là những định hướng cơ bản để giúp người dạy định hướng và chọn được phương pháp giảng dạy thích hợp với thể loại qua những bài cụ thể. - Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh (chủ biên) – NXBGD, năm 1996 là một công trình nghiên cứu rất nhiều về kiến thức văn hóa dân gian, VHDG. Đây là một trong những công trình nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn đối với công việc nghiên cứu VHDG và đối với GV, sinh viên ngành Ngữ Văn. - Nguyễn Viết Chữ với quyển Giảng dạy tác phẩm theo đặc trưng thể loại – NXB ĐHSP, năm 2006 cũng đã trình bày cách phân biệt “chất” trong “thể” và đưa ra các biện pháp dạy học theo đặc trưng của từng thể loại. Mặt khác, quyển sách còn hệ thống các phương pháp, biện pháp, câu hỏi, các cách thức, chiến thuật, … nhằm góp thêm tiếng nói về việc vận dụng các phương pháp dạy học tác phẩm vào các thể loại cụ thể trong nhà trường. - Nguyễn Xuân Lạc qua quyển Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường – NXBGD, năm 1988 cũng có một đóng góp không nhỏ trong việc giúp GV và HS trong việc tìm hiểu về VHDG. Đây là một công trình nghiên cứu rất cần thiết cho GV dạy văn tại các trường hiện nay bởi nó mang tính thiết thực rất cao. Trong đó, tác giả đề cập đến phương pháp dạy học VHDG theo thi pháp thể loại. Quyển sách bao gồm ba phần chính và phần phụ lục. Ở phần I (tiểu luận), tác giả nhìn nhận VHDG trong tổng thể văn hóa dân gian Việt Nam, trong nền văn học dân tộc và trong chương trình văn học ở trường phổ thông. Dựa trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đề xuất cách tiếp cận và phương pháp dạy học theo quan điểm thi pháp học về những thể loại chủ yếu được dùng trong nhà trường phổ thông. Phần II (bình giảng tác phẩm) gồm một số bài phân tích tác phẩm tiêu biểu được chọn lọc trong chương trình giảng dạy của cấp THCS và THPT theo quan điểm thi pháp học. Ở phần III, tác giả đã tập hợp những tư liệu có liên quan đến việc dạy và học VHDG, đặc biệt là câu lạc bộ VHDG và phần cuối cùng là phụ lục về VHDG. - Cùng học sinh khám phá qua mỗi giờ giảng văn của nhà giáo Đặng Thêm cũng là một quyển sách bàn đến phương pháp dạy học văn khá bổ ích. Dựa trên cơ cở của phương pháp dạy học truyền thống, tác giả đã đưa ra mô hình thiết kế bài học theo hướng cải tiến, bao gồm năm bước: giới thiệu bài mới, tổ chức đọc hiểu, tìm hiểu xuất xứ, đại ý, chủ đề, chia đoạn, tìm hiểu chi tiết, kết luận. - Phan Trọng Luận (chủ biên) với Phương pháp dạy học văn, NXBGD, năm 1996. Đây là công trình nghiên cứu rất có ích cho GV và sinh viên ngành sư phạm Ngữ Văn bởi quyển sách đã trình bày những phương pháp dạy học theo hướng đổi mới: Dạy học văn để làm gì?, Dạy học văn như thế nào?,… Quyển sách này được nhóm tác giả trình bày theo hai phần lớn: Phần I gồm những vấn đề mang tính lí luận chung về phương pháp dạy học, phần II đi vào các vấn đề cụ thể của các phân môn như: giảng văn, làm văn, lí luận văn học. Mặt khác, ở phần phụ lục, tác giả còn đi vào các phương pháp dạy học cụ thể một bộ phận văn học như: giảng dạy tác phẩm VHDG theo loại thể, giảng dạy văn học nước ngoài, tổ chức các hoạt động trọng giờ dạy văn, …. - Trong quá trình nghiên cứu ca dao, Nguyễn Xuân Kính cũng đã bàn về Thi pháp ca dao – NXB KHXH, năm 1992 . Quyển sách trình bày rất rõ những đặc trưng nghệ thuật của ca dao theo từng yếu tố, từng cấp độ của thi pháp học: kết cấu, thể thơ, ngôn ngữ, thời gian, không gian, một số biểu tượng trong ca dao,... Đặc biệt, ở chương cuối, tác giả đã chọn một số bài ca dao tiêu biểu để làm sáng rõ vấn đề lí thuyết ở các phần trên. - Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học môn văn – tiếng Việt với đề tài Dạy và học văn học dân gian ở một số trường THPT tỉnh An Giang – Thực trạng và giải pháp, năm 2009 của Quách Thị Mỹ Linh cũng đã được tác giả bàn rất kĩ và rất sâu về thực trạng dạy học văn tại một số trường THPT của tỉnh An Giang. Đồng thời, tác giả cũng đã dựa trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và phân tích thực tế việc giảng dạy và học tập VHDG hiện nay. Từ đó, tác giả đưa ra một số giáo án thiết kế và thực nghiệm rất có ích cho việc ứng dụng vào thực tế giảng dạy VHDG hiện nay. - Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học môn văn – tiếng Việt với đề tài Dạy học tác phẩm văn học dân gian tại trường THPT thành phố Cần Thơ, năm 2009 của Võ Đoàn Thúy Hảo. Trong phần nghiên cứu của mình, tác giả cũng đã nêu được thực trạng dạy và học văn hiện nay tại các trường THPT của thành phố Cần Thơ. Đồng thời, tác giả cũng đã nêu ra được một số giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy học VHDG trong các trường phổ thông hiện nay. Theo tác giả, ngoài việc đổi mới chương trình SGK Ngữ Văn thì dạy học tác phẩm VHDG cũng cần phải chú ý đến tâm lí lứa tuổi, kết hợp chính khóa – ngoại khóa, …. Đây có thể xem là một công trình tìm hiểu có ý nghĩa trong hoạt động thực tiễn và rất có ích cho GV, sinh viên ngành sư phạm Ngữ Văn. 3. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là: - Nghiên cứu các vấn đề về lí thuyết của việc giảng dạy và học tập tác phẩm VHDG trong nhà trường THPT. - Đề ra những giải pháp thích hợp, thiết kế giáo án thực nghiệm để từ đó rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy VHDG sau này. 4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ khảo sát nội dung phần VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 (cơ bản) hiện hành. Theo đó, phạm vi nghiên cứu luận văn sẽ được gói gọn trong nội dung tác phẩm được trích giảng. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Đây có thể được xem là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu của mọi vấn đề. Ở đây, người viết đã thu thập các tài liệu có liên quan đến luận văn, chọn lọc và ghi nhận những nội dung cần thiết để làm cơ sở dữ liệu cho luận văn. - Phương pháp tổng hợp: Sau khi thu thập tài liệu, người viết đã chọn lọc và tổng hợp lại những nội dung hay, thiết thực. Theo đó, nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo hướng tổng hợp vấn đề. NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT : VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Vị trí và tác dụng của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông 1.1.1. Vị trí của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông VHDG là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, tồn tại và phát triển qua các thời kì lịch sử cho tới ngày nay. VHDG nằm trong tổng thể văn hóa dân gian, là một bộ phận của sáng tác dân gian. Tồn tại dưới ngàn năm lịch sử, VHDG đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền văn học dân tộc. Đó là kết tinh những tình cảm, thẩm mĩ, trí tuệ, ngôn ngữ, địa lí,… của ông cha ta. Chính điều này đã giúp VHDG tạo nên một vị trí không nhỏ trong đời sống văn học dân tộc và trong văn học dùng trong nhà trường. Việc đưa VHDG vào giảng dạy trong nhà trường đã được thực hiện từ lâu và ở nhiều bậc học. Trong chương trình từ cấp Tiểu học đến bậc THPT đều có một bộ phận của VHDG, mỗi cấp tương ứng với một trình độ nhất định. Ở cấp Tiểu học, HS được biết đến VHDG thông qua phân môn kể chuyện và tập đọc. Đến cấp THCS thì VHDG được HS tiếp nhận ở phân môn giảng văn và hướng dẫn đọc thêm. Thế nhưng, việc tiếp thu của HS còn thấp nên VHDG chỉ được biết đến thông qua một số thể loại ngắn gọn, dễ hiểu như ca dao, tục ngữ, câu đố,... Bước sang bậc THPT thì VHDG được xếp thành một chương, được bắt đầu bằng một bài khái quát, tiếp theo đó là các thể loại của VHDG được HS tiếp nhận thông qua các bài đọc văn chọn lọc từ kho VHDG. Có thể nói rằng, VHDG trong nhà trường THPT đã đảm bảo đầy đủ các thể loại của VHDG. Trong các phân môn của SGK Ngữ Văn THPT thì giảng văn chiếm một vị trí quan trọng với hơn 50% là các bài giảng về các thể loại văn học ở nhiều giai đoạn. Bởi thế, VHDG cũng chiếm một số lượng đáng kể trong nhà trường THPT. 1.1.2. Tác dụng của văn học dân gian trong nhà trường trung học phổ thông VHDG không chỉ là một bộ phận của văn hóa dân gian mà còn là một bộ phận của văn học. Nó chính là kho tàng tri thức vô giá, là những nét truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Có thể nói, văn hóa dân gian nói chung và VHDG nói riêng chính là nơi đã giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào về những giá trị tinh thần cao quý mà cha ông đã để lại. Do đó, VHDG có tác dụng tác dụng rất lớn ở cả hai mặt giáo dục và giáo dưỡng. Chính vì lẽ đó, khi nói đến VHDG, ta nhận ra đó là một nguồn tri thức dân gian vô cùng phong phú, đầy đủ về thể loại, đa dạng về màu sắc. Đây là sự tổng hợp những hiểu biết cuả con người về cuộc sống và thiên nhiên, là những kinh nghiệm sản xuất, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, quan hệ họ hàng, làng nước, tình yêu lứa đôi,... VHDG đã có một tác dụng to lớn trong việc bồi đắp và giáo dục tâm hồn thế hệ trẻ: - “Con người có tổ, có tông Như cây có cội, như sông có nguồn. ” - “Ngày nào em bé cỏn con Bây giờ em đã lớn khôn thế này Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao.” - “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ Đêm năm canh chầy, mẹ thức đủ vừa năm.” Cuộc sống hiện đại ngày càng xô bồ, con người dường như chỉ hòa mình vào con đường mưu sinh. Những nếp sinh hoạt truyền thống ngày xưa được thay thế bằng những phương tiện hiện đại, tối tân. Nhịp sống càng nhộn nhịp và tất bật hơn, tiếng hát ầu ơ năm nào mẹ hát giờ đây chỉ là dĩ vãng, bởi những thứ âm nhạc hiện đại cất lên từ giọng ca của một ca sĩ nào đó cũng có thể làm bé ngủ say. Thế nhưng, đằng sau những dòng âm nhạc đó thì trẻ thơ sẽ cảm nhận được gì? Phải chăng đó chỉ là thứ âm thanh để bé đi vào giấc ngủ. Dường như ta nhận ra tất cả chỉ có tác dụng “thôi miên” để bé có thể đi sâu vào giấc ngủ. Đó là tình trạng chung của cuộc sống người dân thành thị. Nếu như được sinh ra ở vùng nông thôn thì tiếng ru là một thứ âm nhạc kì diệu ru bé ngủ say và tác động vào trí não của trẻ, giúp trẻ thơ cảm nhận được những tình yêu thiết tha mà bà và mẹ đã truyền đạt cho chúng. VHDG xuất hiện đã tạo ra một tác dụng vô cùng to lớn, góp phần giáo dưỡng tâm hồn thế hệ trẻ. Việc dạy và học VHDG không chỉ dạy và học một thứ văn chương truyền miệng mà còn phải truyền đạt và tiếp nhận được những giá trị tinh thần cao quý mà ông cha ta đã để lại cho đời sau. Ông bà ta có câu: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”,… đó là những câu nói quen thuộc nhằm tạo ra tinh thần đoàn kết, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau. VHDG chứa đựng trong nó là một kho kinh nghiệm sống đầy quý báu. Sự xuất hiện của VHDG chính là sự xuất hiện của một nguồn tri thức dân gian phong phú và bổ ích, giúp con người hình thành và phát triển nhân cách, đạt đến “Chân, Thiện, Mỹ”. Từ tác dụng giáo dưỡng phong phú trên đây mà VHDG có tác dụng quan trọng đối với thế hệ trẻ trong nhà trường. Tác dụng ấy được thể hiện ở nhiều phương diện, nhưng chủ yếu và cốt lõi nhất là bồi đắp cho tâm hồn thế hệ trẻ. Nhà thơ Huy Cận đã từng nói rằng: “Bởi vì chính trong văn nghệ dân gian ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của bản sắc văn hóa dân tộc. Mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân tộc”. 1.2. Cấu trúc chương trình 1.2.1. Giới thiệu chương trình Có thể nói, VHDG chính là của cải, là tài sản mang giá trị tinh thần quý giá của dân tộc. Vậy, hiện nay bộ phận văn học này trong nhà trường đã được những nhà biên soạn sách nhìn nhận như thế nào? Những văn bản tác phẩm VHDG được trích để đưa vào giảng dạy liệu có phát huy được những tiềm năng vốn có của nó để đem lại hiệu quả thẩm mĩ và tính giáo dục cao hay không khi bộ phận VHDG chỉ là một phần rất nhỏ trong chương trình giảng dạy ở bậc THPT? Hơn nữa, trong xu thế hội nhập và phát triển như ngày nay, chúng ta phải làm gì để bảo tồn nền văn hóa dân tộc mà trong đó là bộ phận VHDG? Chúng ta phải làm sao để vừa hội nhập mà vẫn giữ được những bản sắc riêng của dân tộc? Nhìn chung về cấu trúc chương trình, phần VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 không có những thay đổi lớn so với SGK Văn học 10 trước khi đổi mới SGK. Sau bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam, các bài học vẫn được sắp xếp theo lịch sử thể loại: tự sự dân gian với sử thi “Đăm Săn”, truyền thuyết với Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, truyện cổ tích với Tấm Cám, truyện cười với Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày, truyện thơ với Tiễn dặn người yêu; trữ tình dân gian với ca dao : Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa, ca dao hài hước. Nếu như ở cấp THCS, HS đã được học các thể loại: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, ca dao, vè thì lên đến bậc THPT, HS lại được học thêm hai thể loại mới là sử thi và truyện thơ. Riêng đối với truyện cổ tích và ca dao thì HS được học kĩ hơn theo cách học đồng tâm với chương trình học ở các lớp dưới. THỂ LOẠI Sử thi TÊN BÀI DẠY SỐ TIẾT THEO PPCT - Khái quát văn học dân gian Việt Tiết Nam - Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Tiết 8,9 Săn – sử thi Tây Nguyên) Uy-lít-xơ trở về ( trích Ô-đi-xê – sử Tiết 14,15 thi Hi Lạp) Ra-ma buộc tội (trích Ra-ma-ya-na Tiết 17,18 – sử thi Ấn Độ) - Truyền thuyết - Truyện An Dương Vương và Mị Tiết 11,12 Châu – Trọng Thủy Truyện cổ tích - Tấm Cám Tiết 22, 23 Tiết 25 Truyện cười - Tam đại con gà Nhưng nó phải bằng hai mày - Đọc thêm: Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu – truyện thơ dân tộc Thái) - Ca dao than than, yêu thương tình Tiết 26, 27 nghĩa Truyện thơ Ca dao - Ca dao hài hước Tiết 29 - Ôn tập Văn học dân gian Việt Nam Tiết 1.2.2. Nguyên tắc biên soạn Bất kì một thể loại hay một tác phẩm nào khi đưa vào SGK đều được những nhà biên soạn lựa chọn thật kĩ lưỡng dựa trên những nguyên tắc chung. - Tính phổ thông: Đây là nguyên tắc đầu tiên có tính định hướng trong quá trình biên soạn SGK. Tùy theo từng thời kì lịch sử, trình độ dân trí của một dân tộc cũng có sự khác nhau. Vì thế mà mà SGK cũng cần có sự thay đổi sao cho phù hợp. Thế nhưng, sự thay đổi này chỉ có tính chất tương đối vì Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, hơn nữa trình độ dân trí của người dân cũng có những khác biệt giữa các vùng, miền. Xác định rõ trình độ dân trí cho việc biên soạn SGK là một việc làm tương đối khó khăn đối với một quốc gia có sự chênh lệch về trình độ dân trí giữa các dân tộc ở nước ta. Chính vì thế mà người biên soạn SGK sẽ xác định tính phổ thông dựa trên một dân tộc chủ thể chi phối đời sống chính trị, văn hóa, xã hội. Bên cạnh việc xác lập mặt bằng dân trí, người biên soạn SGK cũng cần phải lựa chọn tác phẩm đưa vào chương trình giảng dạy sao cho phù hợp với nhiều đối tượng HS, tránh lối học nặng nề và phải thể hiện rõ đặc trưng thể loại. SGK Ngữ Văn đang hiện hành đã thể hiện rất rõ vấn đề này bởi chúng ta thấy rằng các tác phẩm hoặc những đoạn trích được lựa chọn để đưa vào SGK là những tác phẩm, những đoạn trích tiêu biểu cho từng thể loại và có giá trị tư tưởng sâu sắc. Chẳng hạn, đối với thể loại sử thi, SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và SGK Ngữ Văn 10 đều đưa vào giảng dạy sử thi Đăm Săn, nhưng văn bản được trích giảng lại khác nhau. Nếu như SGK Văn học 10 chọn giảng trích đoạn Đi bắt nữ thần Mặt Trời thì SGK Ngữ Văn 10 lại chọn đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây. Vì chủ đề nổi bật của sử thi Đăm Săn là những cuộc chiến tranh mở đất và khẳng định vị trí, danh dự cộng đồng nên khi biên soạn SGK mới, những người biên soạn đã thay đổi vị trí đoạn trích để làm rõ được nội dung của sử thi Đăm Săn nói riêng và đặc trưng thể loại sử thi nói chung. Ngoài ra, ở thể loại truyện thơ, SGK Văn học 10 chọn giảng đoạn trích Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa (trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu). Vì đoạn trích này chỉ nói đến thân phận nhỏ bé, đáng thương của người phụ nữ dân tộc Thái mà chưa thể hiện một cách sâu sắc nội dung tư tưởng của truyện thơ nên SGK Ngữ Văn 10 đã thay thế đoạn trích Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa bằng đoạn trích Lời tiễn dặn để thể hiện được số phận đáng thương và nhỏ bé của người phụ nữ Thái, đông thời cũng thể hiện được tình cảm sâu sắc của chàng trai đối với cô gái qua những lời tiễn dặn hết sức tha thiết trên đường cô gái về nhà chồng. Còn ở truyện cổ tích, SGK Văn học 10 chọn hai tác phẩm tiêu biểu cho hai tiểu loại của truyện cổ tích là: Chử Đồng Tử (truyện cổ tích thần kì) và Làm theo vợ dặn (truyện cổ tích sinh hoạt), còn SGK Ngữ Văn 10 thì chỉ giữ lại hai tác phẩm Chữ Đồng Tử trong chương trình Nâng cao và thay Làm theo lời vợ dặn bằng truyện Tấm Cám. Cả hai truyện cổ tích đều thuộc thể loại loại truyện cổ tích thần kì. Theo đánh giá của đa số GV từng dạy SGK Văn học 10 thì truyện Làm theo vợ dặn dài dòng, khó dạy mà nội dung lại không sâu sắc. Hơn nữa, tác phẩm này lại chưa thể hiện được đặc trưng của thể loại truyện cổ tích. Còn truyện Tấm Cám được coi là một truyện hay, gần gũi, tiêu biểu cho thể loại truyện cổ tích vì nó phản ánh được sự xung đột giữa mẹ ghẻ và con chồng, mâu thuẫn giữa thiện và ác. Ngoài ra, truyện còn thể hiện được ước mơ của nhân dân về cuộc sống gia đình hạnh phúc, về lẽ công bằng xã hội, về những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người và khẳng định niềm tin vào điều chính nghĩa trong cuộc sống. - Tính thống nhất và liên thông: Bên cạnh tính phổ thông, phần VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 còn được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất và liên thông với chương trình SGK ở các lớp dưới. Chính vì vậy, SGK mới đã có mối liên hệ chặt chẽ hơn so với những bộ SGK trước đó. Nếu như ở bậc THCS, trình độ nhận thức của HS còn khá thấp nên những nhà biên soạn sách chỉ đưa vào SGK phần VHDG những tác phẩm cụ thể: lên đến bậc THPT, khả năng nhận thức của HS cao hơn và toàn diện hơn nên ngoài việc đưa vào những tác phẩm cụ thể, những nhà biên soạn đã đưa thêm vào SGK những kiến thức lí luận về VHDG qua bài Khái quát văn học dân gian Việt Nam. Phần lí thuyết đã giúp các em hiểu được khái niệm VHDG biết được những thể loại chủ yếu của VHDG Việt Nam, biết được những đặc trưng cơ bản của VHDG để khi tiếp nhận, các em sẽ có những phương pháp phù hợp với từng văn bản tiêu biểu của mỗi thể loại. Xét về mặt thể loại, ta thấy sự thống nhất rất lớn giữa chương trình và SGK bậc THCS với bậc THPT qua sự lặp lại các thể loại đã học ở lớp 6 và lớp 7 như: Ca dao, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, tục ngữ. Nói như thế không có nghĩa là SGK Ngữ Văn 10 chỉ trích giảng lại những thể loại đã học mà những nhà biên soạn sách còn đưa vào một số thể loại mới như sử thi, truyện thơ, sân khấu dân gian nhằm đảm bảo yêu cầu với trình độ phát triển tư duy của HS phổ thông và sự đa dạng về các thể loại. Mặc dù các thể loại trong VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 có sự lặp lại nhưng những văn bản được trích lọc lại không phải là những tác phẩm đã học mà là những tác phẩm hoàn toàn mới. Ngoài ra, yêu cầu kiến thức cho phần VHDG trong chương trình Ngữ Văn 10 có sự đòi hỏi sâu rộng hơn, vừa nối tiếp nhưng lại vừa nâng cao về tất cả các mặt so với chương trình bậc THCS. Chẳng hạn như tất cả những truyền thuyết các em được học ở lớp 6 đều ít chi tiết, cốt truyện đơn giản, dễ hiểu, dễ nhớ và chủ đề nổi bật ngay trong cốt truyện. Nhưng đến lớp 10, các em lại được học thể loại này qua văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. Đây là một truyền thuyết có dung lượng dài, nhiều chi tiết và có nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Trong quá trình tiếp nhận, HS có thể nhìn thể loại với cái nhìn toàn vẹn hơn vì các em đã biết thêm nhiều tri thức về thể loại và về chính tác phẩm được học qua các tiểu dẫn và phần tri thức đọc hiểu được cung cấp trong SGK. - Tính kế thừa: VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 mang tính kế thừa SGK Ngữ Văn THCS. Mỗi bài học trong phần VHDG đều có chung cấu trúc, bao gồm: kết quả cần đạt, tiểu dẫn, văn bản, câu hỏi hướng dẫn học bài, ghi nhớ và luyện tập. Ngoài ra, SGK Ngữ Văn 10 còn kế thừa quan điểm dạy học tích hợp kiến thức của SGK Ngữ Văn cấp THCS. Đây là phần thay đổi quan trọng nhất của bộ SGK mới. Việc tích hợp kiến thức được thể hiện ngay ở tên của môn học, tên SGK và ngay cả nội dung kiến thức của từng phần học. Người biên soạn SGK đã vận dụng cả hai phương pháp tích hợp : ngang – dọc. Tích hợp ngang là tích hợp kiến thức cả ba phần Văn học, tiếng Việt và Làm văn trong một đơn vị bài học. Chẳng hạn như khi học bài Tóm tắt văn bản tự sự trong SGK Ngữ Văn 10 – tập 1, HS phải nắm được cốt truyện của các tác phẩm tự sự truyện cổ tích Tấm Cám, Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy thì mới có thể tiếp thu tốt bài học. Ngoài ra để tóm tắt được một tăn bản tự sự hoàn chỉnh, HS còn phải nắm bắt được đặc điểm của ngôn ngữ viết, cách viết câu, dựng đoạn văn trong phần tiếng Việt. Còn tích hợp dọc là tích hợp theo từng vấn đề nào đó. Nghĩa là một vấn đề đang dạy trong phần này có thể liên quan đến một nội dung khác đã học hoặc sẽ học. Chẳng hạn, khi dạy văn bản Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy đến bài Chọn sự việc, chi tiết miêu tả trong bài văn tự sự ở phần Làm văn, HS sẽ phải sử dụng những sự việc, chi tiết tiêu biểu từ câu chuyện truyền thuyết trên để thực hành. SGK hiện hành sử dụng phương pháp tích hợp dọc là chủ yếu, thế nhưng, dù tích hợp theo phương pháp nào thì chương trình và SGK cũng đòi hỏi người dạy phải có cái nhìn toàn diện và logic để chọn lọc và giới hạn kiến thức sao cho phù hợp bởi VHDG vốn đã là một hiện tượng phức hợp bao gồm văn bản những yếu tố nằm ngoài văn bản, sự hình thành và phát triển VHDG gắn liền với diễn xướng dân gian. Như vậy, phần VHDG trong chương trình SGK Ngữ Văn 10 có nhiều điều mới mẻ, không chỉ mới về thể loại, về văn bản có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về các thể loại VHDG mà bên cạnh đó, nó còn giúp HS thấy được giá trị cơ bản của VHDG trên cả hai bình diện: yêu nước và nhân đạo. Không những thế, phần VHDG trong chương trình SGK Ngữ Văn 10 cũng chú ý đến những nguyên tắc vốn có của chương trình giảng dạy ở nhà trường THPT. 1.3. Nội dung và thể loại văn học dân gian trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 1.3.1. Nội dung Nhìn chung về cấu trúc chương trình, bộ phận VHDG được sắp xếp theo lịch sử thể loại: tự sự dân gian với sử thi Đăm Săn, truyền thuyết với Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, truyện cổ tích Tấm Cám, truyện cười Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày, truyện thơ Tiễn dặn người yêu, trữ tình nhân gian với Ca dao thân thương, tình nghĩa, ca dao hài hước. Việc sắp xếp này làm nổi bật vai trò của thể loại đồng thời với việc dạy đọc – hiểu phân tích văn bản theo đặc trưng thể loại. So với SGK Văn học 10 thì VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 có nhiều thể loại văn học hơn, nhiều kiểu văn bản hơn. Cụ thể là chương trình được đưa thêm truyện thuyết, truyện cười, ca dao hài hước; những văn bản văn học về truyện cổ tích, về sử thi là những đoạn văn bản, những đoạn trích mới : Tấm Cám, đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây (trong sử thi Đăm Săn). Như vậy cảm hứng bao trùm xuyên suốt của nền văn học dân tộc là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo. VHDG là một bộ phận của văn học Việt Nam ra đời từ lúc con người chưa có chữ viết, là một bộ phận ra đời từ rất sớm nhằm phản ánh tâm tư, tình cảm, nguyện vọng … của người bình dân với mục đích là giáo dục con người trong cuộc sống theo hướng chân, thiện mĩ. Chính vì lẽ đó mà VHDG giống như bộ bách khoa toàn thư về đời sống con người, là nơi mà con người có thể tìm thấy được cội nguồn, bản sắc, tinh hoa….của dân tộc mình. VHDG Việt Nam cũng tập trung thể hiện hai nội dung lớn của nền văn học dân tộc là yêu nước và nhân đạo. Nếu như ở văn học viết ta thấy tinh thần yêu nước và nhân đạo có khi đan xen, có khi tách rời thì ở bộ phần VHDG lại có cách thể hiện khác, mỗi thể loại sẽ thể hiện đặc trưng khác nhau. Vậy, yêu nước và nhân đạo được thể hiện như thế nào qua các thể loại của VHDG? VHDG là kho tàng lưu giữ đời sống tâm hồn dân tộc hết sức phong phú về: quan hệ cá nhân và cộng đồng (Chiến thắng Mtao Mxây, Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy), tình yêu thương và căm giận, khát vọng và đấu tranh (Tấm Cám), tiếng hát than thân và tiếng cười lạc quan yêu đời (Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa, ca dao hài hước, truyện cười)… Mặt khác, VHDG là kho tri thức thuộc đủ mọi lĩnh vực về đời sống: tự nhiên, con người, xã hội, phong tục, truyền thống…. 1.3.1.1. Chủ nghĩa yêu nước Yêu nước là một tình cảm cao quí của con người. Tinh thần yêu nước luôn hiện diện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt, tình yêu nước trong văn học được thể hiện rất mạnh mẽ và sâu đậm. Tinh thần yêu nước trong VHDG được thể hiện rất đậm nét ở hai thể loại là: sử thi và truyền thuyết, trong đó hình tượng người anh hùng chiến đấu để giành lại cuộc sống bình yên cho buôn làng ở sử thi là một nội dung rất mới mà các em sẽ biết thông qua đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây trích sử thi Đăm Săn. Đây là một thể loại đặc trưng của các đân tộc ít người ra đời vào thời kì hình thành các bộ tộc, bộ lạc, nhằm phản ánh lại những sự kiện, những vấn đề lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với cả cộng đồng. Nét nổi bật có tính chất phổ biến ở sử thi anh hùng các dân tộc Tây Nguyên đó là đề tài có liên quan những cuộc chiến tranh diễn ra quyết liệt, dai dẳng giữa các buôn làng và âm điệu chính nổi lên trong các sử thi anh hùng là ca ngợi các nhân vật anh hùng đã chiến đấu thắng các tù trường thù địch đem lại cuộc sống ấm no cho buôn làng. Bên cạnh các cuộc chiến tranh về việc đánh cướp và giành lại người yêu giữa các người anh hùng với kẻ thù thì còn có các cuộc chiến tranh trừng phạt và chinh phục các con vật thần kì như: con cọp sáu đuôi, con nhím thần kì…. Khác với các cuộc chiến tranh giữa người anh hùng với kẻ thù, ở đây các cuộc chiến tranh không chỉ diễn ra trong phạm vi chật hẹp của công xã với một kẻ thù nhất định mà là các cuộc chiến tranh liên miên với nhiều kẻ thù khác nhau, với những địa bàn khác nhau và qui mô cũng rộng lớn hơn. Những anh hùng tham gia các cuộc chiến tranh đó không chỉ là những những nhân vật lẻ loi đơn độc mà là những tập thể đông đảo. Đó là hình ảnh của cả cộng đồng tham gia chiến tranh, cũng như hình ảnh cả một tập thể đông đảo những anh em người anh hùng tham gia cuộc chiến bảo vệ tình yêu, bảo vệ cuộc sống, thể hiện sinh động tính chất toàn dân của sử thi anh hùng. Đồng thời những hình ảnh đó cũng thể hiện khá sâu sắc mối quan hệ hài hòa gắn bó giữa các nhân vật anh hùng với cả tập thể cộng đồng mà họ sống và hoạt động. Từ nội dung trên ta có thể thấy được tính tập thể, tính cộng đồng rộng lớn và một trong những đặc trưng chính của sử thi các dân tộc, trong đó nổi lên hình tượng tiêu biểu của nhân vật anh hùng. Bên cạnh nội dung ca ngợi chiến công của các anh hùng thì sử thi còn phản ánh một cách khá độc đáo và sâu sắc một nội dung có ý nghĩa xã hội lịch sử đó là sự vận động chuyển biến lớn của xã hội đi từ công xã mẫu hệ dần dần phát triển lên thành xã hội rộng lớn hơn trên đường tiến lên hình thành dân tộc trong đại gia đình Việt Nam. Một nội dung không thể thiếu nữa của sử thi là ca ngợi các chiến công lao động của các anh hùng để góp phần tạo nên một bức tranh trọn vẹn về hoạt động của người anh hùng. Đó là chiến công lao động, cũng không kém phần hào hùng kì vĩ của các nhân vật anh hùng. Những chiến công lao động bổ sung cho những chiến công ở chiến trường, tạo nên bức ranh trọn vẹn về hoạt động của người anh hùng. Và cũng do đó, tạo nên nội dung hoàn chỉnh, vẻ đẹp hài hòa các bản sử thi. Thông thường, sau khi ăn mừng lễ chiến thắng chinh phục được kẻ thù, kế tiếp là đến việc anh hùng chăm lo việc xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc của cả cộng đồng. Cũng giống như sử thi, yêu nước ở truyền thuyết cũng ngợi ca các anh hùng dân tộc đã có công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở thể loại này, HS đã được tìm hiểu ở phần VHDG cấp THCS với các truyền thuyết Hồ Gươm, Bánh chưng bánh giày ca ngợi các nhân vật anh hùng dân tộc đã góp công sức lớn lao vào việc đánh đuổi ngoại xâm, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân và khi đến bậc THPT, HS lại được tìm hiểu thêm truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy để thấy được công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của ông cha ta. Khác với sử thi và truyền thuyết, yêu nước trong truyện cười lại được thể hiện ở một phương diện khác, đó là dùng tiếng cười, sự châm biếm để gửi gắm tinh thần yêu nước. Tác giả dân gian đã khéo léo đả kích những tên quan tham, phú ông, trưởng giả,… để từ đó toát lên tinh thần đấu tranh giai cấp của người dân nghèo. Tinh thần đấu tranh dân tộc còn bị hạn chế bởi truyện cười dân gian mà HS được học chủ yếu là phê phán những ông thầy đồ dốt nát và đả kích những tên quan tham, chuyên ăn hối lộ như Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày…. Tuy nhiên, HS vẫn có thể bắt gặp tinh thần dân tộc ấy thông qua truyện Trạng Quỳnh với hình tượng trạng Quỳnh vừa hiện thực vừa lí tưởng hóa khả năng và ý chí về đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ. Chủ nghĩa yêu nước trong ca dao cũng rất phong phú, hơn hẳn ở các thể loại khác. Yêu nước không chỉ là đánh giặc chống ngoại xâm mà đó còn là tình yêu quê hương, nơi cắt rốn chôn nhau: “Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống , nhớ cà dầm tương” 1.3.1.2. Cảm hứng nhân đạo Đây là một đặc điểm được thể hiện ở hầu hết các thể loại của VHDG trong nhà trường nói riêng, VHDG Việt Nam nói chung. Có thể nói, cảm hứng nhân đạo được thể hiện rõ nét nhất ở thể loại truyện cổ tích, là chỗ dựa để con người nuôi dưỡng và giáo dục về tấm lòng nhân ái, yêu thương con người, giáo dục con người sống hiền lành, chăm chỉ, biết vượt qua khó khăn, trở ngại để giành lấy cuộc sống hạnh phúc. Truyện cổ tích được chia làm ba loại: cổ tích loài vật, cổ tích thế sự và cổ tích thần kì. Tùy vào đặc trưng của từng thể loại mà nội dung sẽ có sự khác nhau. Ở cấp THCS, HS đã được tìm hiểu rất nhiều truyện cổ tích như: Lấy vợ cóc, Lấy chồng dê, …. Đến lớp 10, HS sẽ được làm quen với cổ tích thần kì thông qua truyện cổ tích Tấm Cám với hình tượng nhân vật Tấm rất đáng thương. Là một cô gái mồ côi cha mẹ, sống với dì ghẻ và người em gái cùng cha khác mẹ là Cám trong cảnh bị hành hạ và ức hiếp. Tuy nhiên, ở Tấm lại hiện lên một đức tính hiền lành, chăm chỉ, chịu thương chịu khó nên đã đi vào trong lòng của nhân dân về một nhân vật bất hành tìm được hạnh phúc. Nếu trong cổ tích là sự đấu tranh của những người bị áp bức đối với kẻ áp bức thì trong ca dao đã ghi lại sự thối nát của xã hội phong kiến và tìm lối thoát khỏi vòng danh lợi. Văn học nói chung, VHDG nói riêng đã có nhiều bài ca dao có tính chất đấu tranh xã hội và ở những bài ca dao ấy đều toát lên được những tư tưởng đấu tranh bảo vệ quần chúng, bảo vệ những người bị áp bức. Vì thế mà chủ nghĩa nhân đạo trong ca dao chính là hướng đến giải phóng người lao động khỏi sự thống trị tàn bạo, đứng lên đấu tranh giành quyền sống cho con người, đặc biệt là đối với những người phụ nữ thời xưa: “Thương thay thân phận con rùa Xuống đình đội hạc, lên chùa đội bia” Câu ca dao trên phản ánh rất rõ thân phận nô lệ của những người dân nghèo. Họ là những con người “thấp cổ bé họng” trong xã hội, suốt đời chỉ biết phục vụ cho cuộc sống giàu sang của bọn quí tộc, quan lại. Nói cách khác, đó chính là tư tưởng thống trị muôn đời của chế độ phong kiến: “Con vua thì được làm vua Con sãi ở chùa thì quét lá đa” “Cây khô xuống nước cũng khô Người nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo” Hay đó là lời than thân trách phận của người phụ nữ về thân phận lệ thuộc, bị ràng buộc, và cuộc sống cực khổ, khó khăn mà người phụ nữ phải gánh chịu: “Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai” Hay cảnh làm dâu với biết bao lo sợ về người mẹ chồng: “Đói thì ăn khế ăn sung Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi” Từ đó, chúng ta có thể nhận ra trong mỗi tác phẩm VHDG luôn tồn tại chủ nghĩa nhân đạo, tuy mang tính bình dân nhưng lại có một triết lí sâu sắc về cách đối nhân xử thế, về con người và cuộc sống. 1.3.2. Thể loại Xét trên bình diện tổng thể của chương trình VHDG từ cấp THCS đến THPT thì ta thấy hầu hết các thể loại của VHDG đã được đưa vào đầy đủ trong chương trình giảng dạy. Tính kế thừa và phát triển rất thiết thực đi từ thấp đến cao, đảm bảo
- Xem thêm -