Công ti vô hiệu

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN HỒNG MINH CÔNG TI VÔ HIỆU Chuyên ngành : Luật Kinh Tế Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học : TS. Ngô Huy Cương HÀ NỘI – 2009 2 MỤC LỤC Trang Lời cam đoan 1 Mục lục 2 MỞ ĐẦU 3 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TI VÔ HIỆU 10 1.1. Khái niệm về công ti, đặc điểm của công ti và phân loại công ti 10 1.2. Bản chất pháp lí của công ti 28 1.2.1. Công ti là hợp đồng 28 1.2.2. Công ti là hành vi pháp lí đơn phương 33 1.3. Điều kiện của hành vi pháp lí liên quan tới công ti 34 1.4. Giao dịch thành lập công ti vô hiệu và công ti vô hiệu 42 1.5. Giải pháp pháp lí đối với công ti vô hiệu 50 53 2.1. Chương 2: XỬ LÝ CÔNG TI VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÍ CỦA CÔNG TI VÔ HIỆU Xử lý công ti vô hiệu 2.2. Hậu quả pháp lí của công ti vô hiệu 56 2.3. Thực trạng tranh chấp giao dịch thành lập công ti 59 72 3.1. Chương 3: KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG CHẾ ĐỊNH CÔNG TI VÔ HIỆU Cơ sở hình thành các định hướng xây dựng chế định công ti vô hiệu trong Luật doanh nghiệp Những định hướng cơ bản KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 3.2. 3 53 72 75 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nội dung của pháp luật được xác định bởi các điều kiện chính trị, kinh tế trong xã hội. Pháp luật một mặt phụ thuộc vào kinh tế, mặt khác lại có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế. Pháp luật luôn luôn phản ảnh trình độ phát triển của chế độ kinh tế, không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Với sự thay đổi căn bản trong chính sách quản lý của Nhà nước khi chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế tập trung, bao cấp, mệnh lệnh hành chính sang cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, chịu sự chi phối của những quy luật khách quan mà hoạt động kinh doanh và các hành vi thương mại khác được thừa nhận là những hoạt động hợp pháp, có hành lang pháp lí phù hợp điều chỉnh và Luật công ti là một phương tiện hữu hiệu để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế đó. Quy định về quyền tự do kinh doanh, bình đẳng của các thành phần kinh tế và sự cam kết bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức kinh doanh là những nội dung quan trọng của những văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về công ti. Trong thời kỳ này, pháp luật về công ti được xây dựng và ban hành trong các văn bản đơn lẻ, dưới luật. Cùng với thành quả của chính sách đổi mới, phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, sự phát triển về quy mô và đa dạng về loại hình tổ chức kinh doanh cũng như trước yêu cầu cấp bách về cải cách thể chế, thủ tục hành chính mà pháp luật về công ti đã có những bước phát triển nhất định cả về kỹ thuật lập pháp và gia tăng nhanh chóng về số lượng cũng như về hình thức văn bản pháp luật. 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 được đánh giá là đạo Luật thể hiện kỹ thuật lập pháp tiến bộ, khoa học trong việc thống nhất luật điều chỉnh chung cho các loại hình doanh nghiệp đối với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Riêng đối với phần quy định về xử lý vi phạm quy định tại Luật doanh nghiệp này đã có sự sửa đổi, bổ sung thêm các trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cụ thể là bổ sung trường hợp nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký kinh doanh là giả mạo và trường hợp doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp thành lập. Sự bổ sung này dựa trên yêu cầu cần khắc phục những hạn chế nhất định trong quá trình thực hiện Luật doanh nghiệp năm 1999 và đồng thời thể hiện yêu cầu đối với các chủ thể kinh doanh cần phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật công ti một cách nghiêm túc ngay từ khi thành lập. Tuy vậy, Luật doanh nghiệp năm 2005 chưa đạt được sự hoàn thiện về nội dung đến mức không cần thiết phải sửa đổi, bổ sung bởi thực tiễn vẫn còn nhiều quan hệ tranh chấp phát sinh liên quan tới hành vi vi phạm pháp luật công ti ngay từ khi thành lập mà trong nhiều trường hợp các chủ thể có nghĩa vụ chấp hành phán quyết của Tòa chưa có sự nhất quán về áp dụng luật nội dung trong quá trình thi hành phán xử giải quyết hậu quả pháp lí của những tranh chấp đó hoặc để xử lý các hành vi vi phạm đó Tòa án lại thực hiện biện pháp kiến nghị với cơ quan hành chính chuyên môn xử lý. Vấn đề áp dụng quy định chung của pháp luật dân sự đối với giao dịch thành lập công ti , Tòa án hay cơ quan hành chính chuyên môn chủ thể nào có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật công ti trong phạm vi vụ việc đang do Tòa án giải quyết và cũng đã xác định được các hành vi phạm quy định của pháp luật công ti theo tác giả cần được quy định rõ hơn trong Luật doanh nghiệp hiện hành. Giải quyết nội dung của quan hệ tranh chấp liên quan tới công ti không những cần xác định tính hợp pháp của giao dịch thành lập công ti mà còn đòi hỏi xem xét về tính hợp pháp của tư cách pháp nhân công ti hay tư cách này có bị hạn chế 5 trong những trường hợp xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bên ngoài công ti. Để xây dựng biện pháp xử lý vi phạm pháp luật công ti có sự khoa học về tính hệ thống, tính thống nhất, từ quá trình nghiên cứu pháp luật công ti của nhiều nước trên thế giới có quy định như thế nào và trong những trường hợp nào buộc phải xem xét đến tính hợp pháp của giao dịch thành lập công ti và giá trị pháp lí của tư cách pháp nhân của công ti, tác giả thấy rằng Luật công ti (Luật doanh nghiệp) rất cần thiết bổ sung thêm quy định về bản chất pháp lí của công ti và các quy định về công ti vô hiệu. Xung quanh vấn đề quy định bản chất pháp lí của công ti là một giao dịch dân sự, có nhiều ý kiến khác nhau trong cả giới nghiên cứu và lập pháp. Bên cạnh những ý kiến ủng hộ quan điểm xây dựng quy định bản chất pháp lí của công ti là một hợp đồng, vẫn có quan điểm chưa đồng tình với quy định bản chất của công ti là giao dịch dân sự, thậm chí có quan điểm phản đối bản chất pháp lí của công ti là hành vi pháp lí đơn phương. Trong Luật doanh nghiệp không có quy định nào đề cập đến công ti vô hiệu nhưng đây là vấn đề được pháp luật nhiều nước đã quy định từ rất lâu và được giới nghiên cứu khoa học pháp lí quan tâm trong thời gian gần đây. Bản chất pháp lí của công ti là giao dịch dân sự và công ti vô hiệu là những nội dung cần được nghiên cứu sâu rộng hơn để xây dựng luận cứ khoa học góp phần hoàn thiện pháp luật công ti. Hơn nữa nếu chúng ta có những quy định pháp luật về vấn đề này hay có cơ sở pháp lí để xem xét tính hợp pháp của tư cách pháp nhân của công ti như là có quy định về tuyên bố và xử lý công ti vô hiệu trong quá trình Tòa án giải quyết tính hợp pháp của giao dịch thành lập công ti thì vấn đề áp dụng luật và chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật công ti sẽ rõ ràng và đảm bảo tính thống nhất của luật pháp hơn. Tranh chấp kinh doanh thương mại ngày càng trở nên phổ biến và không thể phủ nhận là giá trị pháp lí của tư cách pháp nhân của công ti cũng như tính hợp pháp của giao dịch thành lập công ti cũng cần được xem xét như một trong các 6 yêu cầu bắt buộc của quá trình giải quyết vụ việc. Nhưng pháp luật hiện tại chưa có quy định về bản chất pháp lí của công ti và các quy định về công ti vô hiệu nên mặc dù nội dung của tranh chấp kinh doanh thương mại có phần về giao dịch thành lập công ti đã được phán xử nhưng còn phần về tư cách pháp nhân của công ti hay vấn đề quan hệ về trách nhiệm tài sản của công ti và các thành viên, cổ đông của mình với chủ thể bên ngoài công ti đã không thể xem xét đến. Và hệ lụy tiếp theo là ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động thi hành án cũng như các chủ thể có nghĩa vụ phải chấp hành phán quyết của Tòa án đã vận dụng quy định Luật để giải thích cho việc không có cơ sở cho việc chấp hành đó. Trong điều kiện như vậy, việc xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật công ti với đề xuất định hướng xây dựng chế định công ti vô hiệu và lựa chọn đề tài “CÔNG TI VÔ HIỆU” để nghiên cứu làm đề tài tốt nghiệp trình độ Thạc sĩ, tác giả thấy đây là nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa sâu sắc cả về lí luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong thời gian gần đây, vấn đề giao dịch thành lập công ti vô hiệu, công ti vô hiệu đã được một số tác giả nghiên cứu đề cập ở các góc độ khác nhau, có thể kể đến như: 1- Đề tài Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật về các loại hình công ty trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” (2002) của tác giả Trần Ngọc Liêm. 2- Đề tài Luận án tiến sĩ luật học “Hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam” (2004) của tác giả Ngô Huy Cương. 3- “Các công ty thương mại” (2006) của TS. Nguyễn Mạnh Bách. 7 Trong những công trình này, các tác giả đã luận giải vấn đề lí luận về bản chất pháp lí của công ti và đề cập đến công ti vô hiệu. Với đề tài “Công ti vô hiệu”, tác giả có sự quan tâm rất lớn về mối liên hệ giữa về vấn đề tính hợp pháp của giao dịch thành lập công ti có ảnh hưởng như thế nào tới tư cách pháp nhân của công ti, hay tư cách pháp nhân của công ti có phải là tuyệt đối không bị hạn chế vì bất cứ lý do nào? Và quy định của pháp luật về giao dịch dân sự bị vô hiệu được áp dụng cho giao dịch thành lập công ti thì đối với thành viên, cổ đông của công ti họ sẽ phải thực hiện như thế nào và việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ti có đồng thời là một phán xét về sự không cho phép tồn tại của công ti có gì khác biệt với việc tuyên bố công ti vô hiệu như pháp luật của một số nước khác. Trước thực trạng khiếm khuyết của luật thực định, những nguyên nhân làm ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động bảo vệ pháp luật, yêu cầu nghiên cứu khoa học pháp lí hoàn thiện pháp luật công ti, theo tác giả rất cần được chú trọng trong hiện tại và cả tương lai. Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu pháp luật về công ti vô hiệu, việc nghiên cứu về một đề tài riêng về công ti vô hiệu cho phép khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này, với cấp độ luận văn Thạc sĩ luật học. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc định hướng kiến nghị xây dựng chế định công ti vô hiệu để góp phần hoàn thiện pháp luật về công ti ở Việt Nam. Để thực hiện mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Phân tích, làm rõ những vấn đề lí luận về bản chất pháp lí công ti; 8 - Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện của hành vi pháp lí liên quan tới công ti; - Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật về giao dịch thành lập công ti vô hiệu; - Phân tích, làm rõ những vấn đề lí luận về công ti vô hiệu, về trách nhiệm tài sản của thành viên, cổ đông sáng lập của công ti trong trường hợp giao dịch thành lập công ti bị vô hiệu, về mối liên hệ giữa các quy định những trường hợp hạn chế quy chế được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn của cổ đông, thành viên sáng lập công ti với sự hiện tư cách pháp nhân của công ti và xử lý công ti vô hiệu trong trường hợp tổng quát và nghĩa vụ tài sản của công ti vô hiệu phát sinh từ các giao dịch đã, đang thực hiện với bên thứ ba. - Đề xuất quan điểm định hướng và những giải pháp về xây dựng quy định chế định công ti vô hiệu trong pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê, nghiên cứu lí luận với thực tiễn…Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng, pháp luật do Nhà nước ban hành và so sánh pháp luật về tổ chức công ti của Việt Nam với pháp luật một số nước điển hình trên thế giới. 5. Những đóng góp của luận văn 9 Luận văn có những đóng góp mới cơ bản sau: - Nêu lên những bất cập, sự mâu thuẫn từ thực trạng thiếu những quy phạm pháp luật căn bản, tương đối quan trọng là quy định bản chất pháp lí của công ti và công ti vô hiệu của Luật doanh nghiệp. Do vậy, khi xử lý các vi phạm trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh có gắn với vi phạm pháp luật công ti ngay từ khi đăng ký kinh doanh và việc thực hiện, chấp hành các bản án, quyết định của Tòa án giải quyết các tranh chấp đó chưa có sự thống nhất về luật áp dụng. - Đề xuất xây dựng quy phạm quy định về bản chất pháp lí của công ti là giao dịch dân sự. Sự vô hiệu của giao dịch thành lập công ti làm công ti bị vô hiệu theo. Trong trường hợp không sửa chữa khắc phục sự vô hiệu hoặc không thể sửa chữa được thì công ti bị vô hiệu tuyệt đối và bị thanh lý như trường hợp giải thể. Sự vô hiệu công ti không có hiệu lực hồi tố mà chỉ có hiệu lực cho tương lai tính từ thời điểm bị tuyên vô hiệu. - Đề xuất xây dựng quy phạm quy định về hệ quả pháp lí của công ti vô hiệu và quy định về mối quan hệ giữa thành viên, cổ đông sáng lập và hiện hữu của công ti với công ti trong trường hợp công ti bị tuyên bố vô hiệu. - Chế định công ti vô hiệu sẽ góp phần làm hoàn thiện về những nội dung pháp lí cần thiết và kiện toàn tính thống nhất của hệ thống pháp luật về công ti, đồng thời đảm bảo sự vận hành và thực thi pháp luật có hiệu quả. 6. Cơ cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương. 10 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TI VÔ HIỆU 1.1. Khái niệm về công ti, đặc điểm của công ti và phân loại công ti Là một thực thể kinh tế, xã hội, công ti là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lí. Công ti ra đời, tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử xã hội nhất định và là kết quả tất yếu của nền kinh tế thị trường mà ở đó công dân có quyền tự do kinh doanh, hoạt động phù hợp với pháp luật do Nhà nước ban hành. Các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh mong muốn tìm kiếm lợi nhuận, vì vậy cố gắng tìm những hình thức kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận cao hơn đồng thời có thể hạn chế rủi ro. Các khái niệm, quan điểm, quan niệm về công ti trong khoa học pháp lí cần phản ánh những khía cạnh kinh tế, khía cạnh pháp lí của công ti và làm rõ cơ sở để phân biệt công ti với các chủ thể pháp lí khác trong xã hội. 1.1.1. Khái niệm về công ti Từ góc độ kinh tế, người ta xem doanh nghiệp như một cái áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh, mối quan tâm của kinh tế học không phải là tư cách pháp nhân của công ti mà là chi phí để huy động vốn, tổ chức lao động, tiến hành kinh doanh và các chi phí để phối hợp các yếu tố đó với nhau [21, tr. 250-251]. Có quan điểm cho rằng công ti là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện hoạt động kinh doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính. Theo quan điểm này công ti được hiểu đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh. Có quan điểm khác lại cho rằng công ti chỉ bao gồm những chủ thể kinh doanh đáp 11 ứng được những điều kiện nhất định có tên riêng, có tài sản riêng, trụ sở giao dịch ổn định, được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh. Theo đó công ti là một loại chủ thể kinh doanh. Khi nhiều người hợp lại để cùng góp sức thực hiện một mục đích hay để thực hiện một công việc chung giữa họ cần có sự liên kết dưới hình thức lập hội. Mục đích của hội có thể vì mục tiêu phi lợi nhuận hoặc mục tiêu chính là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. Luật thương mại chỉ chi phối những hội nào được thành lập với mục đích sinh lời, kiếm lãi dưới hình thức pháp lí được gọi là công ti mà thôi [43, tr. 63]. Pháp luật của Nhật Bản quy định “Công ti là hội được thành lập nhằm mục đích tiến hành các giao dịch thương mại như một thương doanh” [25, Điều 52]. Khái niệm công ti phổ biến ở các nước là quan niệm coi công ti là đơn vị kinh doanh hợp pháp, được thành lập theo quy định của pháp luật để tiến hành hoạt động kinh doanh hay công ti là chủ thể có nghề nghiệp chính là hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, ở một số nước vẫn còn tồn tại loại hình công ti hoạt động vì lợi ích công cộng, do Nhà nước đầu tư vốn, cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với chúng cũng có những đặc điểm khác với những công ti có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Ở nước ta dưới thời Pháp thuộc, công ti được định nghĩa trước hết trong Bộ luật dân sự. Công ti là một khế ước do hai hay nhiều người thỏa thuận cùng xuất tài sản, góp lại, chung nhau, để lấy lợi mà chia nhau (Điều 1425 Bộ Dân luật Trung phần). Pháp luật của Việt Nam có đưa ra định nghĩa pháp lí về công ti. Công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ phần, gọi chung là công ti, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của 12 công ti trong phạm vi phần vốn của mình [29, Điều 2]. Theo định nghĩa này, tất cả các chủ thể có nghề nghiệp kinh doanh được xác lập tư cách hợp pháp đều là doanh nghiệp (công ti). Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” [29, Điều 3]. Với quy định này, công ti được hiểu là chủ thể kinh doanh, phù hợp với cách hiểu phổ biến trên thế giới về chủ thể kinh doanh. Quan niệm, định nghĩa pháp lí về doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp năm 1999, 2005 về cơ bản vẫn được giữ nguyên mặc dù khoảng thời gian ban hành hai đạo luật cách xa nhau là 6 năm. Theo đó doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [35, Điều 4]. Theo định nghĩa này, chỉ có những chủ thể kinh doanh thỏa mãn những điều kiện nhất định mới có tư cách doanh nghiệp (công ti). Tiếp cận từ góc độ pháp lí, công ti được hiểu là một loại chủ thể pháp luật và có nghề nghiệp kinh doanh. Với tư cách chủ thể pháp luật, công ti có năng lực chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu của doanh nghiệp và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với đối tượng quyền sở hữu mà còn là mối quan hệ giữa các chủ thể pháp lí độc lập. Tính chất chủ thể pháp lí độc lập của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ tài sản trong kinh doanh. Tư cách pháp lí được xác lập bằng thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của luật công ti. Tư cách pháp lí của công ti là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa công ti với các thành viên, cổ đông sáng lập và những người 13 quản trị của công ti. Công ti được thành lập hợp pháp là cơ sở pháp lí để xác định trong mối quan hệ giữa công ti và các thành viên, cổ đông của mình đối với các nghĩa vụ và tài sản của công ti họ có cơ sở pháp lí được hưởng quy định về chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp vào công ti và ngược lại. Ngoài ra, với tính chất là một thực thể sống trong xã hội, công ti có thể và cần thiết thực hiện những hoạt động khác không phải là hoạt động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của mình hoặc theo quy định của pháp luật. 1.1.2. Đặc điểm của công ti theo quan niệm cổ điển Quyền và nghĩa vụ của công ti, tư cách pháp lí của pháp nhân công ti do pháp luật quy định tạo nên sự tách biệt tư cách của công ti với các thành viên hay cổ đông của nó. Theo quan niệm cổ điển công ti có các đặc điểm quan trọng sau: Thứ nhất, công ti do hai hay nhiều người thành lập; thứ hai, khi tham gia công ti các thành viên hay cổ đông phải cam kết góp vốn vào công ti; thứ ba, mục đích của công ti là kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận. a. Đặc điểm thứ nhất, công ti là doanh nghiệp có sự tham gia của nhiều người (thể nhân, pháp nhân) Trên nguyên tắc, muốn lập hội ít ra phải có hai thành viên. Riêng đối với công ti cổ phần, phần đông các nước kể cả Việt Nam trước năm 1999 đều quy định bắt buộc ít nhất phải có bảy thành viên (Điều 295 Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972). Đối với công ti trách nhiệm hữu hạn, ở các nước khác nhau có quy định khác nhau về số thành viên tối đa. Luật công ti năm 1990 không quy định số lượng thành viên tối đa, nhưng đến Luật doanh nghiệp năm 1999 đã khắc phục nhược điểm này bằng quy định thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn 14 tối đa là 50 thành viên [32, Điểm c Khoản 1 Điều 26]. Ở Nam Phần, Bộ luật thương mại không hạn chế số hội viên, nhưng ở Trung Phần thì Bộ luật thương mại tại Điều 64 lại ấn định số hội viên tối đa là 20 người. Bộ luật thương mại Việt Nam Cộng hòa năm 1972 cũng không hạn chế chỉ ấn định số hội viên tối thiểu là hai người (Điều 208). Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, số lượng người sáng lập công ti trường hợp luật định rõ là công ti ít nhất phải có hai thành viên hoặc có ba cổ đông, ngoại trừ công ti do một người làm chủ như công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc doanh nghiệp tư nhân. Quan điểm về một người có thể lập hội với chính mình hay không lại không có sự thống nhất giữa các nước. Ở Việt Nam, một người có thể đứng ra thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn và chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn điều lệ của công ti [35, Điều 63]. Khác biệt với chúng ta, theo quan điểm của Pháp, một người không thể đứng ra lập một hội, vì mỗi người chỉ có được một sản nghiệp; tất cả tài sản, của cải của mỗi người đều họp lại thành một khối duy nhất là sản nghiệp của người ấy. Nếu chấp nhận cho một người được một mình lập thành một hội thì sản nghiệp sẽ chia thành hai khối biệt lập, một phần được xung dụng vào hội, một phần ở ngoài, do đó một người sẽ thành có hai sản nghiệp, trái với nguyên tắc nói trên [45, tr. 686]. b. Đặc điểm thứ hai, người muốn tham gia công ti phải góp tài sản vào công ti Thành viên, cổ đông của công ti phải góp vốn bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng quyền tài sản để chứng tỏ ý chí muốn thành lập công ti và để tạo thành vốn, sản nghiệp hay tài sản riêng của công ti. Đồng thời thiết lập quyền sở hữu sở hữu của thành viên, cổ đông đối với công ti. Tài sản của công ti biệt lập với tài sản riêng của mỗi người góp vốn. Công ti là một chủ thể pháp lí 15 độc lập và là chủ nhân của sản nghiệp do các thành viên, cổ đông đóng góp khi thành lập công ti. Các thành viên vẫn chỉ có một sản nghiệp, trong đó có một thành tố là phần vốn góp trong công ti. Mọi giao dịch của công ti trực tiếp hay gián tiếp đều có ảnh hưởng trực tiếp hay gián đến tài sản của công ti, do đó mọi giao dịch của công ti phải do đa số thành viên, cổ đông hay thuộc thẩm quyền của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị quyết định. Tài sản của công ti do các thành viên, cổ đông đem góp làm tài sản chung nhưng không phải là tài sản chung của chủ các tài sản đã góp, bởi vì các tài sản này hợp thành tài sản của chủ thể pháp lí có tư cách pháp nhân là công ti làm chủ sở hữu. Việc góp vốn theo cách thức chuyển quyền sở hữu tài sản và bàn giao tài sản đó cho công ti của người góp vốn giống như quan hệ người bán bảo đảm cho người mua về quyền sở hữu đối với tài sản. Việc chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ti chỉ phải thực hiện sau khi công ti được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bởi vì với tư cách pháp nhân công ti có quyền có tài sản riêng. Hội kinh doanh hoặc công ti, sau khi đăng ký theo đúng những quy định trở thành một pháp nhân khác biệt với các hội viên hoặc cổ đông hợp thành các hội hoặc công ti đó [24, Điều 1015]. Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ti tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền; còn đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản [35, Điều 29]. c. Đặc điểm thứ ba của công ti là, công ti được thành lập nhằm mục đích sinh lợi Công ti thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại, bao gồm hoạt động trực tiếp theo 16 đăng ký kinh doanh và các hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thương mại. Mục đích sinh lợi là dấu hiệu quan trọng để phân biệt công ti thương mại với các hội, quỹ, tổ hợp tác, hợp tác xã. Sự kiếm lời là một đặc tính của việc thành lập công ti, là nguyên nhân thúc đẩy việc liên kết góp vốn, là mục đích mà người góp vốn theo đuổi bằng việc gia nhập công ti. Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó. Một hội hay tổ chức được thành lập vì lợi ích công cộng hoặc nhiều khi vì lợi ích của riêng một nhóm người cá biệt nhưng lợi ích này không nhằm vào việc kiếm lời chia nhau, vì thế về bản chất vẫn là hiệp hội mà không thể coi là công ti. Tóm lại, phải nhận định và phân biệt kỹ công ti với hiệp hội vì mỗi loại có một chế độ pháp lí riêng: công ti được tự do thành lập nhưng phải đăng ký và công bố công khai; hiệp hội cũng được tự do thành lập nhưng phải được Nhà nước cho phép; công ti có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh, được chia lợi tức nhưng hiệp hội không có quyền này. 1.1.3. Phân loại công ti 1.1.3.1. Lược sử sự xuất hiện của công ti trên thế giới và ở Việt Nam (i) Thương gia thực hiện hoạt động thương mại thành lập ra các tổ chức dựa trên những cam kết góp vốn, quản lý, trách nhiệm giữa các thành viên, sau đó pháp luật mới thừa nhận và dần dần hoàn thiện quy chế pháp lí cho các loại công ti. Sự ra đời của các loại hình công ti kéo theo nhu cầu cần phải có luật lệ để điều chỉnh hoạt động kinh doanh để đảm bảo các mục tiêu, định 17 hướng chung của Nhà nước và duy trì trật tự ổn định kinh tế xã hội. Công ti xuất hiện trong xã hội với tư cách là một loại chủ thể kinh doanh kéo theo sự xuất hiện pháp luật về công ti với tư cách là biểu hiện về mặt pháp lí của thực tại khách quan đó. Luật công ti là sự đảm bảo pháp lí cho sự hợp tác kinh doanh, liên kết góp vốn trên nhiều phương diện khác nhau để tạo ra sức mạnh to lớn cũng như góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện cơ chế kinh tế và hoàn thiện pháp luật kinh tế. Luật công ti là cơ sở pháp lí cho sự ra đời và hoạt động của một loại hình doanh nghiệp có tổ chức, mặc dù vậy nó không hạn chế các loại hình doanh nghiệp và các cá nhân kinh doanh khác [27, tr. 118-119]. Luật công ti hiện đại ra đời trong thời kỳ tư hóa tư sản đã phát triển đến mức độ cao. Loại hình công ti thương mại đối nhân xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu, còn loại hình công ti cổ phần cũng xuất hiện đầu tiên ở Châu Âu và về sau xuất hiện tiếp ở Châu Mỹ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Sự ra đời của công ti phát sinh từ nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế khi nền sản xuất hàng hóa đạt đến một trình độ nhất định, quan hệ kinh doanh mua bán có nhu cầu rất lớn về vốn đã đưa đến nhu cầu tất yếu là sự liên kết giữa các nhà đầu tư với nhau để tăng thêm sức mạnh về dòng vốn và khả năng cạnh tranh trong quá trình hoạt động tại thị trường trong nước và liên quốc gia. Sự liên kết dựa trên sự tin cậy uy tín, quen biết nhau khá tường tận có hình thức tương ứng là công ti đối nhân. Còn sự liên kết kinh tế dựa trên cơ sở vốn góp và tài sản góp vốn có hình thức công ti phù hợp tương ứng là công ti đối vốn. Sự liên kết đó tạo nên những thuận lợi trong việc huy động vốn và có thể chia sẻ rủi ro trong kinh doanh. Mô hình công ti đã tỏ ra phù hợp với quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường vì nó đáp ứng nhu cầu về quy mô vốn và giới hạn trách nhiệm trong kinh doanh của các nhà đầu tư. Đồng thời mô hình này cũng đáp ứng được thuộc tính mềm dẻo, năng động, linh hoạt 18 trong hoạt động kinh doanh. Công ti ra đời là kết quả của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội. Cộng hòa Pháp ban hành Luật thương mại từ năm 1807 nhưng đến năm 1867 mới cho phép doanh nhân thành lập công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn. Luật công ti chung của Hoa Kỳ được ban hành ở NewYork vào năm 1811, theo đó xác định cá nhân có các quyền trong công ti kể từ thời điểm đăng ký kinh doanh. Ở Anh, việc đăng ký kinh doanh được đưa ra trong Luật công ti năm 1844, nhưng vấn đề trách nhiệm hữu hạn chỉ được đưa ra vào khoảng thời gian năm 1855 - 1862. Ở Cộng hòa Liên bang Đức Luật công ti cổ phần được ban hành vào năm 1870 nhưng sau đó, đến năm 1892 mới có Luật công ti trách nhiệm hữu hạn. Công ti trách nhiệm hữu hạn ngày càng trở nên phổ biến hơn so với loại hình công ti cổ phần. Về thành lập công ti, đa số các nước đều quy định về thủ tục kinh doanh cần phải có giấy phép hay các chủ thể có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh tại Tòa án hoặc tại cơ quan đăng ký đăng ký kinh doanh chuyên trách dựa trên căn cứ là bản khai của những chủ thể thành lập công ti và căn cứ vào kết quả thẩm định của các chuyên gia kiểm toán độc lập. Hiện nay trên thế giới luật công ti chủ yếu được các quốc gia quy định là thuộc lĩnh vực luật tư. (ii) Dưới thời Pháp thuộc luật lệ của Pháp được áp dụng trên các vùng lãnh thổ khác nhau của Việt Nam. Thời kỳ này với sự tồn tại của hội buôn của người Việt thành lập theo hình thức các hội dự phần và hội trách nhiệm có hạn. Đó chính là các hình thức của công ti giản đơn và sau này những yếu tố đặc thù của hội buôn đã được kế thừa trong pháp luật về công ti thương mại. Luật lệ về công ti được quy định đầu tiên ở Việt Nam là trong Dân luật được thi hành tại các Tòa án Nam Án Bắc Kỳ năm 1913 với quy định về các hội buôn. Thời kỳ đó, hội gồm có hai loại là hội buôn và hội thường. Hội buôn có 19 mục đích kiếm lời lãi bằng tiền bạc để chia cho các hội viên. Hội thường không có mục đích tìm kiếm lợi nhuận mà thường có mục đích khuyến khích hoạt động văn hóa thể thao, từ thiện, tôn giáo. Trong khi đó, hội buôn có hội buôn thương mại (có mục đích mua hàng hóa vào để bán, có mục đích thương mại) và hội buôn dân luật (hội buôn theo dân luật). Hội buôn thương mại chia ra hội họp người, hội họp vốn và hội trách nhiệm có hạn. Khi hai hay nhiều người tin cậy lẫn nhau, mến phục tài năng, kinh nghiệm, từng trải của nhau và lập hội trên cơ sở đó thì hội này gọi là hội họp người. Các hội viên không quen biết nhau, không biết tên tuổi của nhau, họ chỉ biết có vốn góp vào hội mong để kiếm lời và có thua lỗ thì chỉ mất số vốn đã góp, hội đó là hội họp vốn. Hội trách nhiệm có hạn là hội mang tính cách của cả hội họp vốn và hội họp người, tức là tư cách riêng của hội viên không có tính quyết định vì nguyên tắc giải quyết công việc trong hội là đa số thắng thiểu số và ngoài phần vốn góp thì hội viên không còn trách nhiệm gì thêm nữa. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1986, thành phần kinh tế tư nhân hầu như không được tồn tại, phát triển và là đối tượng chủ yếu bị đưa vào tập thể hóa. Nhà nước chỉ thừa nhận có hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể, bao trùm trong các hoạt động sản xuất của nền kinh tế là mệnh lệnh, kế hoạch của Nhà nước từ sản xuất đến tiêu thụ. Nhà nước không khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân phát triển, ngăn cấm sự liên kết để kinh doanh và đầu tư cho những dự án lớn giữa các cá nhân. Trong nền kinh tế sự cạnh tranh bị triệt tiêu và trên cơ sở hạ tầng đó pháp luật về công ti đương nhiên là không tồn tại và công ti cũng không được tồn tại theo đúng nghĩa của nó. Từ sau năm 1986, pháp luật về công ti được ban hành và gắn liền với chính sách đổi mới kinh tế của nước ta khi chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu 20 tập trung bao cấp sang thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986 và gắn liền với Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI. Đây là sự kiện quan trọng vì đã thể hiện sự thay đổi căn bản trong chính sách quản lý kinh tế, xóa bỏ dần sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế ở tầm vĩ mô và quản lý kinh tế bằng sử dụng các công cụ như pháp luật, thuế, phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong những lĩnh vực, ngành then chốt của nền kinh tế. Với cơ sở hạ tầng đã thay đổi, thì kiến trúc thượng tầng tất yếu phải thay đổi theo. Pháp luật là công cụ hiệu quả để Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội và trong pháp luật phải thể chế hóa chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước, cụ thể là thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, phát triển nền kinh thị trường với sự đa dạng về hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh để phát triển. Để điều chỉnh hoạt động kinh doanh cần có một đạo luật riêng, thể hiện cuộc thay đổi có tính chất cách mạng về tư duy quản lý kinh tế là Luật công ti được ban hành ngày 21/12/1990 là một trong những đạo luật đầu tiên quy định về công ti, là kết quả tất yếu của sự đổi mới phát triển kinh tế và phù hợp với yêu cầu đổi mới toàn diện mà Đảng đã đề ra. Quyền tự do kinh doanh, một trong những quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp công nhận. Trên cơ sở đó, quy định về địa vị pháp lí của công ti trong các văn bản dưới luật đơn hành khác nhau đã dần được luật hóa và quy định chính thức trong các văn bản luật như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật công ti năm 1990. Trên cơ sở pháp lí đó, khoa học pháp lí về luật kinh tế đã hình thành và phát triển ở Việt Nam. Sau 9 năm thực hiện Luật công ti, Nhà nước ta tiếp tục ban hành các đạo Luật về công ti nhằm hoàn thiện và chuẩn hóa pháp luật về công ti. Từ những thành công của Luật doanh nghiệp năm 1999 khi đi vào cuộc sống, đến 21
- Xem thêm -