Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản amc

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN AMC GVHD: PGS.TS: BÙI KIM YẾN LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 – Nhóm 3 DSN: Cao Nữ Nguyệt Anh Mai Thúy Hằng Huỳnh Ngọc Hà My Lê Thị Phương Thảo 0937 768 307 Võ Thị Bích Trâm Mai Nguyễn Huyền Trang Đặng Thị Cẩm Uyên Tháng 10 năm 2013 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 3 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN ................................................................................................................................ 5 1.1. Khái niệm về công ty AMC ............................................................................ 5 1.2. Đặc điểm của công ty AMC ............................................................................ 5 1.2.1. Mục tiêu hoạt động ......................................................................................... 5 1.2.2. Chức năng của công ty AMC: ........................................................................ 5 1.2.3. Vai trò của công ty AMC ................................................................................ 6 1.2.4. Các mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. ................................... 6 1.2.4.1. Ưu nhược điểm của Công ty do nhà nước góp vốn: ........................................ 6 1.2.4.2. Ưu nhược điểm của Công ty tư nhân góp vốn: ................................................ 7 1.2.5. Cơ chế hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. ..................... 7 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN (AMC) HIỆN NAY. ....................................................... 10 2.1. Thực trạng AMC trên thế giới: .................................................................... 10 2.2. Tình hình các công ty quản lý nợ AMC trên thế giới: ................................. 10 2.3. Thực trạng về Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Việt Nam: ............. 15 2.3.1. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các NHTM: ............................ 15 2.3.2. Công ty mua bán tài sản quốc gia ở Việt Nam (VAMC): ............................ 20 2.4. Hiệu quả của các công ty quản lý tài sản ..................................................... 22 CHƯƠNG III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH AMC TẠI VIỆT NAM. ................................................................................................................. 23 3.1. Định hướng: .................................................................................................. 23 3.2. Giải pháp:...................................................................................................... 24 KẾT LUẬN .................................................................................................................. 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 27 2 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 LỜI MỞ ĐẦU Trong thời đại hiện nay, với các sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng và không ngừng được hoàn thiện, ngân hàng đang giữ một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và tiềm ẩn rủi ro cao của cac hoạt động nghiệp vụ, ngân hàng là một tổ chức dễ bị “tổn thương”, chấn động, gây nguy cơ đổ vỡ hàng hoạt cho hệ thống, ảnh hưởng đến nền kinh tế, thậm chí có thể gây nên những cuộc khủng hoảng trầm trọng. Một trong những nguyên nhân quan trọng của sự suy yếu của ngân hàng chính là tình trạng nợ xấu tồn đọng quá cao, lại trong một thời gian dài, mà không được xử lý, khiến tình hình tài chính của ngân hàng rơi vào khó khăn, nhiều ngân hàng mất khả năng thanh toán và đi đến chỗ phá sản. Vì vậy, vấn đề nợ đọng đang được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là những nước có tỷ lệ nợ đọng quá cao so với mức giới hạn an toàn. Trong số các biện pháp xử lý nợ đọng, thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được coi là cách hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí nhất, thời gian xử lý lại ngắn nhất Ở nước ta, trước yêu cầu cơ cấu lại ngân hàng, lành mạnh hoá tình hình tài chính nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh cho hệ thống ngân hàng, công tác xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại đang được gấp rút triển khai. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản cũng đang là một trong những lựa chọn của Chính phủ để giải quyết vấn đề này. Để có thể phát huy được tối đa các ưu điểm của phương thức này, công tác nghiên cứu, xem xét, đánh giá kỹ lưỡng về mô hình tổ chức cũng như những hoạt động nghiệp vụ của công ty, từ đó xây dựng, đưa ra một mô hình phù hợp và có thể phát huy hiệu quả hoạt động cao nhất trong điều kiện nước ta hiện nay là điều vô cùng cấp thiết, cần làm ngay. Trước yêu cầu đó của thực tế, đề tài mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, tìm hiểu về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản nói chung, đưa ra những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hơn nữa mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đang được sử dụng ở các ngân hàng thương mại. Kết cấu của đề tài được chia thành 3 chương: 3 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Chương I: Giới thiệu về công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Chương II: Thực trạng hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản hiện nay Chương III: Định hướng và giải pháp cho mô hình AMC tại Việt Nam 4 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN 1.1. Khái niệm về công ty AMC Loại hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được sử dụng ở nhiều nước. Tại mỗi nước, tuỳ theo điều kiện kinh tế và chính sách phát triển từng nước mà công ty quản lý nợ và khai thác tài sản lại có những tên gọi, đặc trưng, quyền và nghĩa vụ riêng. Nhưng chung nhất, có thể coi Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là một định chế có mục tiêu đặc biệt, có trách nhiệm và quyền lực đặc biệt trong việc thực hiện chức năng mua, quản lý các khoản nợ khó đòi từ hệ thống ngân hàng và xử lý các khoản nợ đó một cách tối ưu. 1.2. Đặc điểm của công ty AMC 1.2.1. Mục tiêu hoạt động Phục hồi sức mạnh cho hệ thống ngân hàng. Một khi tỷ lệ các khoản nợ quá hạn khó đòi trên tổng dư nợ cao, thì có nghĩa sự lành mạnh cũng như năng lực tài chính của ngân hàng đang bị suy giảm, ngân hàng đang đứng trước các nguy cơ rủi ro lớn. Khi đó, để củng cố lại hệ thống ngân hàng, các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản sẽ mua, tiếp quản các khoản nợ khó đòi đó và tìm cách xử lý chúng một cách “thông minh” và hiệu quả nhất. Hoạt động của công ty này sẽ luôn hướng tới việc làm sao để tối đa hoá được giá trị của các khoản nợ tồn đọng được giao và giảm thiểu chi phí cho quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Hơn nữa, đối tượng mua bán của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là các khoản nợ khó đòi tồn đọng với ít tài sản đảm bảo có giá trị, thậm chí có giá trị bằng 0 hoặc tài sản không đủ giấy tờ, không còn đối tượng để thu nợ... nên hầu như công ty cũng không thể tạo ra lợi nhuận được. 1.2.2. Chức năng của công ty AMC: 5 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Hai chức năng cơ bản nhất của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là mua lại nợ tồn đọng khó đòi và tối đa hoá khả năng thu hồi các khoản nợ đó. 1.2.3. Vai trò của công ty AMC 1.2.3.1. Vai trò của công ty AMC với ngân hàng Việc thành lập công ty quản lý tài sản là một tất yếu khách quan đối với các nước kinh tế thị trường có tỷ lệ nợ quá hạn trên 5% hoặc gặp các vấn đề nghiêm trọng về nợ tồn đọng. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản đóng một vai trò quan trọng trong việc cơ cấu lại ngân hàng. Ngăn chặn khủng hoảng bằng cách cung cấp một cơ chế cho các ngân hàng yếu kém bán tài sản có vấn đề để lấy tiền hay giấy nhận nợ. 1.2.3.2. Đối với nền kinh tế. Mua bán nợ thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn và hàng hoá trong nền kinh tế, giúp ổn định và lành mạnh hoá hệ thống tài chính – ngân hàng, giúp tăng cường uy tín, vị thế của quốc gia nói chung và các doanh nghiệp trong nước nói riêng trong cộng đồng tài chính quốc tế, tham gia hội nhập vào thị trường vốn, công nghệ ngân hàng với các nước trong khu vực và thế giới. 1.2.4. Các mô hình công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Tại các quốc gia trên thế giới, có nhiều loại mô hình công ty mua bán nợ: + Công ty do nhà nước góp vốn + Công ty do tư nhân góp vốn : một số thì hoạt động độc lập, một số khác là công ty con của các ngân hàng hoặc đơn vị hoạt động trực thuộc ngân hàng. 1.2.4.1. Ưu nhược điểm của Công ty do nhà nước góp vốn: + Ưu điểm: Hoạt động khá hiệu quả khi vấn đề nợ xấu mang tính hệ thống và khung pháp lý đối với việc xử lý nợ vẫn còn yếu. Có những lúc trên thị trường, các khoản nợ xấu không có người mua thì công ty xử lý nợ của Nhà nước có thể giúp rút ngắn được quy trình xử lý nợ. 6 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Tạo ra cơ hội cho Chính phủ áp đặt các điều kiện giúp các ngân hàng tái cấu trúc lại vấn đề tài chính và cơ cấu hoạt động của mình. + Nhược điểm: Đòi hỏi Chính phủ phải đầu tư với số lượng vốn lớn. Điều này khiến nhiều quốc gia có khủng hoảng nợ xấu miễn cưỡng thiết lập các tổ chức xử lý nợ tập trung này. Nếu các công ty xử lý nợ tập trung hoạt động kém hiệu quả, thì chúng phát sinh chi phí hoạt động rất lớn cũng như làm tiêu hao tài sản chưa được thanh lý và chưa được cơ cấu lại qua thời gian. Thiếu nguồn nhân lực. 1.2.4.2. Ưu nhược điểm của Công ty tư nhân góp vốn: + Ưu điểm: Ít chịu sự chi phối trong quá trình ra quyết định, các công ty xử lý nợ tư nhân thường linh hoạt trong quản lý hơn. Cơ cấu nợ cũng dễ dàng hơn nhiều, do các đơn vị này đã có sẵn hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ và các con nợ. Nếu các công ty xử lý nợ tư nhân này có đủ nguồn nhân lực có kỹ năng và kinh nghiệm trong việc quản lý các khoản nợ xấu, thì họ có thể làm gia tăng giá trị của các khoản nợ này. Kết quả là, họ sẽ bán ở mức cao hơn. + Nhược điểm: Nếu môi trường pháp lý có khuynh hướng ủng hộ các con nợ, thì các công ty xử lý nợ tư nhân có thể phải gặp rắc rối trong các cuộc thương thảo về cơ cấu nợ. Việc này sẽ làm phát sinh chi phí hoạt động. Các ngân hàng mẹ có thể sử dụng công ty xử lý nợ trực thuộc mình để che đậy các vấn đề về nợ xấu bằng cách chuyển hết nợ sang công ty xử lý nợ của mình ở các mức giá giả tạo cao hơn. Hậu quả là, do giá chuyển đổi cao sẽ ít hoặc không phản ánh các khoản thua lỗ của ngân hàng. 1.2.5. Cơ chế hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. 1.2.5.1. Hoạt động huy động vốn. 7 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là hình thức công ty được thành lập nên chủ yếu nhằm mục tiêu xử lý nợ tồn đọng khó đòi chứ không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, nên để có thể hoạt động được thì công ty quản lý nợ và khai thác tài sản cần có một lượng vốn lớn. Nhìn chung, nguồn vốn hoạt động ban đầu của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thường là do Chính phủ cấp qua Bộ Tài chính hoặc qua việc mua cổ phần của công ty. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sảnphụ thuộc nhiều vào nguồn vốn từ bên ngoài thì sự chủ động và hiệu quả trong hoạt động của công ty sẽ bị giảm sút, nhất là khi đó lại là nguồn vốn do Chính phủ cấp, nơi mà những quyết định mang nhiều tính chủ quan hơn là tính thị trường, kèm theo sự chậm trễ đáng kể trong việc thực thi do bộ máy cơ chế cồng kềnh. 1.2.5.2. Hoạt động xử lý nợ của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. + Mua, tiếp nhận các khoản nợ tồn đọng Ngân hàng có thể uỷ thác cho công ty; ngân hàng mua trái phiếu của công ty, công ty dùng số tiền đó để mua lại nợ tồn đọng của chính ngân hàng; nhưng phổ biến nhất có lẽ là công ty trực tiếp mua lại các khoản nợ cần xử lý của ngân hàng. Giá cả là yếu tố quan trọng cần được xem xét trong việc mua bán các khoản nợ. Đối với ngân hàng bán, khoản chênh lệch giữa giá bán với giá vốn của khoản cho vay được quan tâm nhiều vì nó thể hiện mức độ bù đắp tổn thất của khoản vay kém hiệu quả từ tiền bán. Còn đối với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, khoản chênh lệch giữa giá mua với giá trị lại được quan tâm hơn. Trong hoạt động của mình, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản luôn hướng tới việc làm sao thu hồi được tối đa giá trị của khoản vay, bù đắp được chi phí đã bỏ ra. Tuy nhiên, phải khẳng định lại một điều, do đây là những khoản nợ có vấn đề nên việc thu hồi giá trị, bù đắp chi phí là điều không dễ dàng. 8 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 + Xử lý nợ và tài sản bảo đảm. Sau khi tiếp nhận các khoản nợ tồn đọng khó đòi, trong hầu hết các trường hợp, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản không thể ngay lập tức bán chúng đi được mà phải tiến hành một loạt các nghiệp vụ xử lý tuỳ theo điều kiện và tình trạng của các món nợ đọng. Trước tiên, công ty sẽ tiến hành phân tích, phân loại các khoản nợ theo nhiều tiêu thức khác nhau để đánh giá tình trạng của món nợ, con nợ và tài sản bảo đảm nếu có. Đối với những khoản nợ mà công ty nhận thấy còn khả năng thu hồi từ con nợ, công ty sẽ tiến hành phân tích kỹ càng tình hình tài chính hiện tại của con nợ và đề ra những biện pháp cơ cấu lại khoản nợ theo hướng hợp lý, phù hợp với tình hình, tạo điều kiện giúp con nợ vực dậy hoạt động kinh doanh, có khả năng trả được nợ trong thời gian tới. Các biện pháp cơ cấu lại nợ mà công ty sử dụng có thể là: miễn, giảm lãi suất hoàn toàn hay chỉ trong một thời gian nhất định; giãn nợ (kéo dài thời hạn trả nợ); cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư thêm... Các khoản nợ có thể được bán ra trên thị trường theo mức giá thoả thuận giữa bên mua và bên bán (công ty quản lý tài sản). Bên mua thường là những đơn vị có mối quan hệ, hoặc quan tâm đặc biệt tới doanh nghiệp nợ, nhìn thấy ở khoản nợ này một cơ hội kinh doanh có thể tận dụng được. Còn một phương thức xử lý khác cũng hay được các công ty quản lý tài sản sử dụng, đó là chuyển nợ thành cổ phần của doanh nghiệp. Đây là một trong những cách được các nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá cao, vì khi công ty quản lý nợ và khai thác tài sản có cổ phần trong doanh nghiệp, công ty sẽ có quyền can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp đó, buộc doanh nghiệp phải thực hiện những biện pháp cần thiết để khôi phục tình hình tài chính cho doanh nghiệp. Và như vậy, quá trình cơ cấu lại ngân hàng sẽ được gắn liền với quá trình cơ cấu lại các doanh nghiệp. Đối với các tài sản cầm cố, thế chấp, công ty cũng có thể xử lý bằng nhiều cách khác nhau. Công ty có thể tiến hành sửa chữa, nâng cấp tài sản để tăng tính khả 9 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 mại cũng như giá trị của tài sản khi đem bán ra thị trường. Công ty còn có thể đưa tài sản vào hoạt động kinh doanh của bản thân công ty, hay đem tài sản góp vốn, liên doanh... Tóm lại, để thu hồi giá trị tối đa của khoản nợ, hoạt động xử lý tài sản của công ty là hết sức linh hoạt và đa dạng. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ KHAI THÁC TÀI SẢN (AMC) HIỆN NAY. 2.1. Thực trạng AMC trên thế giới: Không chỉ các nước trong khu vực châu Á thành lập các công ty quản lý tài sản mà ngay cả nước phát triển như Mỹ và các nước Mỹ La tinh cũng có các công ty chuyên về xử lý nợ xấu của ngân hàng. Tuy nhiên, liệu sự có mặt của các công ty quản lý tài sản có cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng hay không? Để trả lời câu hỏi trên hãy cùng nghiên cứu kinh nghiệm xử lý nợ của các nước ASEAN thông qua các mô hình công ty quản lý tài sản. Qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế thế giới, mỗi nước đều có cách làm riêng để xử lý các tài sản rủi ro và nợ xấu, nhằm lưu thông dòng vốn trong nền kinh tế. 2.2. Tình hình các công ty quản lý nợ AMC trên thế giới: Thái Lan: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ bắt nguồn từ Thái Lan năm 1997 gây ra những tác hại nghiêm trọng đến nền kinh tế của một loạt các nước trong khu vực. Trong số đó Thái Lan là nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất: sự mất ổn định của đồng tiền và của các thị trường tiền tệ trong nước, sự giảm sút các luồng vốn nước ngoài đổ vào, nợ tồn đọng trong nước, nợ nước ngoài tăng mạnh, tỷ lệ tăng trưởng âm… Thêm vào đó, Thái Lan tuyên bố phá giá tiền tệ làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh nợ lên vai các công ty và con nợ, làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản công ty này. Trên bảng cân đối của các 10 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 ngân hàng và tổ chức tín dụng số lượng các khoản vay không hoạt động liên tục tăng, vào cuối năm 1998 tăng lên đến 2675 tỷ Baht chiếm 45,02% tổng số tiền va, và đến tháng 5/1999 tăng lên con số đỉnh điểm là 2729 tỷ Baht tương đương 47,7% tổng trị giá các khoản vay. Tệ hại hơn là các khoản vay không hoạt động này lại chủ yếu ở trên bảng cân đối của các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước và tập trung vào các ngành kinh tế chủ chốt như ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ, và một số ngành liên quan đến bất động sản. Trước tình hình này, Chính phủ Thái Lan đã khần trương ban hành một nghị định khẩn cấp thành lập công ty quản lý tài sản, một cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện xử lý các khoản nợ tồn đọng theo thông lệ quốc tế. Đây cũng là một phần cơ cấu lại khu vực tài chính của Thái Lan. + Ủy ban cơ cấu tài chính Thái Lan (FRA): được chính phủ thành lập ngày 22/10/1997 để xử lý 58 định chế tài chính bị đổ vỡ dưới sự giám sát của Bộ Tài chính. Công ty FRA có quyền nhận được số tiền từ việc bán 1% giá trị tài sản từ công ty tài chính nó tiếp quản. FRA tiếp nhận tài sản và thực hiện bán buôn chứ không được quyền bán lẻ các tài sản này mà phải chuyển cho các công ty quản lý tài sản. + Công ty quản lý tài sản Thái Lan: được thành lập ngày 22/10/1997 là một pháp nhân và hoạt động tuân theo trình tự : Tiếp nhận tài sản, quản lý tài sản và xử lý tài sản. Công ty chỉ chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ nhỏ dưới 5triệu Baht và các bất động sản nhỏ. Trong năm 1999, công ty quản lý tài sản đã mua tổng giá trị tài sản có cơ bản là 197.047 tỷ Baht với giá đấu thầu là 33.853 tỷ Baht được trả bằng cách phát hành trái phiếu với tổng giá trị 33.958 tỷ Baht. Các trái phiếu được phát hành có thời hạn 3-5 năm với mức lãi suất từ 7-11% trả 6 tháng 1 lần. Công ty sẽ không bán lại các khoản đã mua trực tiếp từ Ủy ban cơ cấu tài FRA mà tiến hành cơ cấu nợ theo phương thức tối đa hóa giá trị và điều kiện của khoản vay trước khi bán đứt hoặc công ty sẽ chuyển các khoản vay đó thành tài sản và thông qua các phương tiện khác để tối đa hóa lợi nhuận của nó cũng như làm tăng tính thanh khoản của các tài sản này. 11 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 + Các công ty quản lý tài sản được thành lập tại các ngân hàng: Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích về thuế và các qui định để tạo điều kiện thuận lợi thành lập công ty quản lý tài sản, mua các tài sản tồn đọng từ các tổ chức tín dụng. Ví dụ công ty SAM (Sukhumvit Asset Management Co. Ltd) được thành lập 4/4/2000 mục tiêu xử lý nợ tồn đọng của Krung Thai Bank (Ngân hàng thuộc sở hữu của Chính phủ) vì 40% tổng số nợ khó đòi của nước này phát sinh từ Krung Thai Bank. + Công ty TAMC (Thai Asset Management Corp.) : được chính phủ thành lập để xử lý nợ khó đòi của hệ thống ngân hàng thương mại. Công ty bắt đầu hoạt động từ tháng 6/2001. Trung Quốc: Không như các nước Châu Á khác, khi thành lập công ty quản lý tài sản tình hình kinh tế Trung Quốc vẫn ổn định : dự trữ ngoại tệ tăng đạt 150 tỷ USD, lãi suất tiết kiệm trong dân cư được điều chỉnh giảm 7 lần liên tiếp, chưa xuất hiện sức ép lớn về nợ tồn đọng. Tính đến cuối tháng 9/2001 nợ khó đòi của Ngân hàng thương mại là khoảng 1800 tỷ Nhân dân tệ, 26,5% trên tổng doanh số cho vay. Vì vậy mục tiêu chính của việc thành lập công ty quản lý tài sản của Trung Quốc là nhằm khắc phục rủi ro tài chính tiềm tàng của các ngân hàng thương mại quốc doanh, tăng cường cải cách doanh nghiệp nhà nước thông qua việc tối ưu hóa tài sản tồn đọng. Trong năm 1999, Trung Quốc tiến hành thành lập 4 công ty quản lý tài sản thuộc 4 NHTM chuyên doanh thuộc sở hữu nhà nước: + Công ty COAMC + Công ty Vạn lý trường thành (Great Wall) + Công ty CHAMC + Công ty CINDA Các công ty quản lý tài sản đã mua từ 4 NHTM nhà nước gần 1.100 tỷ Nhân dân tệ các khoản vốn vay không hoạt động, tương đương 60% tổng vốn vay không hoạt động của cả hệ thống NH Trung Quốc. 12 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Điển hình công ty CINDA được thành lập đầu tiên ngày 20/4/1999 để xử lý nợ khó đòi của Ngân hàng xây dựng Trung Quốc (CCB). Trong kế hoạch xử lý nợ Cinda nhần mạnh đến việc chuyển nợ thành vốn cổ phần. Những khoản nợ của các công ty vay của CCB trước đây không trả được sẽ được chuyển thành cổ phần của Cinda trong công ty đó. Sau đó, Cinda có quyền can thiệp vào việc điều hành, buộc các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh để có khả năng trả được nợ. Như vậy quá trình cải tổ NH gắn liền với cải tổ doanh nghiệp. Chính vì vậy công ty Cinda ra đời được các nhà kinh tế nước ngoài đánh giá cao, coi đây là một bước tiến quan trọng trong việc cải tổ ngân hàng Trung Quốc. Mỹ: Cuộc khủng hoảng tài chính Phố Wall năm 2008 bắt nguồn từ bong bóng bất động sản tan vỡ – tình cảnh khá tương đồng với Việt Nam hiện nay. Để giải cứu những tổ chức tín dụng sắp “chết”, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định bơm 700 tỷ USD. Lượng tiền này được phân bổ một phần để mua lại nợ xấu ngân hàng thương mại, một phần dùng để giải quyết thanh khoản tạm thời cho những đơn vị yếu kém. Phần còn lại – nhưng chiếm tỷ trọng lớn – là để mua cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng. Với mục đích thứ ba, Fed lựa chọn mua cổ phiếu ưu đãi thay vì loại phổ thông. Cổ phiếu ưu đãi được hưởng mức cổ tức cố định, không phụ thuộc vào khả năng sinh lời nhưng lại không có quyền tham gia vào việc điều hành ngân hàng. Fed chỉ muốn đẩy một ít dòng tiền để ngân hàng có vốn đầu tư và thoát khỏi tình trạng tồi tệ – về mặt bản chất chính là Fed cho vay – nhưng họ chủ trương nắm quyền kiểm soát các ngân hàng nên việc họ chọn loại cổ phiếu ưu đãi như phân tích ở trên là rất thích hợp. Nhật Bản: 13 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Đầu những năm 2000 hứng chịu hàng nghìn tỷ yên nợ xấu với nguyên nhân tương tự Mỹ năm 2008 đến từ bong bóng bất động sản. Ban đầu, Nhật Bản bơm hàng nghìn tỷ yên vào các ngân hàng lớn hoặc lập hàng loạt các quỹ đầu tư có vốn góp của cả tư nhân để mua lại nợ xấu. Tuy nhiên, cả hai cách này đều không thu được kết quả. Sau khi thực hiện nhiều phương sách nhưng vẫn thất bại, Nhật quyết định quốc hữu hóa các ngân hàng, loại bỏ các cổ đông, cho các nhà băng yếu kém nhiều nợ xấu tự sụp đổ… và đã thành công. Malaysia: Danaharta – với thời gian hoạt động 7 năm (1998-2005), đã đạt được những kết quả ấn tượng và nổi trội so với các AMC của Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan. Trong khi giá trị hồi phục của các AMC nằm trong khoảng từ 20-50% thì các khoản nợ xấu của Danaharta có giá trị hồi phục đến 58%. Khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã làm đồng Ringgit mất đến 50% giá trị, niềm tin tiêu dùng suy giảm trầm trọng. Nếu như các khoản nợ xấu tại thời kỳ ngay trước khủng hoảng dao động từ 2-3% thì khi bong bóng vỡ ra, tỷ lệ nợ xấu tăng lên hai con số, đỉnh điểm vào tháng 8/1998 khi nợ xấu lên đến 11,4%. Đối mặt với khủng hoảng kinh tế, Chính phủ Malaysia buộc phải lập ra 3 tổ chức để giảm nợ xấu, lành mạnh hệ thống tài chính và khôi phục lại đà tăng trưởng: Danaharta để xử lý nợ xấu, CDRC để thỏa thuận với các ngân hàng có nợ xấu, SPV để bơm vốn cho hệ thống tài chính. Trong đó Danaharta là trung tâm của kế hoạch. Với tỷ lệ nợ xấu lên 11,4% vào tháng 8/1998, nhiệm vụ của Danaharta là đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 10%. Tuy nhiên AMC này đặt ra mục tiêu chỉ mua những khoản nợ xấu trên 5 triệu Ringit, tức là gần 70% tổng nợ xấu trong hệ thống tài chính. Điều này tương đương với khoảng từ 2.000 đến 3.000 khoản nợ xấu, một con số khả thi với năng lực xử lý của Danaharta trong thời gian 5 năm. 14 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Với nợ có đảm bảo, giá mua được Danaharta xác định dựa vào giá trị hợp lý (FV) của tài sản thế chấp. Danaharta chỉ chấp nhận các tài sản tài chính là cổ phiếu và bất động sản. Đối với nợ xấu có tài sản thế chấp là bất động sản, FV được tính là 95% giá trị thị trường của bất động sản và được xác định bởi tổ chức định giá độc lập và được cấp phép. Với cổ phiếu niêm yết, giá trị hợp lý phụ thuộc vào khối lượng nắm giữ. Khi FV cao hơn hoặc bằng với dư nợ gốc cộng nợ lãi, Danaharta mua theo giá của nợ gốc cộng nợ lãi. Còn giá trị hợp lý thấp hơn giá trị của tổng nợ gốc và lãi nhưng cao hơn hoặc bằng giá trị nợ gốc, giá mua là giá trị hợp lý. Nhưng nếu giá trị hợp lý thấp hơn giá trị nợ gốc, giá mua sẽ là giá trị nợ gốc nhưng Danaharta chỉ trả trước một khoản bằng với FV. Một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng giúp cho Danaharta thành công đó là bởi nó được sự hậu thuẫn đặc biệt từ chính quyền Malaysia. Vào tháng 8/1998, Luật Danaharta ra đời đem lại bộ khung pháp lý rất đặc biệt cho tổ chức này. Đạo luật này cho phép Danaharta những đặc quyền mà không một tổ chức tài chính nào có thể có được trong lịch sử ngành tài chính quốc gia, đó là: Mua lại tài sản của các tổ chức tài chính; Bổ nhiệm lãnh đạo ở các tổ chức đang nợ; Và, có quyền tịch biên những tài sản thế chấp. 2.3. Thực trạng về Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản Việt Nam: 2.3.1. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các NHTM: Mô hình công ty quản lý nợ và khai thác thác tài sản (AMC) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập theo quyết định 150/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 với mục đích xử lý nợ tồn đọng của các NHTM. Công tác quản lý nợ và khai thác tài sản luôn được các NHTM dành sự quan tâm đặc biệt. Mỗi NHTM đều có chính sách, hệ thống và quy trình quản lý rủi ro. Tuy nhiên với tốc độ tăng trưởng về quy mô cũng như dư nợ tín dụng của NHTM ngày càng tăng, việc xử lý nợ đòi hỏi phải có bộ máy chuyên nghiệp hơn, với tính chất hoạt động như một doanh nghiệp nhằm hỗ trợ ngân hàng cả 15 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 về công tác quản lý nợ và khai thác tài sản. Do đó nhu cầu thành lập AMC để chuyên môn hoá việc quản lý nợ, xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các khoản nợ của NH là một nhu cầu thực tế và thiết yếu. Bên cạnh đó, việc gia tăng các khoản nợ xấu đang là vấn đề đáng quan ngại của các NH. Tỷ lệ nợ xấu của nhiều NH tuy chiếm tỷ lệ thấp, nhưng việc đi trước, đón đầu để tăng cường công tác kiểm soát và quản lý nợ một cách hiệu quả, an toàn luôn là mục tiêu của các NH. Theo Luật tổ chức Tín dụng năm 2010, các NHTM không được trực tiếp kinh doanh bất động sản (BĐS) trong khi BĐS là tài sản bảo đảm phổ biến nhất. Do đó, NH gặp khó khăn trong việc khai thác lợi nhuận từ tài sản bảo đảm và không chủ động xử lý được tài sản bảo đảm. Vì những lý do trên, việc thành lập AMC để tận thu nợ tồn đọng, hạn chế tối đa tổn thất tài sản, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính là một nhiệm vụ cấp thiết của NHTM. Mục đích: AMC được thành lập với các mục đích chính như sau: Nhằm chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý, xử lý nợ quá hạn của toàn hệ thống; Góp phần xử lý nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả; Cơ cấu lại nợ tồn đọng, tiếp nhận quản lý các khoản nợ tồn động của NH bằng các biện pháp: giãn nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển đổi nợ thành vốn góp… Góp phần cải tiến quản lý rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng . Từng bước phát triển hoạt động mua bán nợ; quản lý, kinh doanh tài sản (cho thuê, mua bán, khai thác); Lấy thu đủ bù chi; bảo toàn và phát triển vốn; Quản lý an toàn tài sản NH giao; đóng góp một phần lợi nhuận cho NH. Thống kê AMC trực thuộc NHTM Việt Nam 16 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Theo thống kê của PG Bank, tính đến năm 2011 có 27 AMC trực thuộc NHTM. Các AMC trực thuộc NHTM hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên. Ngoài ra, có 1 AMC trực thuộc Bộ Tài chính là DATC và có khá nhiều công ty tư nhân/cổ phần được thành lập nhằm thực hiện một số chức năng của AMC như: tư vấn thủ tục thu hồi nợ, xử lý nợ, đòi nợ… Thống kê AMC được thành lập theo thời gian và quy mô vốn điều lệ: AMC đầu tiên được thành lập vào năm 1995 (Vietcombank AMC). Năm 2009 – 2010 là thời điểm có nhiều AMC được thành lập nhất. Phần lớn các AMC có vốn điều lệ vào khoảng 50-100 tỷ đồng. Cụ thể: Nguồn: FI – PG Bank Điểm mạnh: AMC là công ty trực thuộc NHTM, trong đó NHTM góp vốn 100%, do đó, AMC nhận được sự hỗ trợ rất lớn của công ty mẹ về tài chính, nhân sự và thương hiệu. Hoạt động quản lý nợ, xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các khoản nợ được chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Điểm yếu: Mô hình AMC còn khá mới mẻ và chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, do dó, nguồn nhân lực còn thiếu và chưa có nhiều kinh nghiệm. 17 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Hoạt động của AMC mới chỉ ở mức nội bộ. Cơ hội: Quy mô và dư nợ tín dụng của NHTM ngày càng tăng, kéo theo nhiều cơ hội phát triển hoạt động cho AMC. Hiện nay hoạt động của AMC vẫn chỉ gói gọn trong việc quản lý nợ và khai thác tài sản của công ty mẹ, do đó, AMC có thêm rất nhiều cơ hội để mở rộng phạm vi hoạt động sang các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính khác. Thách thức: Chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể về cơ chế hoạt động cho AMC, AMC vẫn chỉ chịu điều chỉnh theo Luật doanh nghiệp. Chưa có một hành lang pháp lý cho hoạt động mua bán nợ, hoạt động của các công ty quản lý nợ còn đơn giản và nội bộ. Thực trạng hoạt động AMC: Với mục đích và hướng phát triển cụ thể như thế, nhưng trên thực tế, hoạt động của AMC vẫn chưa thực sự hiệu quả. AMC được thành lập để xử lý nợ, giải quyết nợ xấu cho ngân hàng, nhưng thực tế các phòng Quản lý nợ, Xử lý nợ thuộc NHTM hoàn toàn có thể làm tốt việc này. Một AMC với cơ cấu hoành tráng, nhưng thực chất cũng chỉ có 10-15 người, kể cả ban giám đốc. Số lượng này cũng vừa bằng, thậm chí là ít hơn số lượng nhân sự của phòng xử lý nợ. AMC được lập ra mà công việc chủ yếu không phải quản lý nợ, xử lý nợ hay quản lý tài sản mà để hợp thức hoá việc cho vay với lãi suất vượt trần của NHTM. Khách hàng vay vốn từ NHTM thường phải có tài sản đảm bảo. NHTM sẽ thu thêm phí như phí thẩm định tài sản, phí quản lý tài sản đảm bảo,… thông qua AMC, tính phí bằng tỷ lệ phần trăm trên tổng số vốn vay và thu một lần. 18 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 Hợp đồng này ký với Giám đốc AMC, tách ra hẳn với hợp đồng tín dụng vay vốn của ngân hàng, nhưng thực tế hai hợp đồng đó là một, đó chỉ là chiêu lách luật của các ngân hàng. Do đó, lãi suất cho vay mà khách hàng phải chịu thường cao hơn từ 3-5% lãi suất cho vay quy định. Việc thành lập AMC có thể làm giảm sức cạnh tranh của NHTM (do lãi suất cho vay thực tế cao hơn nhiều so với mức lãi suất của những NHTM không có AMC). Trong thời điểm hiện nay khi NHNN đang quyết tâm hạ lãi suất, rất có thể những NHTM chưa có AMC sẽ xúc tiến thành lập AMC với mục đích hợp thức hoá mức lãi suất cho vay cao. Trong năm 2013 hàng loạt ngân hàng đồng loạt kích hoạt lại hoạt động của công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc. Ngoài AMC của Vietinbank hoạt động khá sôi nổi và đều đặn trong việc xử lý tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu có tài sản đảm bảo của ngân hàng, AMC của Agribank và BIDV, Vietcombank đã hoạt động cầm chừng thời gian qua. Điều lệ mẫu, các quy định cho AMC hơn 13 năm qua không được cơ quan quản lý coi sóc, cập nhật dù nhiều nội dung đã không còn phù hợp với tình hình mới. Đó là lý do quan trọng để nhiều năm qua AMC tại các ngân hàng ở nước ngoài như cánh tay phải của tổ chức tín dụng thì tại Việt Nam lại không giúp được gì nhiều cho các ngân hàng. Ở nhiều AMC, một số hoạt động bị lái đi chệch hướng nhưng cũng không ai quản lý. Nay, Vietinbank theo kế hoạch chuẩn bị nâng vốn điều lệ cho AMC lên gấp hơn 16 lần, từ 30 tỉ lên 500 tỉ đồng, BIDV đang bổ sung nhân lực cho bộ phận AMC năm qua chỉ tồn tại như một phòng ban đại diện. Agribank đã xin giải thể AMC nay cũng tái lập và đang củng cố lại bộ máy, tổ chức hoạt động. Các ngân hàng cổ phần cũng tăng vốn, củng cố nhân sự và nguồn lực với AMC của mình. Tình hình nợ xấu hiện nay rất khó giảm. VAMC mới ra đời như một ‘quyền trợ giúp đặc biệt’ một thời gian cho các ngân hàng. Song việc các AMC sẽ buộc phải hoạt động trở lại là bởi các ngân hàng không thể trông chờ duy nhất vào VAMC với những khoản nợ rất chọn lọc trước mắt được mua bằng 19 GVHD: PGS.TS. BÙI KIM YẾN Nhóm 3 – Lớp NH Đêm1 –K22 trái phiếu đặc biệt. Phần rất lớn nợ xấu sẽ giải quyết theo giá thị trường, phần chưa được VAMC chú trọng ít nhất trong nửa năm tới, thì các tổ chức tín dụng phải tự giải quyết. Như vậy hiểu ở khía cạnh gián tiếp, VAMC là một động lực để các ngân hàng ứng xử tích cực hơn với nợ xấu và các AMC của mình. 2.3.2. Công ty mua bán tài sản quốc gia ở Việt Nam (VAMC): VAMC được thành lập theo Quyết định số 1459/QĐ – NNHNN ngày 27/6 của Thống đốc NHNN Việt Nam, là công cụ đặc biệt của NHNN nhằm góp phần đẩy nhanh xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý. VAMC hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và Nghị định 53 của Chính phủ ngày 18/5/2013. VAMC là doanh nghiệp đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn, dưới sự quản lý, thanh tra của NHNN. VAMC có vốn điều lệ 500 tỷ đồng và theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận, công khai, minh bạch. Các hoạt động chính của VAMC gồm mua nợ xấu của các TCTD; thu hồi, đòi nợ và xử lý nợ, bán nợ, bán tài sản đảm bảo; Cơ cấu lại nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành góp vốn, góp cổ phần; Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản đã được VAMC thu nợ… VAMC cũng được đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; tổ chức đấu giá tài sản; bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp vay vốn của TCTD. VAMC có trụ sở chính tại Hà Nội và được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số tỉnh, thành phố lớn. NHNN sẽ bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch và các Hội đồng thành viên (không quá 7 người); Ban Kiểm soát (không quá 3 người); Tổng Giám đốc và một số Phó Tổng Giám đốc của VAMC. Khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho VAMC và có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi được tổ chức tín dụng xem xét, cấp tín dụng theo thỏa thuận và quy định của phát luật. VAMC có thể mua nợ xấu bằng nguồn vốn không phải trái phiếu. 20
- Xem thêm -