Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 51 |
  • Lượt tải: 2
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------ NGUYỄN VĂN KIÊN CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------ NGUYỄN VĂN KIÊN CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học Mã số: 60 31 02 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Viết Ngoạn Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Viết Ngoạn. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với các công trình khác. Tác giả luận văn Nguyễn Văn Kiên MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài .................................................................. 1 1.1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 1 1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................. 3 1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ............................................................ 3 1.4. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................. 4 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................... 4 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 6 4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 6 5. Cấu trúc của luận văn ............................................................................ 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƢ TƢỞNG ............................................................................... 7 1.1. Các khái niệm cơ bản về công tác giáo dục chính trị tư tưởng ............. 7 1.1.1. Khái niệm về chính trị ........................................................................... 7 1.1.2. Khái niệm về tư tưởng ........................................................................... 9 1.2. Nội dung công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ................................... 11 Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƢ TƢỞNG CHO SINH VIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ...... 15 2.1. Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh ................................................ 15 2.2. Thực trạng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ................................................................... 16 2.2.1. Nội dung và hình thức công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh ............................................................. 16 2.2.2. Những kết quả đạt được ....................................................................... 23 2.2.3. Những tồn tại, hạn chế ......................................................................... 34 2.2.4. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế yếu kém ..................... 38 Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƢ TƢỞNG CHO SINH VIÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ....................................... 48 3.1. Những vấn đề đặt ra đối với công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay........................................ 48 3.1.1. Những vấn đề chung của đất nước ...................................................... 48 3.1.2. Những vấn đề riêng của Thành phố..................................................... 49 3.2. Giải pháp: ............................................................................................. 50 3.2.1. Tạo lập một môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh ............................ 50 3.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, đặc biệt là cấp ủy Đảng ..................................................................................................... 51 3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên làm công tác giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đảm bảo các điều kiện vật chất cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng....... 52 3.2.4. Từng bước đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy học các môn khoa học Mác - Lênin và phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên hiện nay. .................................................................................... 53 3.2.5. Tăng cường vai trò của phòng Công tác chính trị, Đoàn Thanh niên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên .... 54 3.3. Một số kiến nghị .................................................................................. 55 3.3.1. Đối với Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ...................................................... 55 3.3.2. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo ......................................................... 56 3.3.3. Đối với Đảng ủy, Ban Giám hiệu các trường đại học, cao đẳng ......... 57 3.3.4. Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị, tư tưởng ............................................................................................ 57 3.3.5. Đối với Phòng công tác chính trị, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên... 59 3.3.6. Đối với sinh viên.................................................................................. 59 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 61 DANH MỤC BẢNG BIỂU Biểu đồ 1. Biểu đồ tỉ lệ sinh viên quan tâm tới Đảng ................................. 21 Biểu đồ 2. Tỉ lệ sinh viên quan tâm tới đường lối cải cách kinh tế ........... 21 Biểu đồ 3. Trình độ chuyên môn của giảng viên giảng chính trị ............... 24 Biểu đồ 4. Thời gian tham gia giảng dạy lý luận chính trị ........................ 25 Biểu đồ 5. Đánh giá về nội dung chương trình đào tạo ............................. 27 Biểu đồ 6. Phương pháp giáo dục lý luận chính trị hiệu quả ...................... 29 Biểu đồ 7. Hình thức đánh giá kết quả học tập lý luận chính trị ............... 30 Biểu đồ 8. Kết quả học tập trung bình các môn lý luận chính trị ............... 33 Biểu đồ 9. Khả năng sử dụng kỹ thuật trong giảng dạy của giảng viên ..... 37 MỞ ĐẦU 1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài 1.1. Lý do chọn đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời cho đến nay luôn giữ vai trò là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta đã giành được những thắng lợi vẻ vang, mở ra một thời đại phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử của dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh; mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã khẳng định “ Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam” [12, tr. 23]. Đảng ta đã nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng. Đường lối đó đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân bằng công tác giáo dục chính trị tư tưởng do Đảng tiến hành để giáo dục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao ý thức chính trị, giác ngộ cách mạng cho nhân dân, trong đó có học sinh sinh viên. Giáo dục chính trị, tư tưởng là một phần rất quan trọng trong việc đào tạo những thế hệ cách mạng, nhất là đối với những học sinh sinh viên. Bên cạnh việc trau dồi những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, họ cần phải có được sự kiên định, vững chắc về lý tưởng cách mạng, về Đảng Cộng sản. Qua đó tránh được những sự lệch chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam - những “người chủ tương lai của nước nhà” [26, tr. 182]. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng để từ đó nhằm nâng cao ý thức công dân, tinh thần yêu nước trong thế hệ trẻ Việt Nam mà nòng cốt là những học sinh, sinh viên đang ngồi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Từ đó 1 sẽ tạo được lòng tin vào Đảng Cộng sản, vào cách mạng Việt Nam, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến đổi. Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã, đang và sẽ tạo ra nhiều thời cơ, thách thức cho tất cả các quốc gia dân tộc. Đi theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, hay thay đổi thể chế theo vòng xoáy của kinh tế thị trường, giao lưu trao đổi văn hóa. Thêm vào đó, các thế lực thù địch trong và ngoài nước cũng luôn tìm cách nhòm ngó, can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc, trong đó Việt Nam là một tâm điểm. Đây thực sự là một vấn đề lớn, đã tác động không nhỏ tới một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, trong đó có học sinh sinh viên. Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố lớn, trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của cả nước. Nơi đây tập chung rất nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất: khu chế xuất Linh Trung, Tân Thuận, khu công nghiệp Vĩnh Lộc, Tân Bình, Lê Minh Xuân, khu Công nghệ cao...vv. Cùng với đó là một bộ phận lớn dân lao động nhập cư ở các tỉnh thành đất nước đến làm việc và sinh sống. Bên cạnh đó, nơi đây còn là nơi có nhiều trường đại học, cao đẳng với hàng ngàn sinh viên tới từ khắp các vùng miền trong cả nước. Điều này tạo ra rất nhiều thuận lợi cũng như những áp lực cho sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục của Thành phố. Trong những năm qua, tình hình an ninh chính trị của Thành phố rất phức tạp với những chiêu thức rất tinh vi. Các hoạt động tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực phản động trong và ngoài nước tập trung khá nhiều, điển hình như: vụ Thích Quảng Độ và Thích Không Tánh kích động người dân gây rối (tháng 8 năm 2007); tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đỗ Công Thành xúi giục (tháng 10 năm 2007), tuyên tuyền kích động học sinh sinh viên thành phố 2 phản đối Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông (năm 2011), và đặc biệt là vụ Nguyễn Phương Uyên - sinh viên Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phồ Hồ Chí Minh rải truyền đơn tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam (tháng 10 năm 2012)... Đối tượng mà các phần tử phản động, chống phá cách mạng Việt Nam nhắm tới, bên cạnh những cán bộ đảng viên thoái hóa biến chất, suy đồi về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống còn là những bộ phận học sinh sinh viên có lập trường chính trị tư tưởng chưa rõ ràng, có niềm tin cách mạng chưa vững chắc để thực hiện những mưu đồ chính trị ảo tưởng do chúng vạch ra. Chính vì vậy mà công tác giáo dục chính trị tư tưởng nơi đây phải được tiến hành một cách chặt chẽ, có hệ thống nhằm từng bước hạn chế và khắc phục tình trạng một bộ phận sinh viên lung lay trước những âm mưu của các thế lực thù địch. Vì những lí do trên, tác giả đã chọn việc nghiên cứu “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” nhằm làm rõ thực trạng vấn đề này, qua đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên Thành phố nói riêng, sinh viên cả nước nói chung. 1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cở sở đó để nghiên cứu, đề xuất và kiến nghị những biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. 1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Làm rõ cơ sở lý luận công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. Làm rõ thực trạng và phân tích những nguyên nhân, hạn chế của công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 3 1.4. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học: Luận văn này góp phần làm sáng tỏ lý luận cơ bản của công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi đối tượng nói chung và sinh viên nói riêng, cũng như đề ra được những giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Qua đây góp phần cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước trong nhân dân, nhất là đội ngũ sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa thực tiễn: Nội dung nghiên cứu và những giải pháp, kiến nghị được đề ra trong luận văn này là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu những công trình tiếp theo về lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng. Đồng thời nó cũng giúp cho những người làm công tác giáo dục chính trị tư tưởng có được cái nhìn thực tiễn hơn, sâu sắc hơn về thực tại chính trị tư tưởng của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan đến vấn đề chính trị tư tưởng, đã có một số nhà khoa học nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau. Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu đã in thành sách và đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “ Giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay” của tác giả Nghiêm Đình Vỳ, Nxb. Đại học Sư phạm, 2009; “ Giáo dục truyền thống của Đảng cho thế hệ trẻ hôm nay” của Trần Viết Lưu, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013; “ Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay” của Phạm Đình Nghiệp, Nxb. Thanh niên, 2004; “Giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay theo Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Hoàng Đình Tỉnh - tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2009; “Đại thắng mùa xuân 1975 với 4 công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho giới trẻ ngày nay” của tác giả Phạm Hồng Quang - báo Thanh niên, số 15, trang 2-3 (ngày 24/4/2013); “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ đảng viên cơ sở ” do Vũ Ngọc Am chủ biên, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003; “Kinh nghiệm công tác giáo dục chính trị tư tưởng của công đoàn cơ sở” của tác giả Sương Chi, Nxb. Lao động, 1995. Những công trình trên, các tác giả đã phần nào làm rõ vấn đề giáo dục chính trị tư tưởng cho thanh niên, đảng viên và công đoàn viên. Đây là những cơ sở rất quan trọng giúp tác giả thực hiện luận văn này. Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên, có các công trình: “ Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Thị Anh Đào, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội 2010; “ Giáo dục với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên” của Hoàng Anh, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2010; “ Giáo dục ý thức chính trị cho sinh viên trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế” của Nguyễn Lương Bằng - tạp chí Lý luận chính trị, số 12/2008; “Đổi mới cần thiết thực, hiệu quả công tác chính trị tư tưởng trong các trường đại học, cao đẳng” của tác giả Dương Văn Hoài - báo Sài Gòn giải phóng, tr. 3 (12/6/1998). Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên nói chung. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập tới vấn đề giáo dục chính trị tư tưởng cho cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, luận văn này trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo những thành tựu của các công trình khoa học đi trước để từng bước làm rõ thực trạng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cũng như đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 5 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể nghiên cứu: những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi không gian: các trường đại học, cao đẳng công lập trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Đại học Sài Gòn, Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Lý Tự Trọng, Cao đẳng Thủ Đức, Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh). Phạm vi thời gian: từ năm 2010 - nay. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: dựa trên cơ sở lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác giáo dục chính trị tư tưởng hiện nay. Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn, những phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp mô tả và giải thích; phương pháp định tính, định lượng; phương pháp khảo sát thực tế, phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp quy nạp và diễn dịch... 5. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Chương 2: Thực trạng công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƢ TƢỞNG 1.1. Các khái niệm cơ bản về công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng Để hiểu rõ khái niệm, nội dung của công tác giáo dục chính trị tư tưởng cần làm rõ một số khái niệm như chính trị, tư tưởng và một số vấn đề có liên quan đến chính trị, tư tưởng. 1.1.1. Khái niệm về chính trị Trong Từ điển Triết học giản yếu của Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp xuất bản năm 1987, cho rằng: chính trị là lĩnh vực hoạt động gắn liền với mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và tập đoàn xã hội khác nhau, mà hạt nhân là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Từ điển Tiếng việt của Trung tâm Từ điển học Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1994, cho rằng: chính trị là những vấn đề thuộc về tổ chức điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và mối quan hệ quốc tế về mặt nhà nước giữa các nước với nhau… Những quan niệm trên đã nêu lên bản chất chính trị là tính giai cấp, mối quan hệ và mục tiêu của các giai cấp, các lực lượng chính trị trong việc giành quyền điều khiển nhà nước. Để đánh giá sự tiến bộ của xã hội thông qua việc thực hiện dân chủ mà dân chủ cao nhất, đầy đủ nhất, triệt để nhất là quyền làm chủ của nhân dân đối vói nhà nước. V.I.Lênin cho rằng, chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước; “… chính trị phải là việc của nhân dân, việc của giai cấp vô sản” [46, tr. 482]. Khi xem xét nguồn gốc, bản chất chính trị về mặt lợi ích, V.I.Lênin lại cho rằng: chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Khi tiếp cận chính trị với tư cách hình thức hoạt động nhằm duy trì quyền lực chính trị có thể thấy: chính trị là những hoạt động tổ chức, điều hành, 7 quan hệ của bộ máy của đảng, của nhà nước. Vì vậy chính trị có thể hiểu là những hoạt động của một số cá nhân, một giai cấp, một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước, giành quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị được thể hiện bằng việc tổ chức ra nhà nước để thống trị xã hội theo quan điểm của một giai cấp nhất định, nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp, mà quyền lợi đó biểu hiện tập trung đầy đủ nhất là lợi ích kinh tế. Tùy theo tính chất, đặc điểm và sự tiến bộ của giai cấp thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng mà nền dân chủ được thực hiện sâu sắc và triệt để đến mức độ như thế nào đối với toàn xã hội. Mức độ và sự tiến bộ đó thể hiện bằng sự tham gia của quần chúng nhân dân vào việc thực thi quyền lực của nhà nước, giành quyền lực chính trị. Mặt khác khi tiếp cận chính trị với tư cách là những hoạt động giành và giữ chính quyền, hoạt động chính trị có những dạng sau: hoạt động của một tổ chức, một đảng của giai cấp nhằm hình thành quan điểm, đường lối để giành và giữ chính quyền; những hoạt động tổ chức thực hiện - hiện thực hóa quan điểm đường lối; những hoạt động nhằm nâng cao tính tự giác của quần chúng để nhận thức đường lối, quan điểm của Đảng. Như vậy, có thể thấy, chính trị là vấn đề đa dạng, phức tạp, nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực nghiên cứu, xem xét và sử dụng theo mục đích, yêu cầu riêng của từng môn khoa học. Song, điều quan trọng của tất cả những vấn đề liên quan đến chính trị, thực hiện được mục đích của chính trị, tức là giành được quyền lực chính trị của giai cấp này hoặc giai cấp khác đối với toàn bộ xã hội. Từ đó, có thể hiểu chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồng xã hội trong vấn đề chính quyền nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là tổng hợp những phương thức, phương 8 pháp, những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái để giành, giữ và điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình. Để đạt được mục đích đó đòi hỏi các giai cấp phải tiến hành công tác giáo dục nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng nhận thức đầy đủ về mục đích, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, từ đó, tổ chức quần chúng thực hiện đường lối và những nhiệm vụ nhất định theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Điều đó có nghĩa là làm cho hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, nhằm duy trì và bảo vệ chế độ kinh tế hiện đang tồn tại. Hoặc ngược lại, nó hướng dẫn cuộc đấu tranh để xóa bỏ cái trật tự thống trị xã hội đang có nhưng đã lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của lịch sử và cùng với nó là xóa bỏ tình trạng kinh tế tương ứng nhằm giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp. Qua thực tiễn của Việt Nam, ở đây tác giả tiếp cận đến chính trị với tư cách là những hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động - nhằm giác ngộ, nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân, trong đó sinh viên là lực lượng quan trọng của cách mạng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 1.1.2. Khái niệm về tư tưởng Cho đến nay, đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm tư tưởng. Từ điển Triết học giản yếu năm 1987 định nghĩa: tư tưởng là hình thức phản ánh thế giới bên ngoài, trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng của việc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài…Mọi tư tưởng đều được rút ra từ kinh nghiệm. Chúng là sự phản ánh đúng đắn hay phản ánh xuyên tạc hiện thực. Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1994 cho rằng: tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan, đối với xã hội (nói tổng quát), do đó có tư tưởng tiến bộ, tư tưởng lạc hậu. 9 Trong đề tài cấp Nhà nước KHXH - 05 - 02 cho rằng: tư tưởng theo nghĩa chung nhất là một hình thức tồn tại của ý thức xã hội được hình thành một cách bền vững, sâu sắc trong tâm trí con người, có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ, hướng dẫn hành động của con người trong một thời gian tương đối dài. Tư tưởng hướng hành động tới đích đã vạch ra. Tư tưởng theo nghĩa hẹp là một hình thái cụ thể của ý thức xã hội, ý thức cá nhân con người, phản ánh tính chất phong phú, đa dạng trong ý thức và hướng hành động của con người. Nói đến tư tưởng có thể là tư tưởng chung của cộng đồng, của một giai cấp hay một bộ phận nhỏ của giai cấp. Nhưng tư tưởng cũng có thể là tư tưởng của cá nhân con người. Như vậy, những luận điểm trên cho thấy tính đa dạng, đa diện của tư tưởng, nhưng cái chung nhất của tư tưởng là sự phản ánh khái quát hiện thực khách quan trong ý thức, biểu hiện những lợi ích của con người, của giai cấp và của xã hội. Đó là ý thức phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng khái quát, phản ánh lợi ích của một con người, một tập đoàn, một giai cấp, một dân tộc, một thời đại nhất định. Sự phản ánh đó có thể đúng và chưa đúng, thậm chí có thể sai. Vì vậy, có tư tưởng tiến bộ thúc đẩy sự phát triển xã hội; có tư tưởng lạc hậu và cả tư tưởng phản động, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Do đó, trong xã hội có giai cấp luôn có sự đấu tranh giữa các giai cấp về mặt tư tưởng để truyền bá tư tưởng của giai cấp mình nhằm mục đích tập hợp quần chúng, giác ngộ họ theo quan điểm tư tưởng của giai cấp mình, tạo nên sức mạnh hành động, giành thắng lợi trong đấu tranh giai cấp. Ph. Ănghen đã nhận xét “…tất cả mọi cuộc đấu tranh trong lịch sử - kể nó diễn ra trên địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay trên bất kỳ một địa hạt tư tưởng nào khác - thực ra chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội…” [5, tr. 373 - 374]. Nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực chính trị tư tưởng chủ yếu là cuộc đấu tranh giữa 10 hai ý thức hệ tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp thống trị và hệ tư tưởng của giai cấp bị thống trị. Vậy, hệ tư tưởng là quá trình phát triển của tư tưởng xã hội được các nhà tư tưởng của giai cấp khái quát hóa, hệ thống hóa tư tưởng của giai cấp mình thành lý luận và các học thuyết chính trị - xã hội, là cơ sở để vạch ra cương lĩnh, đường lối cũng như các chủ trương, chính sách của các giai cấp; đồng thời, nó còn là vũ khí lý luận sắc bén để đấu tranh để chống lại hệ tư tưởng của giai cấp đối lập. Ph Ăngghen cho rằng: hệ tương tưởng là một quá trình do con người mệnh danh là nhà tư tưởng đã hoàn thành một cách có ý thức. Khi nói đến tư tưởng, có thể có tư tưởng của một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp… nhưng khi nói đến hệ tư tưởng thì bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định (hệ tư tưởng phong kiến, hệ tư tưởng tư sản, hệ tư tưởng vô sản…). Trong đó mỗi cá nhân con người trong mỗi thời đại nhất định có một bộ phận tự nhận thức, nhưng phần lớn do giáo dục, truyền bá, phổ biến của chủ thể hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng trong xã hội có giai cấp phản ánh lợi ích của các giai cấp thông qua đội ngũ các nhà tư tưởng của giai cấp, nhưng hệ tư tưởng có tính độc lập tương đối. Hệ tư tưởng tiến bộ, hệ tư tưởng khoa học có tác dụng chỉ ra con đường phát triển của thời đại của một giai cấp, một dân tộc…và ngược lại, hệ tư tưởng lạc hậu, phản động, ngụy biện, phản khoa học sẽ cản trở sự phát triển của lịch sử, của thời đại cũng như của mỗi dân tộc. 1.2. Nội dung công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng Giáo dục chính trị tư tưởng là một yếu tố hợp thành quan trọng trong nền giáo dục đại học nước ta. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực đến việc định hướng các giá trị của sinh viên cũng có không ít các hiệu ứng tiêu cực. Để có được những thế hệ sinh 11 viên với nhân cách phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc tùy thuộc phần lớn vào chất lượng giáo dục, đào tạo. Coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, trong đó giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục lý luận Mác - Lênin được coi là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cốt lõi của nội dung giáo dục, bởi chính những tri thức này sẽ góp phần hình thành trong sinh viên một thế giới quan khoa học đúng đắn, một nhân sinh quan tích cực, một đạo đức cách mạng trong sáng. Chính trị, tư tưởng thuộc hình thái ý thức xã hội, “ là toàn bộ các quan điểm về chế độ xã hội, về quan hệ giai cấp, đảng phái và quan hệ dân tộc, về vấn đề nhà nước theo lợi ích của một giai cấp nhất định. Nó là sự phản ánh quyền lợi giai cấp và các phương thức hoạt động xã hội để bảo về quyền lợi của giai cấp ấy” [20, tr. 17]. Bản chất của công tác giáo dục chính trị tư tưởng là “ quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của một đảng, một giai cấp, một tổ chức vào quần chúng, nhằm giác ngộ nâng cao nhận thức tư tưởng của họ về quan điểm, đường lối chính trị, để quy tụ, tập hợp quần chúng tham gia vào quá trình đấu tranh cách mạng giành và bảo vệ, thực thi quyền lực chính trị, đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích. Những lợi ích đó có thể là lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế…trong đó, lợi ích kinh tế là mục đích sâu xa nhất, cốt lõi nhất, phản ánh quan hệ đấu tranh giữa các giai cấp, nhưng lại được thể hiện ở mục tiêu trực tiếp trước mắt là lợi ích chính trị” [2, tr. 18]. Mục đích cơ bản của công tác giáo dục chính trị tư tưởng mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là “ truyền bá, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần làm cho nó trở thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội…từ đó khắc phục những tư tưởng lạc hậu, nâng cao nhận thức chính trị. Đồng thời nhằm giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm cho họ ngày càng nắm chắc và biết vận dụng vào thực tế cuộc sống, thực hiện thắng lợi 12 đường lối, nhiệm vụ chính trị; cổ vũ động viên khơi dậy nhiệt tình cách mạng, tinh thần tự giác và tính tích cực trong quá trình cách mạng cải tạo, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa” [2, tr. 23 - 24]. Đảng ta khẳng định “chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Ở những bước ngoặt của cách mạng, trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Đảng kịp thời có định hướng chính trị tư tưởng đúng đắn, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, chống những luận điệu thù địch, tạo cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng trong toàn Đảng và trong nhân dân” [11, tr.136]. Theo cách tiếp cận như trên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng bao hàm 3 yếu tố hợp thành sau: Chủ thể giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên là đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học. Đây là những người góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên. Trí thức khoa học Mác - Lênin ngoài những phẩm chất cần có của một người thầy giáo như có năng lực chuyên môn, tư duy sáng tạo, tâm huyết với nghề, giàu lòng yêu nước, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội… thì phẩm chất quan trọng nhất của người thầy giảng dạy khoa học Mác - Lênin cần có đó là sự thống nhất cao giữa nhà giáo dục, nhà khoa học và nhà chính trị. Họ là những người hoạt động trực tiếp trên mặt trận chính trị tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, hun đúc và hướng dẫn việc thực hiện công tác chính trị tư tưởng trong toàn thể giáo viên và sinh viên nơi họ tham gia giảng dạy. Chính họ là những người giúp sinh viên đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng cho mình thế giới quan duy vật biện chứng, một nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa. Nội dung giáo dục chính trị tư tưởng: đây là quá trình giáo dục truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan 13
- Xem thêm -