Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (nghiên cứu trường hợp tại huyện triệu phong, tỉnh quảng trị)

  • Số trang: 143 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 143 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ HỒ SỸ THÁI CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NẠN NHÂN BOM MÌN (Nghiên cứu trƣờng hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã hội Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ HỒ SỸ THÁI CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NẠN NHÂN BOM MÌN (Nghiên cứu trƣờng hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Công tác xã hội Mã số: 60.90.01.01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa Hà Nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN Luận văn này là do tôi hoàn thành. Những số liệu, thông tin được trình bày trong đó là dựa trên thực tế và hoàn toàn chân thực. Các tài liệu được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng và xin nhận hoàn toàn trách nhiệm về những gì liên quan tới luận văn này. Học viên Hồ Sỹ Thái LỜI CẢM ƠN Sau thời gian học tập, nghiên cứu và thực tập tại địa bàn, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)”. Để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm và các thầy cô giáo trong Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tạo điều kiện học tập, nghiên cứu và truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã tận tình chỉ bảo, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và người dân huyện Triệu Phong, cán bộ Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu và tham gia các hoạt động nghiên cứu mà tôi triển khai. Mặc dù có nhiều cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn có thể hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Học viên Hồ Sỹ Thái MỤC LỤC Trang MỤC LỤC……………………………………………………………………1 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……………………………………………...3 DANH MỤC BẢNG BIỂU………………………………………………….4 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài…………………………………………………...5 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu………………………………………….7 3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu………………………….15 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………15 5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu…………………………...16 6. Câu hỏi nghiên cứu…………………………………………………...17 7. Giả thuyết nghiên cứu………………………………………………...17 8. Phương pháp thu thập thông tin………………………………………17 NỘI DUNG Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 1.1. Các khái niệm liên quan………………………………………………20 1.1.1. Bom mìn………………………………………………………………20 1.1.2. Nạn nhân bom mìn……………………………………………………20 1.1.3. Công tác xã hội……………………………………………………….21 1.1.4. Công tác xã hội nhóm………………………………………………...22 1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu………………………………...24 1.2.1. Thuyết nhu cầu………………………………………………………..24 1.2.2. Thuyết vai trò…………………………………………………………25 1.2.3. Thuyết trao đổi xã hội………………………………………………...27 1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu…………………………………………28 1.3.1. Khái quát về tỉnh Quảng Trị………………………………………….28 1.3.2. Khái quát về huyện Triệu Phong……………………………………...29 1 Chƣơng 2. Thực trạng vấn đề bom mìn và công tác khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong 2.1. Tình hình bom mìn còn sót lại sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong…32 2.2. Nguyên nhân và hậu quả của tai nạn bom mìn sau chiến tranh………...37 2.2.1. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn bom mìn……………………………….37 2.2.2. Hậu quả của tai nạn bom mìn………………………………………...45 2.3. Công tác khắc phục hậu quả bom mìn tại huyện Triệu Phong………….55 2.3.1. Hoạt động rà phá bom mìn…………………………………………....55 2.3.2. Hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom mìn……………………..58 2.3.3. Hoạt động giáo dục phòng tránh bom mìn…………………………....60 2.3.4. Hoạt động hỗ trợ nạn nhân…………………………………………...63 Chƣơng 3. Tình hình nạn nhân bom mìn và hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn 3.1. Vài nét về đặc trưng nhân khẩu học của nạn nhân bom mìn tại huyện Triệu Phong………………………………………………………………….67 3.2. Thành lập nhóm và đề xuất các hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn………………………………………………………………..73 3.2.1. Đánh giá khả năng thành lập và xác định mục tiêu của nhóm……….73 3.2.2. Các hoạt động công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn………...76 3.2.2.1. Các hoạt động nhằm mục đích thay đổi không khí trong nhóm và trị liệu…………………………………………………………………………...76 3.2.2.2. Các hoạt động nhằm mục đích lấy ý kiến của nhóm, giúp nhóm viên học kỹ năng mới……………………………………………………………...87 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……………………………………….105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CTXH : Công tác xã hội GDPTBM : Giáo dục phòng tránh bom mìn PVS : Phỏng vấn sâu Renew : Restoring the Enviroment and Neutralizing the Effects of the War Phục hồi môi trường và khắc phục hậu quả chiến tranh TLN : Thảo luận nhóm 3 DANH MỤC BẢNG BIỂU Số bảng Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Nội dung Kết quả khảo sát về hoàn cảnh gặp bom mìn xếp theo thứ tự. Kết quả khảo sát về nguyên nhân dẫn đến tai nạn bom mìn. Kết quả khảo sát về hậu quả của tai nạn bom mìn đối với nạn nhân. Trang 33 38 46 Bảng 2.4 Thống kê hoạt động rà phá bom mìn 56 Bảng 2.5 Số làng có hoạt động rà tìm phế liệu chiến tranh 57 Bảng 2.6 Bảng 2.7 Bảng 2.8 Bảng 2.9 Bảng 3.1 Bảng 3.2 Bảng 3.3 Bảng 3.4 Bảng 3.5 Bảng 3.6 Các hoạt động thu thập thông tin, thống kê bom mìn. Số làng có hoạt động GDPTBM. Số làng có phủ sóng chương trình GDPTBM trên truyền hình. Các hoạt động GDPTBM do Tổ chức Phi chính phủ thực hiện. Kết quả khảo sát về đối tượng dễ bị tai nạn bom mìn. Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện bom mìn. Kết quả khảo sát về hành vi khi phát hiện tai nạn bom mìn. Kết quả khảo sát về dấu hiệu nhận biết khu vực có bom mìn. Kết quả khảo sát về tần suất gặp phải bom mìn. Kết quả khảo sát về kinh nghiệm phòng tránh tai nạn bom mìn. 4 59 60 61 62 68 82 84 89 94 98 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Chiến tranh đi qua đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với mảnh đất và con người Việt Nam, đặc biệt là dải đất miền Trung. Nhiều di chứng của chiến tranh cho đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong đó, bom mìn còn sót lại đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa tính mạng người dân cũng như gây ra nhiều hậu quả về môi trường và xã hội. Huyện Triệu Phong là một trong những địa phương gánh chịu hậu quả chiến tranh khốc liệt nhất của tỉnh Quảng Trị - chiến địa của những trận đánh ác liệt trong lịch sử (1954 - 1975). Đây từng là địa bàn có các căn cứ quân sự lớn của Mỹ ngụy như sân bay Ái Tử, quân cảng Cửa Việt, căn cứ Phượng Hoàng và nhiều vị trí phòng thủ trọng yếu khác. Là vành đai bảo vệ thị xã Quảng Trị - thị xã tỉnh lỵ thời ngụy quyền Sài Gòn, là nơi từng diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai bên nên nơi đây phải hứng chịu một khối lượng lớn bom mìn. Hàng trăm ngàn tấn bom, đạn các loại đã trút xuống mảnh đất này. Các căn cứ quân sự, đồn bốt của quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn được bố trí dày đặc, ẩn chứa xung quanh là những bãi mìn sát thương. Mảnh đất này như oằn mình lên vì những vết sẹo bom mìn cày xới. Theo ước tính của chính quyền địa phương, hầu hết các địa bàn trong huyện đều bị ảnh hưởng bởi bom mìn và đây là khu vực có mức độ ô nhiễm bom mìn cao nhất tỉnh Quảng Trị (chiếm hơn 37% tỷ lệ bom mìn còn sót lại sau chiến tranh của toàn tỉnh) [53]. Gần 40 năm sau ngày giải phóng, các cấp chính quyền cùng nhân dân huyện Triệu Phong đã và đang nỗ lực hết mình hàn gắn vết thương chiến tranh. Giờ đây, mảnh đất qua bao năm dài chiến sự, chịu bao đau thương, mất 5 mát, được sự đồng lòng, gắng sức của chính quyền và nhân dân đang từng ngày hồi sinh. Tuy nhiên, nhiều vùng đất tưởng rằng sẽ đem lại ấm no, thịnh vượng cho người dân lại ẩn chứa trong nó những loại vũ khí chết người mà qua thời gian không mất đi tính năng tàn sát, hủy diệt. Chúng vẫn chờ đợi để một ngày nào đó cướp đi sinh mạng hay để lại thương tật, sự ám ảnh về tâm lý suốt đời cho các nạn nhân xấu số, đó có thể là những thanh niên khỏe mạnh, bác nông dân, cụ già hay chỉ là em học sinh nhỏ… và gây nên những nỗi đau không thể nào bù đắp được cho các gia đình nạn nhân, cho cộng đồng. Theo thống kê của Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị, từ sau ngày chiến tranh kết thúc cho đến nay (1975 - 2013), số nạn nhân tai nạn bom mìn của huyện là 1293 người, chiếm tỉ lệ cao nhất (18,4%) so với các địa phương khác trong tỉnh Quảng Trị. Số nạn nhân tử vong do tai nạn bom mìn của huyện là 474 người, chiếm tỉ lệ 18,1% so với tổng số nạn nhân tử vong toàn tỉnh (cao thứ hai sau huyện Hải Lăng) [78]. Rõ ràng là “Sau chiến tranh vẫn chưa hết chiến tranh”, “Sau những nỗi buồn vẫn còn lại những nỗi buồn”. Ngày ngày, đâu đó trên những ruộng lúa, bãi ngô, cánh rừng, bãi cát hay trong các khu dân cư, xóm làng thanh bình nơi đây vẫn vang lên tiếng nổ kinh hoàng và sau đó là biết bao nỗi đau: người chết, kẻ bị thương, vợ mất chồng, con mất cha, mất mẹ, anh mất em… Phần lớn tai nạn xảy ra do các nạn nhân tò mò; thiếu hiểu biết về các loại bom mìn, tác hại của chúng; thiếu sự chú ý khi đi vào các khu vực nguy hiểm; thiếu những kỹ năng cơ bản để phòng tránh cũng như cảnh báo cho người khác tránh nguy hiểm. Do đó, nguy cơ tai nạn không chỉ xảy ra đối với những người dân bình thường mà với nạn nhân đã từng bị tai nạn thì mối nguy hiểm này vẫn có khả năng lặp lại. Với tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên, tôi đã chọn hướng nghiên cứu“CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu 6 trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình. Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng tránh và giảm thiểu hậu quả chiến tranh, đặc biệt là hậu quả của bom mìn còn sót lại; thông qua các hoạt động CTXH nhóm được đề xuất nhằm tạo môi trường sinh hoạt cho các nạn nhân, chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng trong nhóm, hỗ trợ nạn nhân vượt qua những khó khăn về mặt tâm lý. Từ đó, giúp các nạn nhân tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung. 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Bom mìn còn sót lại và tai nạn bom mìn sau chiến tranh là vấn đề được các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể, đơn vị quân đội, nhân dân địa phương cũng như các tổ chức Phi chính phủ trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực này đặc biệt quan tâm. Những năm qua, đã và đang có nhiều kế hoạch, chương trình, dự án được tiến hành tại tỉnh Quảng Trị nói chung, huyện Triệu Phong nói riêng về thống kê, khảo sát thực trạng bom mìn sau chiến tranh, tai nạn bom mìn và hỗ trợ nạn nhân… Đi kèm theo đó là những bài viết, nghiên cứu, báo cáo được thực hiện một cách cụ thể, chi tiết về các vấn đề liên quan. 2.1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Vấn đề bom mìn và hậu quả của nó trong các ấn phẩm nước ngoài trước đây chủ yếu là hồi ký về những ngày tháng ở chiến trường của các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Trong cuốn hồi ký xuất bản tại Mỹ vào năm 1991 “The Vietnam Wars 1945 – 1990” của tác giả Marilyn B.Young – một cựu binh từng tham gia nhiều chiến dịch ở Quảng Trị đã mô tả về những trận đánh ác liệt như chiến 7 dịch Lam Sơn 719, Dốc Miếu, Ái Tử, La Vang… Trong đó, ông dành nhiều trang viết để tái hiện lại hình ảnh sân bay quân sự Ái Tử - nơi mà ông đã có thời gian dài ở đây trong khoảng những năm 1967 – 1973 “…sân bay Ái Tử với hàng rào thép gai kiên cố và những bãi mìn sát thương phân bố dày đặc phía bên trong và bên ngoài hàng rào nhằm chống sự xâm nhập của Bắc Việt…” [72, tr43]. Hay những chi tiết kể về nỗi ám ảnh của quân viễn chinh Mỹ đóng ở sân bay Ái Tử khi hàng ngày phải đối mặt với hiểm họa bom mìn do chính họ gây ra “…đó là những ngày tháng chúng tôi luôn sống trong sợ hãi và lo lắng bởi những tiếng nổ của bom, tiếng gầm rú của máy bay và sự hy sinh của những người bạn khi vướng phải mìn do chính đất nước chúng tôi mang đến mảnh đất này…”[72, tr56]. Như vậy, mặc dù đã xa Việt Nam nhưng qua ký ức của người cựu binh Mỹ về một vùng đất đầy bom mìn, tang thương, chết chóc cũng giúp chúng ta hình dung được mức độ ô nhiễm bom mìn và tác hại to lớn của nó trên địa bàn huyện Triệu Phong. Năm 1993, báo cáo do Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ (VVMF) thực hiện với tên gọi Socio - Economic Report on the Impact of Landmines [77] đã đưa ra những đánh giá ban đầu về các tác động kinh tế xã hội do tai nạn bom mìn gây nên tại Việt Nam, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Trị. Báo cáo cũng đi sâu, tập trung phân tích, mô tả, thống kê thực trạng bom mìn và tai nạn bom mìn từ sau khi chiến tranh kết thúc và những số liệu ước tính về thiệt hại con người, kinh tế, môi trường do tai nạn bom mìn gây nên. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh tác động về mặt kinh tế của bom mìn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương sau khi chiến tranh kết thúc. Theo đó, bom mìn và tai nạn bom mìn là nguyên nhân hàng đầu cản trở những nỗ lực phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân bởi vì nó đã hạn chế diện tích đất sử dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, cơ sở sản xuất công nghiệp, công trình dân sinh như nhà 8 ở, bệnh viện, trường học… Từ đó, kéo theo những hệ quả như tình trạng người dân thiếu đất sản xuất, không có việc làm, năng suất sản xuất nông nghiệp bị giảm sút, cơ sở hạ tầng các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh không có điều kiện được khắc phục và phát triển, do đó càng trở nên thiếu thốn, lạc hậu. Tuy nhiên, có rất ít trang đề cập đến vấn đề này tại huyện Triệu Phong. Các nghiên cứu khác được công bố ở Mỹ, Úc và Anh như War of the Mines của tác giả Davis, P. (1994) [69], After the Guns Fall Silent: The Enduring Legacy of Landmines của hai tác giả Roberts & William J. (1995) [75], The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan (1996) [70]… đa phần là những hồi ký, ghi chép của các cựu binh, nhà báo chiến trường, những nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. Trong các nghiên cứu này chủ yếu mô tả toàn cảnh cuộc chiến và những hậu quả của nó để lại trong và sau chiến tranh, trong đó có tai nạn bom mìn. Cuốn sách The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam của Jim Monan công bố năm 1996 đã phân tích những tác động của vấn đề bom mìn đối với đối tượng là trẻ em. Phần đầu cuốn sách là những dòng hồi ức về vùng đất đầy bom mìn, vũ khí, sự giao tranh mà tác giả đã có khoảng thời gian dài được chứng kiến. Qua việc mô tả lại sự ác liệt trong thời kỳ chiến tranh tại Quảng Trị, tác giả một lần nữa khẳng định tính chất nguy hiểm và ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh đối với người dân sống tại vùng đất này. Với đối tượng trẻ em, tác giả đưa ra những câu chuyện về các trường hợp các em nhỏ bị trúng bom, dẫm phải mìn hay bị trúng đạn khi đi di tản trong thời kỳ chiến tranh diễn ra. Mặc dù không thống kê chính xác số trẻ em bị chết trong chiến tranh do bom mìn nhưng theo tác giả thì “…con số đó thực sự là một con số khiến chúng ta phải suy ngẫm và tự vấn bản thân…” [70, tr57]. Tác giả cũng bày tỏ sự quan ngại khi chiến tranh đã kết 9 thúc nhưng tình trạng trẻ em bị tai nạn bom mìn không giảm, đặc biệt là các em bị tai nạn do đùa nghịch với các loại bom mìn còn sót lại. Qua việc phân tích những ảnh hưởng của bom mìn đối với trẻ em, tác giả cho rằng vấn đề này cũng mang tính cấp bách giống như vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em… và cần có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc giảm thiểu, đẩy lùi hiểm họa này, mang lại cuộc sống an toàn cho các em nhỏ. Năm 2003, tại Mỹ, Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ và dự án Renew phối hợp xuất bản cuốn sách A mine action program in Quang Tri Province, Viet Nam [73]. Đây là cuốn sách giới thiệu toàn bộ dự án Renew về khắc phục hậu quả bom mìn ở tỉnh Quảng Trị. Cuốn sách đã phân tích khá chi tiết thực trạng bom mìn sau chiến tranh tại địa phương, hậu quả của tai nạn bom mìn đối với người dân và sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, cuốn sách cũng lần lượt giới thiệu các vùng đất mà dự án Renew đang triển khai dự án, trong đó có địa bàn huyện Triệu Phong. Tuy nhiên, những số liệu thống kê, phân tích, mô tả thực trạng bom mìn được đề cập trong cuốn sách này chủ yếu là các số liệu định lượng, được thu thập và xử lý thông qua đội ngũ cán bộ dự án tại các địa bàn mà chưa có những nghiên cứu định tính, những phỏng vấn dành riêng cho người dân, nạn nhân, gia đình nạn nhân… để thấy được mức độ tác động của vấn đề đến người dân sống tại đó như thế nào hay nguyện vọng, mong muốn của họ ra sao… Như vậy, những bài viết, nghiên cứu được thực hiện ở nước ngoài về vấn đề bom mìn, hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, ở Triệu Phong tuy số lượng không nhiều nhưng cũng đã cho chúng ta những góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu, cựu binh bên kia chiến tuyến về vấn đề này. Điều đó cho thấy rằng, bom mìn và hậu quả của nó thực sự là ảnh hưởng lớn không chỉ đối với người dân tại địa phương mà còn là mối quan tâm của những người đã và đang nghiên cứu về nó. 10 2.2. Các nghiên cứu trong nƣớc Bên cạnh các bài viết, nghiên cứu được thực hiện và xuất bản ở nước ngoài; các nghiên cứu được thực hiện trong nước cũng góp phần làm đa dạng bức tranh tổng quan về tình hình bom mìn sau chiến tranh tại Quảng Trị, tại huyện Triệu Phong. Nghiên cứu được xem là sớm nhất về vấn đề này được thực hiện tại địa bàn huyện với tên gọi “Mìn và sự chậm phát triển: Nghiên cứu một trường hợp điển hình tại tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam” thực hiện năm 1997, của Jim Monan [12]. Thông qua việc tập trung phản ánh hậu quả chiến tranh và nêu ra câu chuyện thực tế của nạn nhân và thân nhân của họ, nghiên cứu giúp chúng ta hiểu được hậu quả tàn khốc mà bom mìn gây ra cho cuộc sống con người, cản trở đến sự phát triển của cộng đồng như thế nào? Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phân tích hậu quả do bom mìn để lại sau chiến tranh dưới góc độ môi trường và kinh tế. Do đó chưa đưa ra được những giải pháp nhằm khắc phục hậu quả, hỗ trợ nạn nhân và phát triển bền vững. Ngoài ra, từ khi mới thành lập vào năm 2001 đến nay, hằng năm, Văn phòng điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị đều xuất bản Báo cáo thường niên của văn phòng về thực trạng bom mìn tại các địa bàn dự án [53]. Báo cáo luôn cập nhật đầy đủ các số liệu về tình hình bom mìn thống kê được, số bom mìn đã tháo gỡ, bản đồ khu vực có bom mìn, số vụ tai nạn bom mìn, các hoạt động hỗ trợ nạn nhân, danh sách nạn nhân… Huyện Triệu Phong là một trong số những địa bàn quan trọng của dự án. Những nghiên cứu khác do Văn phòng Điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị phối hợp cùng các tổ chức, ban ngành, vùng dự án thực hiện cũng được xem là khá đầy đủ và cụ thể. Có thể kể đến như: “Nghiên cứu nhận thức - thái độ - hành vi về hiểm họa của bom mìn và tai nạn bom mìn sau chiến 11 tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [63] hoàn thành tháng 12/2002 do Renew phối hợp với Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực hiện. Cũng trong năm 2002, Renew phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Triệu Phong và Đại học Huế tiến hành nghiên cứu “Báo cáo khảo sát ảnh hưởng bom mìn ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” [65] nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân và tình hình kinh tế xã hội của huyện Triệu Phong . Tiếp theo các nghiên cứu đã thực hiện, tháng 9/2006, Văn phòng điều phối dự án Renew phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực hiện “Nghiên cứu tình hình nạn nhân bom mìn và nhận thức về hiểm họa bom mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [62]. Tuy nhiên, nhìn chung, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở tính chất những điều tra xã hội học. Kết quả nghiên cứu định lượng mới đưa ra số liệu thống kê số lượng bom mìn còn sót lại; số lượng nạn nhân đồng thời nêu lên nguyên nhân, hậu quả của thực trạng đó. Trong “Tham luận về vai trò lực lượng quân sự địa phương trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế thực hiện các hoạt động dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ nhân đạo” của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị năm 2005 tại Hội nghị tổng kết 5 năm công tác khắc phục hậu quả bom mìn và hỗ trợ nạn nhân đã tiếp tục khẳng định “Triệu Phong là một trong những địa bàn trọng điểm của các dự án rà phá bom mìn, phục hồi đất đai và hỗ trợ nạn nhân bởi vì tính chất và mức độ ô nhiễm bom mìn của địa phương trầm trọng so với những địa bàn khác trong toàn tỉnh. Do đó, mức độ ảnh hưởng của vấn đề đối với các nạn nhân cũng tăng lên” [4, tr15]. Bài viết đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động GDPTBM cho nạn nhân như tuyên truyền, tập huấn, trang bị những kỹ năng cơ bản cho người dân, cán bộ địa phương khi gặp bom mìn, khi cứu chữa người bị tai nạn bom mìn. Tuy nhiên, những hoạt động trên mới chỉ dừng lại ở tính chất định hướng, hướng dẫn phải làm như 12 thế nào chứ chưa đi sâu phân tích hiệu quả, hạn chế của từng hoạt động hoặc dự trù quy mô triển khai của hoạt động, chưa có sự chú ý đối với những hoạt động GDPTBM đặc thù dành cho nhóm đối tượng như người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ… Sau đó, Văn phòng điều phối dự án Renew tiếp tục phối hợp cùng với chính quyền ba tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn Huế thực hiện “Nghiên cứu về Nghề rà tìm và buôn bán phế liệu ở Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế”, nghiên cứu hoàn thành tháng 7/2008 [64]. Nghiên cứu tập trung vào việc nêu lên tác hại của bom mìn sau chiến tranh khi người dân thực hiện các hoạt động nguy hiểm như rà tìm, mua bán, vận chuyển phế liệu, trong đó có cả các loại bom mìn, vật nổ. Thông qua việc tiếp cận, phỏng vấn những người dân địa phương trực tiếp thực hiện những công việc nguy hiểm này, nghiên cứu đã chỉ ra một trong những nguyên nhân của việc gia tăng các vụ tai nạn bom mìn tại các địa phương là xuất phát từ khó khăn về kinh tế, buộc người dân phải tham gia các công việc nguy hiểm liên quan đến bom mìn. Ngoài ra, một phần nguyên nhân cũng thuộc về nhận thức còn thấp của người dân. Tuy nhiên, những biện pháp khắc phục tình trạng này của nghiên cứu đưa ra mới chỉ tập trung vào việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân hoặc các giải pháp về kinh tế, phát triển đời sống, tạo công ăn việc làm… chứ chưa có những hoạt động mang tính chất trợ giúp, hỗ trợ về mặt tâm lý cho họ hoặc trao truyền năng lực, kỹ năng cho người dân để họ có thể tự bảo vệ mình trước các hiểm họa hoặc tự vươn lên hòa nhập cuộc sống sau khi gặp tai nạn bom mìn… Một điểm đáng chú ý là những năm gần đây đã có các nghiên cứu khoa học là khóa luận tốt nghiệp cử nhân chuyên ngành CTXH của trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đã đề cập đến vấn đề này như: Khóa luận tốt nghiệp “CTXH với nạn nhân tai nạn bom mìn, vật liệu nổ tại huyện Triệu Phong, 13 tỉnh Quảng Trị” [31] của Hồ Sỹ Thái thực hiện tháng 5/2009, khóa luận “Vai trò của CTXH đối với nghề thu gom phế liệu chiến tranh (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị)” [14] của Trần Thanh Loan và khóa luận “Thực hành CTXH đối với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị)” [42] của Hồ Thanh Tuấn cùng thực hiện vào tháng 5/2011. Các nghiên cứu này bên cạnh việc điều tra, mô tả thực trạng bom mìn và tai nạn bom mìn tại các địa phương nghiên cứu, bước đầu cũng đã đưa ra một số hướng thực hành, can thiệp CTXH với nạn nhân bom mìn, chủ yếu là CTXH cá nhân với các thân chủ cụ thể nhằm giúp nạn nhân ổn định về tâm lý, khôi phục lại các chức năng xã hội đã bị giảm sút hoặc mất đi, hòa nhập với cuộc sống... Đây được xem là những hướng đi khá mới mẻ trong việc hỗ trợ nạn nhân bom mìn sau tai nạn, khác hẳn với các cách thức hỗ trợ truyền thống trước đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa đi sâu vào việc phân tích làm rõ vai trò của phương pháp CTXH đã áp dụng cũng như tiến trình thực hành CTXH cụ thể đối với các đối tượng. Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” hoàn toàn không phải là một “phát kiến”, một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu. Thế nhưng cái mới của luận văn chính là việc cùng một lúc lột tả hai vấn đề đó là thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn, công tác khắc phục hậu quả bom mìn, nạn nhân bom mìn và nhận thức của họ đối với vấn đề bom mìn như thế nào?; đồng thời đề xuất các hoạt động CTXH nhóm nhằm thông qua đó trị liệu về tâm lý cung cấp các kiến thức cơ bản về bom mìn, hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn bom mìn, tạo môi trường nhóm để các nạn nhân và gia đình có thể chia sẻ những vấn đề khó khăn gặp phải sau tai nạn, những mong muốn, nhu cầu hiện tại và hỗ trợ họ vươn lên trong cuộc sống. 14 Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu hậu quả tai nạn bom mìn đối với người dân địa phương, hướng họ đến một cuộc sống an toàn, tốt đẹp. 3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 3.1. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai trò, thuyết trao đổi xã hội… để xác định nhu cầu của nhóm; vị trí, vai trò của các nhóm viên. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn đề liên quan như CTXH, CTXH nhóm, nhu cầu, vai trò của nhóm xã hội… Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng bom mìn còn sót lại, nạn nhân bom mìn, tai nạn bom mìn sau chiến tranh tại địa phương. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân nhằm mục tiêu hỗ trợ về tâm lý và trao truyền cho họ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng để phòng tránh tai nạn lặp lại đối với bản thân, gia đình và cộng đồng. Đối với bản thân nhà nghiên cứu, qua quá trình tìm hiểu thực tế đã có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống. Từ đó, giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng vấn đề bom mìn, tai nạn bom mìn, nạn nhân bom mìn và mức độ nhận thức của các nạn nhân về vấn đề bom mìn sau chiến tranh tại huyện Triệu Phong từ đó đề xuất các hoạt động CTXH 15 nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm góp phần trị liệu về tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn cho nạn nhân. 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Làm rõ các khái niệm lý thuyết như bom mìn, nạn nhân bom mìn, CTXH, CTXH nhóm. Tìm hiểu, mô tả, phân tích thực trạng bom mìn, tai nạn bom mìn và các hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn sau chiến tranh đã được triển khai tại huyện Triệu Phong. Tìm hiểu, phân tích thực trạng nạn nhân và mức độ nhận thức của nạn nhân đối với vấn đề bom mìn sau chiến tranh. Đề xuất các hoạt động CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn nhằm hỗ trợ giải quyết những khó khăn về mặt tâm lý và nâng cao nhận thức về vấn đề bom mìn cho nạn nhân. 5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tƣợng nghiên cứu CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn. 5.2. Khách thể nghiên cứu Nạn nhân bom mìn: với cơ cấu sau Loại hình thương tật Số lượng (người) Cụt một hoặc hai Chấn thương chân 7 đa phần 64 Mất một, hai tay hoặc hỏng mắt 4 Gia đình nạn nhân bom mìn. Cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương. Cán bộ dự án Renew. 16 Chấn thương tâm lý 15
- Xem thêm -