Công tác quản lý tại công ty dệt vải cn hn hacatex

  • Số trang: 129 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24718 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, mọi doanh nghiệp phải hoàn toàn tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không còn cách nào khác phải biết đổi mới cho phù hợp từ việc nghiên cứu xem sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào đến việc tổ chức điều hành sản xuất ra sao để với chi phí thấp nhất sản xuất ra những sản phẩm đạt chất lƣợng đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng. Đứng trƣớc thực tế nhƣ vậy Hacatex cũng không ngừng vận động luôn bám sát để nắm bắt sự thay đổi của thị trƣờng, mạnh dạn áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất, tổ chức điều chỉnh lại cơ cấu lao động, tác phong làm việc công nghiệp trong công ty … Với mục tiêu chất lƣợng sản phẩm đặt lên hàng đầu, sản phẩm của HACATEX dù còn mới mẻ nhƣng đã nhanh chóng đƣợc thị trƣờng nội địa chấp nhận và trong tƣơng lai không xa sản phẩm của công ty sẽ vƣơn ra thị trƣờng khu vực và thế giới. Trong thời gian ngắn ngủi chỉ có 7 tuần thực tập tại Công ty nhƣng em đã thấy một không khí làm việc rất sôi nổi, nó giúp em hiểu đƣợc thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và của công ty nói riêng trong cơ chế thị trƣờng, giúp em so sánh, kiểm nghiệm và áp dụng những gì mình đã đƣợc lĩnh hội từ các thầy cô đến thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn các cô chú trong công ty nhất là các cô chú trong phòng Tổ chức hành chính đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Trần Mạnh Hùng - giảng viên khoa Kinh tế đã nhiệt tình hƣớng dẫn em, giúp em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 4 năm 2004 Sinh viên: Nguyễn Thị Huyền Dƣơng PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DỆT VẢI CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI Trang 1 I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty dệt vải công nghiệp Hà Nội. Năm 1967 trong giai đoạn Miền Bắc đang chịu ảnh hƣởng nặng nề bởi cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một nhà máy dệt chăn thuộc Liên hiệp dệt Nam Định đã sơ tán lên Hà Nội và tạo cơ sở xản xuất chăn chiên tại xã Vĩnh Tuy huyện Thanh Trì - Hà Nội. Bƣớc khởi đầu này nhà máy gặp không ít khó khăn nhƣ quy trình công nghệ thủ công lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ ngèo nàn, hơn nữa trƣớc kia nhà máy tận dụng nguồn nguyên liệu từ phế liệu bông sợi rối của Liên hiệp dệt Nam Định thì bây giờ để có nguyên liệu đảm bảo tiếp tục sản xuất nhà máy phải thu mua nguyên liệu từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ Dệt 8-3, Dệt Kim đông xuân…nhƣng nguồn nguyên liệu này cũng đƣợc cung cấp thất thƣờng không đều đặn. Chính vì vậy mà trong thời gian này nhà máy liên tục làm ăn thua lỗ và phải trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nƣớc. Cho đến năm 1970 trong công cuộc miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, dƣới sự giúp đỡ to lớn của nƣớc bạn Trung Quốc một dây chuyền sản xuất vải mành từ sợi bông để làm lốp xe đã đƣợc lắp đặt tại nhà máy, đến năm 1972 dây chuyền này chính thức đi vào hoạt động và sản xuất ổn định đã mở ra một trang sử mới, một hƣớng đi mới đầy triển vọng cho nhà máy. Sản phẩm của nhà máy cung cấp cho nhà máy cao su Sao Vàng để làm lốp xe đạp và cung cấp cho một số công ty thƣơng mại khác ở miền Bắc. Sản phẩm này đã mang lại lợi nhuận cho nhà máy và góp phần vào công cuộc xây dựng đất nƣớc. Để mở rộng sản xuất kinh doanh năm 1973 nhà máy lắp thêm dây chuyền sản xuất vải bạt để làm bạt, giầy vải… Trong cùng thời gian này nhà máy đã chuyển giao lại dây chuyền sản xuất chăn chiên cho Liên hiệp Dệt Nam Định sau đó đổi tên lại thành nhà máy Dệt vải công nghiệp Hà Nội. Với công nghệ mới và hƣớng đi đúng đắn đã giúp nhà máy từ chỗ làm ăn thua lỗ, quy mô nhỏ với tổng vốn đầu tƣ ban đầu chỉ 475.406VNĐ (thời giá năm 1968), số cán bộ công nhân viên chỉ 174 ngƣời trong đó Trang 2 có 144 công nhân trực tiếp sản xuất, đến năm 1988 -sau hơn 10 năm hoạt động tổng vốn đầu tƣ đă lên tới trên 5 tỷ VNĐ (thời giá năm 1968), tổng sản lƣợng đạt trên 10 tỷ VNĐ và số cán bộ công nhân viên lên tới 1.079 ngƣời trong đó có 986 công nhân trực tiếp sản xuất. Điều này chứng tỏ mặc dù trong cơ chế bao cấp sản xuất kinh doanh dƣới sự chỉ đạo của Nhà nƣớc nhƣng nhà máy đã không lệ thuộc mà luôn nỗ lực phấn đấu để ngày càng phát triển. Năm 1988 nhà máy đạt đỉnh cao về tiêu thụ sản phẩm, gồm có: 3,308 triệu m2 vải mành và 2,8 triệu m2 vải bạt các loại. Song song với việc sản xuất nhà máy tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng nhƣ: văn phòng, nhà xƣởng, kho bãi, khuôn viên trong nhà máy cùng với việc không ngừng đầu tƣ thêm máy móc thiết bị tạo điều kiện và môi trƣờng làm việc tốt hơn cho công nhân. Đây có thể coi là thời kỳ tăng trƣởng của nhà máy. Trƣớc thực trạng đất nƣớc vào giữa thập kỷ 1980 đầy những khó khăn gay gắt và phức tạp đã đặt ra một yêu cầu khách quan, bức xúc có ý nghĩa sống còn với nền kinh tế nƣớc nhà. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã có sự đổi mới về tƣ duy kinh tế, cụ thể là trong chỉ thị số 10 của Bộ Chính Trị đã nêu rõ: xoá bỏ cơ chế hành chính bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng nhiều thành phần, tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh dƣới sự quản lý của Nhà nƣớc. Vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 tình hình trên thế giới cũng hết sức phức tạp, sự khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và nhất là sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã đã ảnh hƣởng trực tiếp đến nền chính trị và kinh tế Việt Nam, các yếu tố đầu vào bị hạn chế nhƣ vốn, nguyên liệu…, các sản phẩm đầu ra bị thu hẹp thị trƣờng tiêu thụ truyền thống. Trƣớc những thực tế nhƣ vậy đã mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam không ít những cơ hội phát triển nhƣng cũng đầy những khó khăn và thử thách, nó đòi hỏi phải có sự thay đổi để thích ứng với một thời cuộc mới. Trong bối cảnh nhƣ vậy, để bóc tách khỏi sự bao cấp của Nhà nƣớc, tự chủ trong việc sản xuất và kinh doanh nhà máy đã đề ra hàng loạt các Trang 3 giải pháp nhƣ: tinh giản bộ máy, tổ chức sắp xếp lại cơ cấu lao động, thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, tìm tòi áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đầu tƣ trang thiết bị máy móc, nghiên cứu thị trƣờng, đa dạng hoá sản phẩm, tập chung vào những cái thị trƣờng cần để đáp ứng đƣợc mọi nhu cầu đa dạng của thị trƣờng…. Bằng tất cả những nỗ lực đó nhà máy đã hạn chế đƣợc những khó khăn và tận dụng đƣợc những cơ hội mới để phát triển. Với cơ chế kinh tế mới nhà máy đã dần dần khẳng định vị trí và vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nƣớc. Ngày28 tháng 8 năm 1994 để phù hợp với việc sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng, Bộ công nghiệp đã quyết định đổi tên Nhà máy Dệt vải công nghiệp Hà Nội thành Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội. Tên giao dịch của công ty là: HAICATEX viết tắt của: Ha noi Intrustrial Cavas Textile Company. Hiện nay Công ty Dệt vải Công nghiệp Hà Nội là một thành viên của Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam, vẫn thuộc loại hình Công ty Nhà nƣớc, hoạt động trong khuôn khổ Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc (trƣớc đây là Luật Công ty) và dƣới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng công ty. Tổng công ty tạo điều kiện cho công ty mở rộng thị trƣờng ra nƣớc ngoài về xuất khẩu sản phẩm và nhập khẩu nguyên vật liệu vì phần lớn nguyên liệu của Công ty phải nhập từ nƣớc ngoài. Tuy vậy, Công ty vẫn hoạt động theo cơ chế hạch toán độc lập và chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình không ngừng cải tiến về bộ máy quản lý cũng nhƣ công nghệ để nâng cao năng xuất sản xuất và chất lƣợng sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Cuối những năm 1990 mặt hàng vải bạt của Công ty đã bƣớc vào giai đoạn suy thoái và vải mành phải cạnh tranh khốc liệt với các sản phẩm ngoại nhập cả về chất lƣợng và giá cả. Đứng trƣớc thực trạng đó vào đầu những năm 2000, Công ty đã nghiên cứu và mạnh dạn đầu tƣ, thay thế Trang 4 hàng loạt các máy móc thiết bị mới. Cụ thể năm 2002 đã có ba dự án đi vào hoạt động: -Tháng 1/2002 đầu cuộn vải của dây chuyền nhúng keo đƣợc thay thế với tổng mức đầu tƣ trên 2 tỷ đồng và kết quả là chấm dứt đƣợc lỗi ngoại quan của vải mành nhúng keo nhƣ lồi, lõm bề mặt nhũn xốp, mặt bên không phẳng, giảm 99% lỗi loại B&C…. - Tháng 9/2002 Công ty đầu tƣ thêm hai máy xe ALLMASAURER của Cộng hoà liên bang Đức và một máy dệt mành PICANOL của Bỉ vào sản xuất với tổng vốn đầu tƣ 21.970.494.400 VNĐ. Dây chuyền này có năng suất tăng gấp từ 5 đến 7 lần so với dây chuyền cũ. - Và đặc biệt phải kể đến là dây chuyền sản xuất vải không dệt lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam, dây chuyền này đƣợc khởi công lắp đặt vào tháng 11/2001 và đến tháng 10/2002 đƣợc đƣa vào sản xuất để kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ đô. Tổng vốn đầu tƣ cho dây chuyền này lên tới 63.622.939.000VNĐ. Đây là dây chuyền khá hiện đại có mặt lần đầu tiên tại Việt Nam với quy trình sản xuất hoàn toàn tự động. Vải không dệt đƣợc sử dụng cho các ngành công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, đồ gia dụng (nhƣ làm thảm)…. Mặc dù mới đi vào sản xuất đƣợc hơn một năm nhƣng sản phẩm Vải không dệt đã trở thành ngành hàng chủ lực của Công ty. Quý IV/2002412.342 m2 thành phẩm đã đƣợc tiêu thụ và đem lại doanh thu là 2.908 triệu đồng, năm 2003 tiêu thụ đƣợc 4.960.000 m2 tƣơng ứng với 26.181 triệu đồng. Tuy nhiên đây là sản phẩm lần đầu tiên đƣợc sản xuất trong nƣớc, nguyên liệu hoàn toàn nhập ngoại nên cũng còn rất nhiều khó khăn trƣớc mắt đòi hỏi Công ty phải có một chiến lƣợc phù hợp để tìm đƣợc chỗ đứng trên thị trƣờng… Năm 2004 dự tính Công ty sẽ đầu tƣ thêm 4 máy dệt mành của Trung Quốc và thay thế bộ chỉnh tâm, miệng hút keo của máy nhúng keo… Sau gần 40 năm hình thành và phát triển Công ty Dệt vải Công nghiệp đă từng bƣớc khẳng định vị trí của mình trên thị trƣờng cũng nhƣ trong công cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nƣớc. Công ty đã không Trang 5 ngừng nâng cao chất lƣợng sản phẩm hạ giá thành để thay thế hàng ngoại nhập và ngày càng vƣơn xa hơn nữa ra thị trƣờng khu vực và thế giới. Bên cạnh đó công tác tổ chức luôn đƣợc đặc biệt quan tâm nhằm tạo lập tác phong công nghiệp cho ngƣời lao động hoàn thiện bộ máy quản lý gọn nhẹ cơ cấu sản xuất kinh doanh năng động, hiệu quả thích ứng cao hơn trong cơ chế thị trƣờng. Năm 2002 Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất lƣợng ISO 9001:2000. Vƣợt qua hàng ngàn những khó khăn và thử thách từ một nhà máy sản xuất lạc hậu với quy mô nhỏ tới nay sau gần 40 năm trƣởng thành Công ty đã có 9 chi nhánh giới thiệu sản phẩm trải rộng khắp ba miền đất nƣớc. Công ty cũng đã hai lần nhận đƣợc huân chƣơng lao động hạng II và hạng III của Nhà nƣớc trao tặng cùng nhiều danh hiệu cao quý tại các hội chợ, triển lãm trong nƣớc. Hàng năm công ty đã tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động dƣ thừa góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội .... Hiện nay Công ty gồm 4 xí nghiệp:  Xí nghiệp sản xuất vải bạt.  Xí nghiệp sản xuất vải mành.  Xí nghiệp sản xuất vải không dệt.  Xí nghiệp may. (Nhƣ đã nói ở trên sản phẩm vải bạt đã bƣớc vào giai đoạn suy thoái nên sớm muộn nó sẽ đƣợc thay thế bằng một mặt hàng khác) Tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty là 782 ngƣời (tính đến hết 31/12/2003) trong đó có 672 công nhân sản xuất. Lao động của công ty đa phần là lao động nữ chiếm khoảng 75%. Trình độ của ngƣời lao động đƣợc Công ty rất chú trọng: Trình độ ĐH và trên ĐH chiếm 6,5%; THCN& CĐ chiếm:6.79%; thợ bậc 6+7là:11,69%; thợ bậc 5 là:20,69%; thợ bậc 3+4là :17,29%. Tuy nhiên tỷ lệ này chƣa cao, Công ty cần phải chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. Đời sống vật chất cũng nhƣ tinh thần của ngƣời lao động ngày càng đƣợc quan tâm … Trang 6 Thành công của Haicatex đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển của ngành dệt may Việt Nam và trong sự nghiệp xây dựng đất nƣớc. II. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của HAICATEX : 1-Nhiệm vụ sản xuất sản phẩm của Công ty: Công ty chuyên sản xuất các loại vải công nghiệp phục vụ cho các ngành công nghiệp khác nhƣ giao thông, thuỷ lợi, sản xuất đồ dân dụng….Tuỳ vào tính năng của mỗi loại mà nó đáp ứng cho mỗi ngành nghề khác nhau. Công ty sản xuất 4 loại sản phẩm:  Vải Mành :Vải mành đƣợc sản xuất để cung cấp cho ngành công nghiệp làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp…Sản phẩm của Công ty đƣợc tiêu thụ bởi Công ty Cao su SaoVàng, Công ty Cao su Đà Nẵng…  Vải Bạt : Sản phẩm này đƣợc sử dụng làm bạt, bao tải hàng nhẹ, làm giầy vải trong quân đội, găng tay, quần áo bảo hộ lao động…  Vải Không Dệt: gồm Vải địa kỹ thuật và Vải lót giầy – Vải địa kỹ thuật đƣợc sử dụng để làm đƣờng chống lún, đê kè thuỷ lợi… --Vải lót giầy đƣợc cung cấp cho nhà sản xuất giầy, làm thảm, lót thành ô tô,…  Sản phẩm May: Ngoài các sản phẩm may mặc thông thƣờng Công ty thƣờng xuyên nhận các hợp đồng may quần áo bảo hộ cho các Công ty lớn nhƣ Dệt 8/3, Honda, Lilama…, hợp đồng may áo Jaket cho Hàn Quốc, Anh…Trong những năm gần đây sản phẩm của Công ty đã xâm nhập vào thị trƣờng Mỹ và EU với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng. Các sản phẩm của công ty đƣợc sản xuất chủ yếu từ sợi Nylon6.6.6, PA (sản xuất vải mành), xơ PES, PP (sản xuất vải không dệt),sợi Trang 7 Cotton,PC, PE (sản xuất vải bạt)…Các loại sợi này đƣợc nhập từ Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức……. Sử dụng nhiên liệu là điện và than. Hoá chất nhúng keo là VP latex, SBR latex và Resorcinol. Hiện là công ty duy nhất tại Việt Nam sản xuất các loại vải công nghiệp nên chiếm khá nhiều ƣu thế kinh doanh. Tuy nhiên sản phẩm của công ty vẫn bị canh tranh bởi một số hàng ngoại nhập cả về giá cả và chất lƣợng, một phần do máy móc thiết bị của ta chƣa sánh kịp một phần do nguyên vật liệu của ta phải nhập từ nƣớc ngoài nên giá cả sản phẩm còn cao.Trong thời gian tới công ty sẽ gặp không ít khó khăn khi Hiệp định cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA đƣợc áp dụng vào năm 2006 đối với các nƣớc ASEAN khi đó thuế nhập khẩu giảm xuống chỉ còn 0-5% và tiến tới Việt Nam ra nhập Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) vào năm 2005 sẽ mở ra không ít cơ hội nhƣng cũng đầy khó khăn và thách thức. Cùng với việc cố gắng hoàn thành tốt các mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình công ty cũng cố gắng hoàn thành tốt nhịệm vụ của mình đối với nhà nƣớc, dƣới đây là tình hình thực hiện nghĩa đóng góp vào Ngân sách nhà nƣớc(NSNN) của công ty trong ba năm gần đây: Chỉ tiêu 2001 2002 2003 02/01(%) 03/02(%) Nộp 11.715 12.89 23.8465 110.03 185 NSNN(tr.đ) Nhìn bảng trên ta thấy chỉ tiêu nộp NSNN của công ty tăng khá cao trong mấy năm vừa qua, nó thể hiện sự lỗ lực không ngừng của công ty. 2- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty: Haicatex bao gồm 4 xí nghiệp thành viên: 1. Xí nghiệp Bạt 2. Xí nghiệp Mành 3. Xí nghiệp Vải Không Dệt 4. Xí nghiệp May Trang 8 Tƣơng ứng sản xuất 4 loại sản phẩm mỗi sản phẩm có một quy trình sản xuất khác nhau, công nghệ sản xuất độc lập, mức độ phức tạp của mỗi quy trình phụ thuộc vào yêu cầu sản xuất của từng loại sản phẩm. * Quy trình sản xuất Vải Mành Nhúng Keo: Với nguyên liệu từ sợi PA, Nylon6.6.6 (hiện nay vẫn phải nhập từ nƣớc ngoài) trải qua ba công sản xuất chính: xe, dệt , nhúng keo ta có thành phẩm là: Vải mành 840D/1; 840D/2; 1260D/2 đƣợc sử dụng để làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp… * Quy tình sản xuất vải không dệt: Vải không dệt đƣợc sản xuất từ sơ PES, PP nhập từ nƣớc ngoài với các sản phẩm HD130, HD180, HD200,... đƣợc sử dụng trong giao thông, thuỷ lợi, đồ gia dụng,... Sản phẩm đƣợc sản xuất trên dây chuyền thiết bị hiện đại, tự động hoá từ khâu nguyên liệu đến khâu thành phẩm cuối cùng dây chuyền này đƣợc chuyển giao từ tập đoàn DILO-CHLB Đức( tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất vải không dệt theo công nghệ xuyên kim. Với công suất đạt khoảng 10.000.000 m2/năm sản phẩm của dây chuyền này đang là một trong các ngành hàng chủ lực của công ty. Sản phẩm này đã có mặt ở một số công trình tiêu biểu nhƣ: Đƣờng Cầu Rào -Đồ Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tp. Hồ Chí Minh.... * Quy trình sản xuất vải bạt: Vải bạt đƣợc sử dụng làm giầy vải, bao tải, bảo hộ,... đƣợoc chế xuất từ sợi cotton, PC, PE sản phẩm có các loại vải Bạt3x3, Bạt 178, Bạt 3419. Hiện nay quy mô của dây chuyền này đang đƣợc công ty thu nhỏ lại vì chu kỳ sống của sản phẩm này đã bƣớc vào giai đoạn suy thoái. * Quy trình sản xuất sản phẩm may: Đây là ngành hàng còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm, không đồng bộ nên quy mô còn nhỏ chƣa cạnh tranh đƣowcj với thị trƣờng trong nƣơc . Tuy nhiên trong hai năm vừa qua sản phẩm của công ty đã xuất khẩu sang thị trƣờng Mỹ và Châu Âu với tổng sản lƣợng tăng đáng kể cụ thể năm 2003 tăng 210% so với 20002 và dự kiến năm 2004 sẽ tăng 130% so với 2003. Các quy trình sản xuất đƣợc mô tả nhƣ sau: Trang 9 Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Vải Mành Nhúng Keo Sợi dọc Sợi ngang Sợi đơn Sợi đơn Xe lần 1 Kiểm tra Chỉnh sửa Lỗi Xe lần 2 Đạt Đạt Kiểm tra Chỉnh sửa Lỗi Xe suốt Sâu go Đạt Dệt vải mành Nhúng keo Nhập kho Đạt Kiểm tra vải Lỗi Đóng gói, nhập Quy Trình Công Nghệphẩm Sản Xuất Vải Bạt kho thành Trang 10 Sợi Sợi ngang Đậu sợi Suốt ngang Xe suốt Đánh ống Lờ , dồn Go Dệt Hoàn thiện Đóng kiện Nhập kho Quy trình sản xuất vải không dệt Xơ P.P, P.E Trang 11 Quy trình công nghệ may Nguyên liệu ( Vải) Giáp mẫu , cắt Kiểm tra Chỉnh sửa Vắt sổ May Hoàn thiện (khuy cúc ) Là Lỗi Đạt Kiểm tra Chỉnh sửa Đóng gói Nhập khosản phẩm của Haicatex: III. Đánh gía công nghệ sản xuất 1. Một số lý luận chung về công nghệ sản xuất sản phẩm: Trang 12 Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất hoặc thông tin. Công nghệ gồm hai phần: Phần cứng : Bao gồm máy móc thiết bị cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ còn đƣợc gọi là phần vật chất. Phần mềm: hay còn gọi là phần phi vật chất bao gồm những kỹ năng , kỹ xảo, kiến thức quản lý điều hành, phƣơng pháp sản xuất bí quyết kỹ thuật. Với định nghĩa nhƣ trên thì công ghhệ bao gồm:  Trang thiết bị (Technoware)  Kỹ năng (Humanware)  Thông tin (Infoware)  Tổ chức (Organware) Trên đây là quan niệm về công nghệ của tổ chức kinh tế xã hội Thái Bình DƣơngESCAP. Theo tổ chức UNCTAD thì một số hoạt động sau đây cũng thuộc phạm trù công nghệ: 1-Nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trƣờng trƣớc khi đầu tƣ. Đây là việc làm quan trọng vì nó giúp cho nhà đầu tƣ biết đƣợc liệu có khả năng đầu tƣ vào thị trƣờng đó không ? Thị trƣờng đó có đặc điểm gì? Sản phẩm của công nghệ có đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng không ? Môi trƣờng đầu tƣ thế nào?...Tất cả những hoạt động này sẽ hạn chế rủi ro trong quyết định đầu tƣ. 2-Thu thập thông tin về một số kỹ thuật sẵn có và sẽ có trong tƣơng lai gần. Trên cơ sở đó nhà đầu tƣ phải tìm hiểu, lựa chọn kỹ thuật thuộc công nghệ nào cho phù hợp với dự định phát triển sản xuất hàng hoá của mình. Những thông tin kỹ thuật này còn là tiền đề quan trọng cho sự lựa chọn đúng đắn chiến lƣợc kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp. 3-Thiết kế kỹ thuật là làm cho máy móc thiết bị kỹ thuật sẵn có phù hợp với quy trình công nghệ, phù hợp với đăc điểm điêù kiện tự nhiên tạinơi xây dựng nhà máy. 4-Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị. Trên cơ sở các thiết kế sẵn có tiến hành xây dựng và lắp đặt trang thiét bị nhƣ : xây dựng nhà xƣởng, hệ thông giao thông, thoát nƣớc lắp đặt máy móc thiết bị chính, phụ trợ, hệ thống điệ cấp nƣớc,…. Trang 13 5-Phát triển công nhân tức là tri thức về bản thân quá trình vận hành sản xuất bao gồm quản lý điều hành, đào tạo công nhân kỹ thuật, bồi dƣỡng kỹ năng, kỹ xảo, thông tin về thị trƣờng liên quan đến sản phẩm, năng lực cải tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất và hiệu quả sử dụng bí quyết kỹ thuật. Công nghệ không phải là khái niệm bất biến, mà nó luôn lôn biến đỏi sao cho phù hợp và thích ứng với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong một giai đoạn cụ thể. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật nhƣ hiện nay công nghệ rất nhanh chóng bị lạc hậu bởi công nghệ mới tiên tiến không ngừng xuất hiện. Nắm rõ quy luật này Công ty dệt vải công nghiệp Hà Nội đã không ngừng đầu tƣ đổi mới trang thiết bị, đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực, cập nhật thông tin để có sự thay đổi linh hoạt và đặc biệt là cách thức tổ chức quản lý khoa học… Điều này đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ sau:  Trang thiết bị: Hội nhập kinh tế vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Để cạnh tranh đƣợc với hàng ngoại nhập, khẳng định vị trí của mình ở thị trƣờng trong nƣớc và có cơ hội nắm bắt thị trƣờng nƣớc ngoài, công ty đã đầu tƣ hàng loạt máy móc thiết bị mới.Nổi bật nhất là năm 2002 có nhiều dự án đầu tƣ đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tƣ hàng trăm tỷ đồng nhƣ: Thay thế bộ Loadcell đo lực căng mới của Đức, bộ tín hiệu cũ của Trung Quốc đƣợc thay thế bằng bộ khuyếch đại kỹ thuật số đảm bảo các thông số đo lực căng của vải ổn định, cải tạo hệ thống lò dầu, hai máy xe sợi của tập đoàn ALLMA SAURER- CHLB Đức và Một máy dệt cao tốc PICANOL của Bỉ có công suất tăng từ 5 đến 7 lần so với máy cũ của Trung Quốc góp phần nâng cao năng xuất và chất lƣợng sản phẩm, tạo khả năng sản xuất thên nhièu mặt hàng mới mang tính chiến lƣợc nhƣ: vải lốp xe máy, ô tô tải nặng 1260D/2; 1260D/3; 1890D/2... Thị phần vải mành của công ty ngày càng cao có mặt tại các công ty Cao su lớn trên khắp đất nƣớc nhƣ Công ty Cao su Sao Vàng; Cao su Đà Nẵng; Cao su Miền Nam và một số công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣ: Công ty Shinfa,Công ty Thời ích và Fungkeong của Malaysia... Đặc biệt là dây chuyền sản xuất Vải không dệt có vốn đầu tƣ là 63.622.939.000 VNĐ, đây là dây chuyền hiện có duy nhất tại Việt Nam. Quy Trang 14 trình sản xuất hoàn toàn tự động, tuy mới đi vào sản xuất nhƣng đã đem lại doanh thu khá cao cho công ty... Vải mành và Vải không dệt tuy có ƣu thế là đơn vị duy nhất ở Việt Nam sản xuất hai mặt hàng này, đƣợc đằu tƣ trang thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại nhƣng còn gặp nhiều trở ngại nhƣ: chịu áp lực của hàng ngoại nhập với giá thành hạ, sự biến động của giá dầu mỏ trên thế giới và việc cắt giảm sản lƣợng lắp giáp xe máy dẫn đến giảm sản lƣợng tiêu thụ lốp xe... Tuy nhiên cũng có những dấu hiệu đáng mừng cho sản phẩm vải địa kỹ thuật vì hệ thống giao thông phát triển trên khắp đất nứơc từ nông thôn đến thành thị, hệ thống đê kè thuỷ lợi cũng ngày đƣợc quan tâm áp dụng những kỹ thuật cao... Đứng trƣớc thực tế đó công ty đã không ngừng tìm hiểu xu thế của thị trƣờng để nắm bắt thông tin, khảo sát tìm nguồn nguyên liệu tốt để hạ giá thành sản phẩm, nghiên cứu thị hiếu của khách hàng để đƣa ra các sản phẩm mới phù hợp hơn... Song song với việc nâng cao hiệu quả của công tác sau đầu tƣ, công tác tổ chức cũng luôn đƣợc công ty quan tâm, đổi mới.  Công tác tổ chức: để thích ứng cao hơn với cơ chế thị trƣờng và để phù hợp với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật công ty đã luôn cố gắng để hoàn thiện cơ cấu lao động của mình nhƣ: - Tinh gỉam lao động, xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả - Phân công lao động hợp lý đúng ngƣời đúng việc. - Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên nhƣ: Nhân viên văn phòng không dƣới trình độ Trung cấp; Công nhân trực tiếp sản xuất phải có tay nghề trình độ nhất định và say mê công việc; Nhân viên kỹ thuật phải có tay mghề cao đƣợc đào tạo từ những trƣờng CĐ, ĐH có chất lƣợng.Thực tế trong những năm gần đây cán bộ kỹ thuật của công ty đƣợc tuyển dụng từ các trƣờng ĐH Bách Khoa, CĐ KT KT CNI,.... - Tuyển dụng khi thật cần thiết, tránh tình trạng thân quen kém chất lƣợng vì điều này ảnh hƣởng đến chất lƣợng công việc. - Thƣờng xuyên bồi dƣỡng, đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân để họ nắm bắt kịp thời tình hình phát triển của khoa học kỹ thuật, nghiêm khắc loại bỏ những lao động kém hiệu quả ra khỏi chuyền. Trang 15 - Xây dựng tác phong công nghiệp cho ngƣời lao động, nghiêm khắc loại bỏ những lao động kém hiệu quả ra khỏi chuyền. - Có chế độ khen thƣởng kỷ luật rõ ràng, quan tâm hợp lý đến bản thân và gia đình ngƣời lao động để khuyến khích họ hăng say làm việc. Luôn luôn tạo cơ hội cho họ phát huy hết khả năng của mình ............. Mặc dù có nhiều cố gắng để kiện toàn bộ máy cuả mình song nói chung tỷ lệ CĐ, ĐH của công ty còn thấp chiếm dƣới 10%, nên cần có biện pháp điều chỉnh thiết thực hơn nữa. Công ty cần thừơng xuyên có sự hợp tác, trao đổi thông tin với ngƣời lao động để phát huy sự sáng tạo và khả năng tiềm ẩn trong mỗi ngƣời. Quan tâm hơn nữa đến đời sống ngƣời lao động.  Thông tin (Infowave): Thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Thông tin là căn cứ để tiến hành xây dựng chiến lƣợc của doanh nghiệp. Trong quá trình xác định các chỉ tiêu chiến lƣợc, cần thiết tiến hành các tính toán dựa trên những thông tin xác thực về số lƣợng sức lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tƣ , tiền vốn ...và sự kết hợp tối ƣu giữa sức sản xuất với tƣ liệu sản xuất, để làm ra sản phẩm lớn nhất bằng chi phí nhỏ nhất. Xác định đƣợc vai trò đó công ty đã luôn bám sát thị trƣờng mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu và sàng lọc xử lý thông tin về máy móc thiết bị, phƣơng pháp sản xuất và về cả khách hàng ... từ đó sẽ giảm thiểu các rủi ro khi đƣa ra quyết định sản xuất kinh doanh. Ví dụ nhƣ Vải không dệt hiện là một sản phẩm mới của công ty và cũng là sản phẩm lần đầu tiên đƣợc sản xuất trong nƣớc, để sản phẩm của mình có thể thay thế hàng ngoại nhập thì công ty đã phải thu thập thông tin về thị trƣờng, phân tích, xử lý để đƣa ra chính sách về chất lƣợng và giá cả hợp lý .... đó cũng là một phần công nghệ Nhƣ đã nói ở trên công nghệ luôn phát triển cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên trình độ phát triển của nó trong từng ngành lại có sự khác nhau, vì mỗi ngành lại bị chi phối bởi môi trƣờng kinh doanh khác nhau nên lại có chỉ tiêu đánh giá riêng. Mỗi công nghệ sản xuất sản xuất sản phẩm lại có sự đánh giá khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất, đặc thù của từng sản phẩm. Trang 16 IV- Cơ cấu sản xuất của công ty: Là một đơn vị sản xuất kinh doanh nên bộ phận sản xuất trong công ty đƣợc chia làm ba phận chủ yếu: Bộ phận sản xuất chính; Bộ phận sản xuất phụ và Bộ phận phụ trợ. Các bộ phận tác động qua lại hỗ trợ cho nhau thành một hệ thống không thể tách rời.  Bộ phận sản xuất chính: Bộ phận sản xuất chính bao gồm các phân xƣởng trực tiếp sản xuất - Phân xƣởng sợi: Có nhiệm vụ kéo sợi để cung cấp cho các phân xƣởng dệt. - Phân xƣởng dệt: Có nhiệm vụ dệt thành các mảnh vải theo mẫu mã kích thƣớc của phòng kỹ thuật đƣa xuống. - Phân xƣởng nhúng keo:Có nhiệm vụ đƣa những mảnh vải đã đƣợc dệt xong nhúng vào dung dịch keo và đƣa vào nhập kho. - Phân xƣởng may: Có nhiệm vụ may các sản phẩm theo mẫu mã kích thƣớc của phòng kỹ thuật đƣa xuống. - Phân xƣởng vải không dệt: có nhiệm vụ sản xuất ra những tấm vải không dệt theo kích thƣớc, mẫu mã và đóng gói theo quy định.  Bộ phận sản xuất phụ: -Phân xƣởng chuẩn bị: Có nhiệm vụ chuẩn bị nguyên liệu cho phân xƣởng dệt.  Bộ phận phụ trợ: - Trạm điện: Cung cấp điện năng cho sản xuất và sửa chữa máy móc bị hỏng. - Xƣởng cơ khí: Có nhiệm vụ sửa chữa các máy móc thiết bị khi có sự cố và trong điều kiện cho phép chế tạo ra các phụ tùng thay thế cho máy móc thiết bị của công ty. Trang 17 Mặt Bằng Sản Xuất Của Công Ty Phòng Bảo Vệ Nhà kho P. B. V Gian hàng giới thiệu sản phẩm Nhà xe Xí nghiệp Mành- Nhúng Keo Phân xƣởng Mành PC CC Xí nghiệp Bạt Nhà ăn công ty Xí nghiệp May Phân xƣởng II Nhà kho Công ty Trang 18 Xí nghiệp Mành Nhúng Keo V. Bộ máy tổ chức quản lý của công ty Dệt Vải Công Nghiệp Hà Nội: 1. Các cấp quản lý của công ty: Bộ máy quản lý của công ty đƣợc tổ chức thành hai cấp quản lý với mô hình trực tuyến chức năng. Đi kèm với với mỗi cấp quản lý là các phòng ban chức năng tham mƣu cho mỗi cấp, cụ thể nhƣ sau:  Cấp I: Cấp công ty: Bao gồm Giám đốc công ty, hai phó giám đốc công ty cùng các phòng ban chức năng trợ giúp giám đốc. Các phòng ban chức năng kiểm tra và đƣa ra các thông tin của toàn công ty về lĩnh vực mà mình theo dõi để báo cáo giám đốc. Giám đốc tên cơ sở những thông tin thu thập đƣợc hoặc trức tiếp hoặc gián tiếp sẽ đƣa ra các quyết định. Các phòng ban gồm có: - Phòng Tài chính - Kế toán - Phòng Tổ chức - Hành chính - Phòng Sản xuất - Kinh doanh - Phòng Kỹ thuật - Đầu tƣ - Phòng Bảo vệ quân sự - Phòng dịch vụ đời sống Trang 19  Cấp xí nghiệp : Công ty gồm có bốn xí nghiệp thành viên: - Xí nghiệp Mành- Nhúng keo - Xí nghiệp Bạt - Xí nghiệp Vải không dệt - Xí nghiệp May Mỗi xí nghiệp đều có các giám đốc và phó giám đốc thực hiện chức năng quản lý và chức năng kỹ thuật đảm bảo sản xuất ổn định. Nhìn tổng quát cấp xí nghiệp gồm có: Phòng quản lý; Phòng kỹ thuật và Các tổ sản xuất. 2. Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận quản lý trong công ty: Trong công ty tuỳ theo trách nhiệm và lĩnh vực cụ thể mà các thành viện trong ban giám đốc, các phòng ban chức năng, cũng nhƣ giám đốc các xí nghiệp có chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhƣng lại phối hợp chặt chẽ vơí nhau để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty đƣợc nhịp nhàng ăn khớp.  Giám đốc công ty là ngƣời nắm quyền hành cao nhất và chịu trách nhiệm giám sát, điều hành mọi hoạt động của công ty, đồng thời chịu trách nhiệm trƣớc cấp trên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.  Phó giám đốc có nhiệm vụ cố vấn trợ giúp cho giám đốc công ty trong công tác chỉ huy và điều hành các hoạt động của công ty, cụ thể nhƣ sau: *Phó giám đốc Kỹ thuật sản xuất: Là ngƣời chỉ đạo trực tiếp các công tác kỹ thuật nhƣ: công nghệ sản xuất sản phẩm, máy móc thiết bị, kiểm tra chất lƣợng nguyên, nhiên vật liệu đầu vào , chất lƣợng sản phẩm đầu ra. Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất phụ trách các phòng: Sản xuất-Kinh doanh-Xuất nhập khẩu; Phòng Kế toán- Tài chính; Phòng Kỹ thuật- Đầu tƣ. * Phó giám đốc tổ chức hành chính: Là ngƣời chỉ đạo trực tiếp các công việc về tổ chức hành chính nhƣ tuyển dụng, đào tạo lao động, chănm lo đời sống cán bộ công nhân viên và phụ trách các phòng: Tổ chức hành chính; Phòng Bảo vệ; Phòng Dịch vụ đời sống.  Phòng Kỹ thuật- Đầu tƣ: Hƣớng dẫn tổ chức và giám sát thực hiện các quy trình công nghệ. Lập kế hoạch sửa chữa bảo dƣỡng máy móc thiết bị toàn công ty. Lập các dự án về đầu tƣ mở rộng quy mô sản xuất và đầu tƣ đổi mới công nghệ. Trang 20
- Xem thêm -